RonRolheiser,OMI

Liều lĩnh với lòng thương xót của Thiên Chúa

Không lâu sau khi chịu chức, tôi đi giúp xứ và ở đây tôi gặp một linh mục già thánh thiện. Cha đã hơn 80 tuổi và gần như mù, nhưng được giáo dân tôn trọng và tìm gặp, nhất là để xưng tội. Một tối nọ, khi chỉ còn hai cha con với nhau, tôi hỏi cha: “Nếu cha được làm lại đời linh mục từ đầu, việc gì cha sẽ làm khác đi?” Tôi tưởng một người liêm chính toàn vẹn như cha sẽ nói mình không có gì phải hối tiếc. Nhưng câu trả lời của cha làm tôi ngạc nhiên. Cha bảo cha có một hối tiếc, một hối tiếc rất lớn: “Nếu được sống lại đời linh mục từ đầu, cha sẽ nhẹ nhàng với mọi người. Cha sẽ không hà tiện lòng thương xót Chúa, hà tiện các bí tích và hà tiện tha thứ. Con biết đó, thời còn tập sinh, câu nằm lòng của cha là ‘Sự thật sẽ giải phóng anh em’ và cha nghĩ nhiệm vụ của cha là thách thức mọi người bảo vệ điều này. Làm thế là tốt, nhưng cha sợ cha đã quá cứng rắn với mọi người. Không cần cha và Giáo hội đặt thêm gánh nặng, họ đã có đủ đau đớn rồi. Đáng ra cha phải liều lĩnh hơn với lòng thương xót Chúa!”

Tôi kinh ngạc trước câu trả lời của cha, vì mới chưa đầy một năm trước, trong phần thi vấn đáp cuối khóa ở chủng viện, một linh mục đã cảnh báo tôi: “Hãy cẩn thận, đừng bao giờ để cảm giác của con cản đường sự thật, và nên nhớ quá mềm mỏng là sai trái. Nhớ nhé, dù có gay go, nhưng chỉ có sự thật mới giải phóng chúng ta!”. Đó có vẻ là lời khuyên chí lý cho một linh mục trẻ mới bắt đầu làm quen với mục vụ.

Tuy nhiên, cứ hàng năm trôi qua, tôi lại ngả dần theo lời khuyên của linh mục già ngày xưa. Chúng ta cần liều lĩnh hơn với lòng thương xót Chúa. Dĩ nhiên phải công nhận không bao giờ được bỏ qua tầm quan trọng của sự thật, nhưng chúng ta phải liều để cho lòng thương xót vô hạn, vô điều kiện của Thiên Chúa tuôn chảy tự do. Lòng thương xót Chúa phải sẵn sàng như vòi nước, phải như lời tiên tri I-saia, phải hoàn toàn nhưng không. “Đến cả đi, hỡi những người đang khát, nước đã sẵn đây! Dầu không có tiền bạc, cứ đến mua mà dùng; đến mua rượu mua sữa, không phải trả đồng nào!”

Vậy điều gì ngăn cản chúng ta? Tại sao chúng ta quá ngập ngừng trong việc công bố lòng thương xót không phân biệt, dồi dào đến phung phí và vô cùng vô tận của Thiên Chúa?

Một phần là vì những động cơ tốt, thậm chí là cao thượng. Chúng ta có quan tâm rất hợp lý cho những điều quan trọng như sự thật, công lý, luân lý, tính chính thống, chuẩn bị đón nhận bí tích cho hợp lệ, sợ tai tiếng, và lo cho cộng đoàn giáo hội bị hấp thụ và mang lấy những tác động của tội lỗi. Tình yêu luôn cần được được thôi thúc bởi sự thật, dù sự thật phải được làm dịu đi bởi tình yêu. Tuy nhiên, đôi khi động cơ của chúng ta thiếu cao thượng, chúng ta lưỡng lự và nhút nhát, sợ hãi, ghen tương và vị luật – cũng như sự tự thị của những người pharisiêu hay nỗi ghen tức trong lòng người anh của đứa em hoang đàng. Có chúng ta canh gác thì không có ân sủng nhưng không!

Tuy nhiên, khi làm như vậy, chúng ta đã sai lầm, lại càng không phải là mục tử tốt, lạc điệu với Thiên Chúa của những điều Chúa Giêsu rao giảng. Lòng thương xót Chúa như Chúa Giêsu mạc khải thì ôm lấy tất cả, không phân biệt, cả người xấu lẫn người tốt, người xứng đáng lẫn người không xứng đáng, người hiểu cũng như không hiểu. Một trong những thấu suốt làm giật mình mà Chúa Giêsu ban cho chúng ta, đó là lòng thương xót Chúa không thể không đến với tất cả mọi người, vì nó luôn nhưng không, không cần phải xứng đáng, không cần điều kiện, ôm lấy tất cả, vượt xa mọi tôn giáo, phong tục, lễ điển, quy cách hành xử, chương trình bắt buộc, ý thức hệ và thậm chí là vượt trên cả tội.

Và như vậy, về phần chúng ta, đặc biệt là bậc cha mẹ, mục tử, giáo viên, giáo lý viên, và những người lớn tuổi, chúng ta phải liều mình công bố đặc tính quảng đại đến phung phí của lòng thương xót Chúa. Chúng ta không được phân phát lòng thương xót Chúa như thể đó là của riêng chúng ta, chúng ta muốn chi dùng thế nào tùy, chúng ta không được phân phát nhỏ giọt sự tha thứ của Chúa như một loại hàng có giới hạn, không được đặt điều kiện về tình yêu của Chúa như thể Ngài là nhà độc tài hẹp hòi hay có một ý thức hệ chính trị, chúng ta không được chặn đường đến với Thiên Chúa như thể mình là người giữ cửa thiên đàng. Vì chúng ta đâu phải là người làm những chuyện này! Nếu chúng ta xem lòng thương xót Chúa theo kiểu đánh giá của mình, thì chúng ta đang liên kết những giới hạn, tổn thương và thiên kiến của mình với lòng thương xót của Thiên Chúa.

Một chuyện đáng chú ý trong các phúc âm là các tông đồ, dĩ nhiên vì thiện ý nhưng lại thường ngăn cản một số người đến gần Chúa Giêsu, như thể họ không xứng đáng, như thể họ làm sỉ nhục cho sự thánh thiện và tinh tuyền của Chúa. Các tông đồ đã nhiều lần đuổi trẻ con, cô gái điếm, người thu thuế, người có tội rành rành và những người vô tri đủ loại, nhưng Chúa Giêsu luôn gạt đi hành động của họ bằng những lời: “Hãy để họ đến! Ta muốn họ đến với Ta”.

Cho đến ngày nay, mọi chuyện vẫn không thay đổi. Trong Giáo hội, chúng ta, những người có ý định tốt, với động cơ giống các tông đồ, luôn cố giữ một số cá nhân và một nhóm người nào đó xa khỏi lòng thương xót Chúa qua lời Chúa, bí tích và cộng đoàn. Thiên Chúa không cần (và không muốn) chúng ta bảo vệ. Chúa Giêsu muốn tất cả mọi loại người đến với Ngài, và Ngài muốn họ đến với Ngài ngay. Thiên Chúa muốn tất cả mọi người đến với dòng nước vô hạn của lòng thương xót Ngài, bất chấp luân lý, tính chính thống, sự thiếu chuẩn bị, tuổi tác hay văn hóa của họ.

Mừng 50 năm linh mục

Năm mươi năm trước, vào một ngày mùa thu giá lạnh, ở phòng học thể dục của một trường trung học, tôi được chịu chức linh mục. Ngoài bầu trời xám xịt, sự kiện hôm đó còn có một điều đặc biệt. Đây là khoảng thời gian khá mong manh với tôi và gia đình tôi. Cha mẹ tôi nối tiếp nhau qua đời (khi tuổi chưa cao) trong vòng một năm rưỡi trước ngày này, và chúng tôi đều đang rất mong manh. Trong bối cảnh đó, tôi được thụ phong linh mục.

Trong vài lời ngắn ngủi của một bài viết ngắn, tôi muốn nói điều gì nhất nhân kỷ niệm 50 năm ngày trọng đại đó? Tôi sẽ mượn câu của tiểu thuyết gia Morris West, ông đã mở đầu tiểu sử của mình như sau: Khi đến tuổi 75, trong từ vựng của bạn chỉ nên còn ba chữ này: cám ơn, cám ơn và cám ơn! Tôi vừa bước sang tuổi 75, và nhìn lại 50 năm linh mục, nhiều suy nghĩ và cảm giác bỗng hiện lên trong đầu, xét cho cùng, cuộc sống có những thời của nó. Tuy nhiên, cảm xúc lấn át tất cả chính là lòng biết ơn, cám ơn, cám ơn và cám ơn! Tạ ơn Thiên Chúa, biết ơn ân sủng, hội thánh, gia đình, dòng Hiến sĩ, những người bạn đã yêu thương và nâng đỡ tôi, những ngôi trường tuyệt vời tôi đã dạy, và hàng ngàn người tôi đã gặp trong 50 năm mục vụ.

Tiếng gọi ban đầu của tôi với chức linh mục và dòng Hiến sĩ không phải êm đẹp nên thơ cho lắm. Tôi không bước vào đời sống tu trì và chủng viện vì tôi thấy được cuốn hút. Ngược lại thì đúng hơn. Đó không phải là cái tôi đã muốn. Nhưng tôi cảm nhận mình được kêu gọi, mạnh mẽ và rõ ràng, và ở tuổi 17 còn non nớt, tôi đã quyết định đi tu. Ngày nay, nhiều người sẽ chất vấn về sự khôn ngoan và tính tự do của một quyết định lớn như thế ở tuổi 17, nhưng nhìn lại biết bao nhiêu năm sau ngày hôm đó, tôi có thể thành thật nói, đó là quyết định rõ ràng nhất, thuần túy nhất và quên mình nhất mà tôi đã có trong đời. Tôi không hối tiếc gì. Tôi lựa chọn cuộc sống này chỉ vì một tiếng gọi mạnh mẽ mà ban đầu tôi đã cố cự lại, và cho đến giờ, nó là lựa chọn đem lại sự sống nhất mà tôi có thể làm. Với ý thức hiểu mình và hiểu những vết thương của mình, tôi cũng hiểu, nếu sống theo những kiểu sống khác, tôi sẽ không thể nào mang lại thành quả hay sống hạnh phúc được gần như thế. Tôi đã nuôi dưỡng một vài vết thương sâu sắc, không phải về tinh thần mà là vết thương trong lòng, và những vết thương đó, nhờ ơn Chúa, đã thành nguồn hoa trái trong việc mục vụ của tôi.

Hơn nữa, tôi rất may mắn trong những việc mục vụ tôi được giao cho. Thời chủng sinh, tôi mơ làm linh mục quản xứ, nhưng chưa bao giờ được thế. Vừa chịu chức xong, tôi liền được cử đi học cao học rồi dạy thần học ở nhiều chủng viện và trường thần học trong gần 50 năm, trừ 12 năm tôi làm giám tỉnh cộng đoàn Hiến sĩ và tham gia Tổng công hội Hiến sĩ ở Rôma. Tôi mê giảng dạy! Tôi được định để làm giảng viên tôn giáo và nhà văn tôn giáo, và việc mục vụ của tôi đã làm tôi rất mãn nguyện. Tôi hy vọng nó sẽ đem lại ích lợi cho người khác.

Ngoài ra, tôi còn rất may mắn có những cộng đoàn Hiến sĩ mà tôi đã ở. Việc mục vụ của tôi thường giúp tôi sống trong những cộng đoàn lớn và qua 50 năm, tôi ước tính mình đã sống trong một cộng đoàn với hơn 300 người khác nhau. Đấy đúng là một kinh nghiệm phong phú. Hơn nữa, tôi luôn sống trong những cộng đoàn lành mạnh, hăng hái, quan tâm, nâng đỡ và thách thức về trí tuệ, từ đó cho tôi một gia đình nhân văn và thiêng liêng mà tôi cần. Nhiều lúc có những căng thẳng, nhưng căng thẳng đó luôn giúp đem lại sự sống. Cộng đoàn tu là điều độc nhất vô nhị. Nó không phải là gia đình theo ý thức tình cảm hay tâm sinh dục, nhưng nó là gia đình bén rễ trong một việc còn sâu đậm hơn sinh học và luật hấp dẫn – đó chính là đức tin.

Dĩ nhiên, có những đấu tranh, bao gồm cả những vấn đề tình cảm trong đời sống độc thân và sống trong cô đơn mà (như lời Merton) chính Chúa cũng lên án. Không tốt khi con người ở một mình! Chính ở điểm này, cộng đoàn Hiến sĩ đã là mỏ neo cho tôi. Có thể sống được lời khấn độc thân khiết tịnh và sinh hoa trái, nhưng nếu không có sự nâng đỡ của cộng đoàn thì không thể.

Xin cho tôi kết lại với một câu mà tôi đã nghe từ một cha mừng sinh nhật 85 và ngọc khánh linh mục. Khi được hỏi cha cảm thấy thế nào, cha bảo: “Không phải luôn dễ dàng! Luôn có những thời điểm cay đắng, cô đơn. Mọi người trong lớp của tôi đều đã từ bỏ chức linh mục, tất cả, và tôi cũng bị cám dỗ làm thế. Nhưng tôi đã ở lại, và giờ nhìn lại sáu mươi năm qua, tôi rất hạnh phúc với cuộc đời mình”.

Đấy cũng là tổng kết cảm giác của tôi sau 50 năm, – tôi rất hạnh phúc với cuộc đời mình – và vô cùng biết ơn.

Làm sao cầu nguyện khi chúng ta không có hứng

Nếu chỉ cầu nguyện khi có hứng, thì chúng ta không cầu nguyện nhiều.

Nhiệt tâm, thích thú và sốt mến sẽ không duy trì đời sống cầu nguyện được lâu, thiện chí và ý chí bền vững mới bền. Lòng và trí chúng ta là những con ngựa hoang phức tạp và lộn xộn, chồm lên theo hứng, và cầu nguyện không thường xuyên nằm trong dự định. Thánh Gioan Thánh Giá, nhà thần nghiệm, dạy chúng ta, sau thời gian đầu cầu nguyện sốt mến, chúng ta sẽ trải qua những năm tháng phải vật lộn, khi đó việc cầu nguyện rời rạc, buồn chán và dễ xao lãng. Vậy nên, vấn đề là làm sao chúng ta cầu nguyện lúc mệt mỏi, xao lãng, buồn chán, thiếu hứng thú, và đang lo với hàng ngàn chuyện khác. Làm sao chúng ta cầu nguyện khi trong lòng chúng ta chẳng muốn cầu nguyện? Nhất là làm sao chúng ta cầu nguyện khi cực kỳ chán cầu nguyện?

Các tu sĩ có những bí quyết đáng để chúng ta học hỏi. Bí quyết đầu tiên là nghi thức, trọng tâm nuôi dưỡng đời sống cầu nguyện. Các tu sĩ cầu nguyện nhiều và thường xuyên, nhưng họ không bao giờ cố nuôi dưỡng đời sống cầu nguyện dựa trên cảm xúc. Họ nuôi dưỡng đời sống cầu nguyện bằng nghi thức. Các tu sĩ cầu nguyện chung bảy hay tám lần mỗi ngày, theo nghi thức. Họ quay quần trong nhà nguyện và đọc kinh phụng vụ (Kinh sáng, Kinh sách, Kinh giờ ba, Kinh giờ chín, Kinh chiều, Kinh tối, Kinh kết) hoặc cùng nhau cử hành thánh lễ. Không phải lúc nào họ cũng tham dự vì thấy thích, họ tham gia vì họ được kêu gọi, và rồi với lòng trí nhiều lúc thiếu sôt sắng, nhưng họ cầu nguyện bằng những phần sâu thẳm nhất, bằng quyết tâm và ý chí.

Trong luật thánh Bênêđictô viết cho đời sống tu sĩ có một câu thường được trích dẫn. Ngài viết, đời sống tu sĩ là theo quy tắc của tiếng chuông tu viện. Khi tiếng chuông tu viện cất lên, người tu sĩ bỏ ngang bất kỳ việc gì mình đang làm và đến bất kỳ nơi nào mà tiếng chuông đó triệu tập, không phải vì muốn mà vì đó là thời điểm, một thời điểm không phải của mình mà là của Chúa. Đó là một bí mật đầy giá trị, nhất là khi áp dụng cho việc cầu nguyện. Chúng ta cần cầu nguyện thường xuyên, không phải vì chúng ta muốn, mà vì đó là thời điểm để cầu nguyện, và khi không thể cầu nguyện với hết tâm trí, chúng ta vẫn có thể cầu nguyện bằng ý chí và thể xác.

Phải, bằng thể xác! Chúng ta hay quên rằng mình không phải là thiên thần không thể xác, chỉ có tâm trí. Không, chúng ta có cả thể xác nữa. Do đó, khi lòng trí khó khăn cầu nguyện, chúng ta vẫn có thể cầu nguyện bằng thể xác. Từ xưa đến nay, chúng ta đã cố làm việc này bằng cử chỉ và điệu bộ thể xác (làm dấu thánh giá, quỳ gối, đưa tay lên, chắp tay lại, quỳ một gối, nằm sấp) và chúng ta đừng bao giờ xem nhẹ hay hạ thấp tầm quan trọng của các cử chỉ. Nói đơn giản, khi không thể cầu nguyện bằng những cách khác, chúng ta vẫn có thể cầu nguyện bằng thể xác. (Mà ai dám nói một cử chỉ cầu nguyện chân thành thì thấp kém hơn động tác cầu nguyện của tâm trí?) Cá nhân tôi rất thích một cử chỉ, là hành động cúi đầu chạm đất của người hồi giáo khi họ cầu nguyện. Làm như thế là làm cho cơ thể mình thưa với Chúa: “Dù cho lòng trí con có thế nào, con quy phục sự toàn năng, thánh thiện và yêu thương của Ngài”. Dù là cầu nguyện chiêm niệm một mình, tôi vẫn thường kết lại bằng cử chỉ này.

Đôi khi, các ngòi bút thiêng liêng, các nhà phụng vụ học và giáo lý, lại phụ lòng chúng ta khi không nói rõ rằng cầu nguyện có nhiều giai đoạn – và trong đó, sự nhiệt tâm, sốt mến chỉ là một giai đoạn và là giai đoạn ban đầu. Như những tiến sĩ và nhà thần nghiệm thường dạy, cầu nguyện cũng như tình yêu, phải đi qua ba giai đoạn. Trước hết là lửa mến, rồi đến sự khô khan và chán ngán, cuối cùng là sự thanh thản, ý thức mình đang về nhà khi mà lời cầu nguyện không dựa vào hăng hái hay sốt mến mà dựa vào cam kết với giây phút hiện tại, bất chấp cảm giác như thế nào.

Dietrich Bonhoeffer, mục sư thần học gia người Đức, từng nói câu này khi chủ trì hôn lễ cho một cặp vợ chồng: Hôm nay, anh chị tràn đầy tình yêu và tin rằng tình yêu sẽ duy trì hôn nhân của mình. Không đâu. Hãy để hôn nhân (vốn có những nghi thức) duy trì tình yêu của anh chị. Chúng ta cũng có thể nói như thế về cầu nguyện. Lửa mến và nhiệt tâm sẽ không duy trì lời cầu nguyện, nhưng nghi thức thì có. Khi chúng ta khó khăn cầu nguyện với tâm trí, chúng ta vẫn luôn có thể cầu nguyện bằng ý chí và thể xác. Thể hiện bên ngoài có thể đủ cho cầu nguyện.

Trong quyển sách mới đây của mình, Chị Wendy yêu quý (Dearest Sister Wendy), tác giả Robert Ellsberg đã trích một câu của ông Michael Leach nói về kinh nghiệm của ông khi chăm sóc lâu dài cho người vợ bị Alzheimer: “Phải lòng ai đó là phần dễ nhất, học cách yêu là phần khó, và sống trong tình yêu là phần tối tối hậu”. Việc cầu nguyện cũng như nhế.

Viết cáo phó cho mình

Sẽ đến thời chúng ta không còn viết sơ yếu lý lịch nhưng bắt đầu viết cáo phó cho mình. Tôi không chắc ai là người nói câu đó đầu tiên, nhưng nó hàm chứa một khôn ngoan.

Sơ yếu lý lịch và cáo phó khác nhau ở điểm nào? Sơ yếu nói lên những thành tựu của bạn, cáo phó thể hiện cách bạn muốn được tưởng nhớ và những điều tốt lành nuôi dưỡng nào bạn muốn để lại. Nhưng chính xác làm thế nào để viết được cáo phó sao cho nó đừng chỉ là một phiên bản kiểu khác của lý lịch? Tôi xin đưa ra gợi ý thế này.

Trong do thái giáo, có truyền thống là hằng năm, một người trưởng thành phải đưa ra một di chúc tâm linh. Ban đầu, nó là kiểu di chúc thông thường, tập trung vào việc mai táng, phân chia tài sản, cách xử lý những việc còn dang dở trong đời mình về mặt pháp lý và thực tế. Tuy nhiên, qua thời gian, nó biến đổi thành dạng di chúc tập trung hơn vào việc xem lại đời mình, nêu bật những gì quý báu nhất đời, những hối hận và xin lỗi thật tâm, những lời chúc phúc cho những người mà mình muốn có lời từ biệt thật đặc biệt. Di nguyện này được xem lại và viết lại hàng năm, cuối cùng là được đọc to trong tang lễ như là lời cuối cùng chúng ta muốn để lại cho người thân yêu.

Đây có lẽ là một việc làm rất hữu ích cho chúng ta, trừ việc di chúc này không phải viết ra để đưa cho luật sư, nhưng trong tinh thần cầu nguyện, gửi gắm cho một linh hướng, một cha giải tội đang giúp chúng ta. Vậy di chúc tâm linh này nói đến những chuyện gì?

Nếu bạn đang cần những ví dụ, thì tôi xin đưa ra tác phẩm và những bài viết của Richard Groves, đồng sáng lập Trung tâm Nghệ thuật Thiêng liêng của Đời sống. Trong hơn 30 năm ông làm việc trong lĩnh vực tâm linh cuối đời và cho chúng ta một vài hướng dẫn rất hữu ích về việc lập một di chúc tâm linh và đều đặn làm mới nó. Di chúc tâm linh tập trung vào ba điểm này.

Thứ nhất: Trong cuộc đời, Thiên Chúa muốn tôi làm gì? Tôi đã làm chưa? Tất cả chúng ta đều có một vài ý thức về ơn gọi, ý thức mình có một mục đích khi tồn tại trên đời, ý thức mình đã được giao nhiệm vụ để hoàn thành trong đời. Có lẽ chúng ta chỉ nhận thức thoáng qua về nó, nhưng với một mức độ nào đó, mỗi một chúng ta đều ý thức về một bổn phận và mục đích nào đó. Việc đầu tiên trong di chúc tâm linh là cố nắm bắt điều này. Thiên Chúa muốn tôi làm gì trong cuộc đời? Tôi đã làm tốt hay tệ việc đó?

Thứ hai: Tôi cần phải nói lời xin lỗi với ai? Tôi có những điều gì hối tiếc? Cũng như người khác đã làm tổn thương ta, thì chúng ta cũng có thể làm tổn thương người khác. Trừ phi chết trẻ, tất cả chúng ta đều từng mắc sai lầm, từng làm tổn thương người khác và làm những việc mà mình hối tiếc. Một di chúc tâm linh là xác định việc này với một lòng thành thật tận cùng và hối hận sâu sắc. Chúng ta không bao giờ có tấm lòng cao cả, cao thượng, sùng tín và xứng đáng được tôn trọng hơn, khi chúng ta quỳ gối chân thành nhận ra điểm yếu của mình, xin lỗi và hỏi xem chúng ta cần làm gì để sửa chữa.

Thứ ba: Trước khi qua đời, tôi muốn chúc phúc và trao lại món quà nuôi dưỡng cụ thể cho ai? Chúng ta được gần giống Thiên Chúa (truyền năng lượng thần thiêng vào cuộc đời) những khi chúng ta ái mộ người khác, tán thành người khác, cho họ những gì chúng ta có thể làm để giúp cuộc đời họ tốt hơn. Nhiệm vụ của chúng ta là làm việc này cho tất cả mọi người, nhưng chúng ta đâu thể làm cho tất cả, nên chúng ta làm cho một số người, và là những người cụ thể. Trong di chúc tâm linh, chúng ta có dịp để nói lên những người mà chúng ta muốn chúc phúc nhất. Khi tiên tri Ê-li mất, người hầu cận ngài là tiên tri Ê-li-sê nài xin ông để lại cho mình “phần gấp đôi” thần trí của ông. Khi chết, chúng ta phải để lại tinh thần của mình làm của nuôi dưỡng cho tất cả mọi người, nhưng có những người cụ thể mà chúng ta muốn để lại “phần gấp đôi”. Trong di chúc này, chúng ta nêu lên những người đó là ai.

Trong quyển sách đầy thách thức: Bốn điều quan trọng nhất (The Four Things That Matter Most), bác sĩ Ira Byock, người chăm sóc cho những người hấp hối, nói rằng có bốn điều chúng ta cần nói với những người thân yêu trước họ khi qua đời. “Xin tha thứ cho tôi”, “Tôi tha thứ cho bạn”, “Cám ơn”, và “Tôi yêu bạn”. Ông nói đúng, nhưng với những chuyện chẳng ngờ, những căng thẳng, tổn thương, đau lòng và thăng trầm trong tình cảm, kể cả với những người mà chúng ta yêu thương nhất, không phải lúc nào cũng dễ (và đôi khi là bất khả thi) nói ra những lời này cách rõ ràng nhất. Một di chúc tâm linh cho chúng ta cơ hội để nói những lời này với tâm tư vượt lên những căng thẳng thường che mờ tình cảm giữa chúng ta và ngăn chúng ta nói rõ những lời quan trọng này, để rồi ở tang lễ, sau những lời điếu văn, chúng ta sẽ không còn chuyện gì dang dở.

Chết một mình trong sa mạc

Gần đây, tôi nhận một bức thư của một người bạn chia sẻ, cô sợ phải chấp nhận một công việc nào đó vì nó sẽ làm cho cô cô đơn quá nhiều. Cô đã chia sẻ nỗi sợ này với người linh hướng của mình, người này chỉ đơn giản nói: “Thánh Charles de Foucauld cũng đã chết một mình trong sa mạc!” Với cô, câu trả lời đó là quá đủ. Với câu này, cô đi tới đàng trước. Câu trả lời đó có đủ cho những ai trong chúng ta, những người có cùng lưỡng lự, sợ hãi khi ở một mình không?

Nỗi sợ ở một mình là lành mạnh. Triết gia Jean-Paul Sartre nổi tiếng đã viết, địa ngục là người khác. Điều này quá xa sự thật. Địa ngục là ở một mình. Tất cả các tôn giáo lớn đều dạy thiên đàng là cộng đồng, một thiên đàng kết hợp của trái tim, linh hồn và cơ thể (theo các kitô hữu), trong một sự kết hợp của tình yêu. Sẽ không có cô đơn trên thiên đàng. Vì vậy, nỗi sợ hãi ở một mình của chúng ta là lành mạnh, chúng ta mè nheo Chúa và thiên nhiên, làm chúng ta luôn nhớ lại những lời Chúa đã nói khi tạo ra bà Ê-va, thật không tốt cho một người khi họ ở một mình. Trẻ con luôn hiểu điều này, chúng luôn cảm thấy bất an khi ở một mình. Đó là một trong những lý do tại sao Chúa Giêsu nói trẻ em lên thiên đàng tự nhiên hơn người lớn.

Nhưng, có phải ở một mình luôn không tốt cho sức khỏe không? Chúng ta có thể học được gì từ Thánh Charles de Foucauld, người đã chọn cuộc sống để rồi ngài chết một mình trong sa mạc? Chúng ta có thể học được gì từ một người như triết gia Soren Kierkegaard, người chống lại hôn nhân vì sợ rằng nó sẽ ảnh hưởng đến thiên chức, ông có trực giác sẽ chết một mình không? Và nhất là, chúng ta có thể học được gì từ Chúa Giêsu, người tình vĩ đại nhất của tất cả, người chết một mình trên thập giá, người đã khóc vì đã bị mọi người bỏ rơi và sau đó, khi hấp hối, Ngài đã đầu hàng cô đơn của Ngài bằng một hành động vị tha cao cả, qua đó Ngài hiến tâm trí mình cho một tình yêu trọn vẹn không?

Trong quyển sách gần đây, Nhật ký thấu cảm (The Empathy Diaries), tác giả Sherry Turkle đã phản ánh về tác động của công nghệ thông tin đương đại và phương tiện truyền thông xã hội trên chúng ta. Là nhà khoa học tại Đại học MIT, bà là một trong những người đã giúp phát triển máy tính và công nghệ thông tin như chúng có ngày nay, vì vậy bà không phải là người có thành kiến thế hệ, lãng mạn hoặc tôn giáo với máy tính, điện thoại thông minh và mạng xã hội. Tuy nhiên, bà lo lắng về những gì tất cả những điều này đang làm với chúng ta ngày nay, đặc biệt là với những người nghiện mạng xã hội và không thể ở một mình. “Tôi chia sẻ, do đó tôi tồn tại!”. Bà nêu ra một sự thật khó hiểu: Nếu chúng ta không biết làm thế nào để ở một mình, chúng ta sẽ luôn cô đơn.

Điều đó đúng cho tất cả chúng ta, dù không phải ai trong chúng ta cũng có ơn gọi nhờ đức tin hay có xu hướng chuộng đời sống đan viện yên tĩnh. Những gì Chúa Giêsu đã mô phỏng (và những gì các vị như Thánh Charles de Foucauld, triết gia Soren Kierkegaard và vô số nam nữ tu sĩ, và những người độc thân đã cảm thấy mình được mời gọi) không phải là con đường dành cho tất cả mọi người. Trên thực tế, về mặt tôn giáo hay nhân chủng học, nó không phải là chuẩn mực. Hôn nhân mới là thế. Khi được hỏi, độc thân là như thế nào, Thomas Merton đã trả lời, độc thân là địa ngục. Bạn sống trong cô đơn mà chính Chúa đã lên án; nhưng điều đó không có nghĩa là nó không thể không có kết quả.

Chính yếu đó là câu trả lời mà bạn tôi đã nhận được từ vị linh hướng khi cô chia sẻ nỗi sợ hãi, cảm nhận mình sẽ cô đơn nếu đi theo ơn gọi này. Bạn có thể là một Charles de Foucauld, bạn sẽ đơn độc nhưng theo một cách rất có hiệu quả.

Thậm chí còn có một cái gì lãng mạn trong việc chủ động sống cô đơn và độc thân. Cách đây vài năm, tôi hướng dẫn tâm linh cho một thanh niên có đức tin, có lý tưởng mạnh. Tràn đầy sức sống và năng lượng trẻ trung, như các bạn trẻ cùng tuổi, anh cảm nhận sức hút mạnh mẽ của tình dục nhưng anh cũng cảm thấy mình được lôi cuốn mạnh mẽ theo một hướng khác. Anh đọc Soren Kierkegaard, Dorothy Day, Thomas Merton, Daniel Berrigan, anh cảm thấy sự hấp dẫn lãng mạn trong cuộc sống độc thân, trong cô đơn, lẻ loi mà sau đó anh tìm được chính mình. Anh cũng đọc Phúc âm, câu chuyện Chúa Giêsu chết một mình trên thập giá không có người nắm tay. Giống như Chúa Giêsu, anh muốn trở thành nhà tiên tri cô đơn và chết một mình.

Có một lý tưởng đáng thán phục ở đây, mặc dù có lẽ đó cũng là niềm kiêu hãnh không lành mạnh và một kiểu tinh hoa nào đó khi muốn trở thành người hùng cô đơn, người được ngưỡng mộ vì đứng ngoài vòng cương tỏa của tình thân mật bình thường. Hơn nữa, với tư cách là người độc thân suốt đời (người giữ lời khấn từ hơn năm mươi năm nay), tôi muốn đưa ra lời cảnh báo này. Một giấc mơ lãng mạn về cuộc sống độc thân, cho dù bắt nguồn từ đức tin và mạnh mẽ đến đâu, cũng sẽ gặp thử thách trong các mùa, các đêm khi chúng ta rơi vào lưới tình, khi mệt mỏi, khi chìm đắm và khi tình dục (và tâm hồn) của mình kêu lên, tôi không muốn chết một mình trong sa mạc. Merton nói, để duy trì chính mình trong cô đơn của Chúa Giêsu, đôi khi là một địa ngục tuyệt đối, dù đó là địa ngục đầy hoa trái.

Chết một mình trong sa mạc như Charles de Foucauld là câu trả lời đủ.

Ghen với lòng quảng đại của Thiên Chúa

“Gà sẽ gáy khi cái tôi của bạn bùng nổ, có nhiều cách để thức tỉnh”. John Shea đã nói câu này, và gần đây tôi hiểu thêm câu này khi đang chờ ở phi trường: tôi đã kiểm vé và chờ qua khâu an ninh, thấy hàng dài đang chờ, tôi chấp nhận phải mất ít nhất 40 phút mới xong.

Tôi không có vấn đề gì với việc chờ lâu giờ và kiên nhẫn nhích từng bước – cho đến khi, vừa tới lượt tôi, thì một đội kiểm an ninh mới xuất hiện, họ mở thêm quay kiểm thứ hai, và hàng người dài sau lưng tôi, những người chưa chờ 40 phút liền qua cổng ngay. Tôi vẫn chờ đến lượt tôi, nhưng trong lòng thấy mình bị xem thường và giận dữ: “Thế này không công bằng! Tôi đã chờ 40 phút, mà họ qua cổng cùng lần với tôi”. Tôi đã chờ, bằng lòng chờ, cho đến khi có người đến sau và họ chẳng phải chờ chút nào. Tôi đâu bị đối xử bất công, nhưng người khác may mắn hơn tôi.

Kinh nghiệm này cho tôi biết lòng tôi không phải lúc nào cũng bao dung và rộng lượng. Đồng thời, nó còn giúp tôi hiểu ra một điều về dụ ngôn của Chúa Giêsu về những người thợ đến vào giờ thứ 11 và nhận tiền công bằng với những người đã làm việc cả ngày, và hiểu ra thách thức đối với những người cau có về sự bất công trong chuyện này: “Anh ghen tị vì tôi hào phóng sao?”

Chúng ta ghen vì Thiên Chúa quảng đại sao? Chúng ta có buồn không khi người khác có được những tặng vật và tha thứ mà họ không xứng đáng có?

Hẳn là có! Xét cho cùng, ý thức công lý đó, ghen tị khi người khác gặp may mắn đó, chính là chướng ngại cho hạnh phúc của chúng ta. Tại sao lại thế? Vì trong chúng ta có phản ứng tiêu cực khi cuộc đời dường như không bắt người khác phải trả cái giá như chúng ta đã trả.

Trong Tin Mừng, chúng ta thấy chuyện Chúa Giêsu đến hội đường vào ngày sa-bát, lên bục và đọc sách, trích một câu của tiên tri I-saia, Ngài không trích toàn bộ. Đoạn I-saia 61, 1-2, là đoạn mà những người trong hội đường biết khá rõ, nói về thị kiến của tiên tri I-saia về dấu chỉ cho thấy cuối cùng Thiên Chúa đã can thiệp vào thế giới và biến đổi mọi sự mãi mãi. Và chuyện đó như thế nào?

Với tiên tri I-saia, dấu chỉ cho thấy Thiên Chúa đang thống trị địa cầu là tin mừng cho người nghèo, an ủi cho những tâm hồn tan nát, tự do cho người bị nô lệ, ân sủng dư đầy cho tất cả, và báo oán với kẻ ác. Nhưng hãy để ý, khi trích lại câu này, Chúa Giêsu bỏ đi phần nói về báo oán. Không như tiên tri I-saia, Ngài không nói rằng một phần niềm vui của chúng ta là thấy kẻ ác bị trừng phạt.

Trên trời, chúng ta sẽ được ban cái mà chúng ta đã có và còn hơn thế nữa (là tặng vật và sự tha thứ mà chúng ta không xứng đáng, niềm vui quá sức tưởng tượng), nhưng có lẽ, chúng ta sẽ không có được sự xoa dịu mà chúng ta quá mong muốn ở đời này là niềm vui thấy kẻ ác bị trừng phạt.

Niềm vui của Thiên đàng sẽ không có việc thấy Hitler chịu đau khổ. Thật vậy, cái thôi thúc bản năng làm chúng ta muốn công lý nghiêm khắc (Mắt đền mắt), chính xác là một thôi thúc bản năng, một thứ mà phúc âm mời gọi chúng ta hãy vượt lên nó. Khao khát công lý nghiêm khắc ngăn cản khả năng tha thứ và do đó, ngăn cản chúng ta vào thiên đàng, nơi Thiên đàng, như cha của người con hoang đàng, luôn ôm lấy và tha thứ mà người cha không đòi hỏi người con phải trả giá kiểu một đấu khổ để bù cho một đấu tội.

Chúng ta biết mình cần lòng thương xót của Thiên Chúa, nhưng nếu ân sủng có cho chúng ta thì nó cũng phải cho tất cả mọi người, nếu tha thứ được ban cho chúng ta thì nó cũng phải được ban cho tất cả mọi người, và nếu Thiên Chúa không báo oán với những hành động sai trái của chúng ta, thì Thiên Chúa cũng không báo oán với hành động sai trái của người khác. Đó là lô-gích của ân sủng, lô-gích của tình yêu Thiên Chúa mà chúng ta phải hòa theo.

Hạnh phúc không hệ tại ở báo oán mà ở tha thứ, không hệ tại ở bào chữa mà ở đón nhận dù chúng ta không xứng đáng.

Không ngạc nhiên khi nơi một số thánh lớn, chúng ta thấy một thần học gần giống với thuyết phổ độ, là niềm tin, đến cuối cùng, Thiên Chúa sẽ cứu hết mọi người, kể cả Hitler. Họ tin như thế không phải vì họ không tin vào địa ngục hay khả năng mãi mãi phải xa rời Thiên Chúa, nhưng vì họ tin rằng tình yêu Thiên Chúa quá phổ quát, quá mạnh mẽ, và quá gọi mời, đến nỗi, cuối cùng những người trong địa ngục cũng thấy được lỗi lầm của họ, loại đi tính kiêu căng và phó mình cho tình yêu. Họ cảm thấy chiến thắng tối hậu của Thiên Chúa sẽ đến khi chính ma quỷ cũng hoán cải và địa ngục trống không.

Có lẽ sẽ không bao giờ có chuyện đó. Thiên Chúa ban cho chúng ta tự do. Dù vậy, khi tôi hay bất kỳ ai thấy mình giận ở sân bay, ở buổi điều trần, hay ở bất kỳ đâu, nơi có người có được tha thứ mà chúng ta nghĩ họ không xứng đáng, thì chúng ta phải chấp nhận mình còn cả quãng đường dài để hiểu và chấp nhận nước Thiên Chúa.

Những con quỷ thật sự của chúng ta

Trong hình ảnh có gì? Hình ảnh có thể ghi dấu không phai vào ý thức của chúng ta để chúng ta không thể hình dung một vật gì đó theo cách nào khác. Ví dụ như bức tranh Bữa tiệc ly của Leonardo da Vinci. Ngày nay, nếu bạn nhắm mắt lại và cố hình dung Bữa tiệc ly, thì hình ảnh đó sẽ tự nhiên hiện lên, dù các học giả khẳng định trong bữa tiệc đó, Chúa Giêsu và các môn đệ không ngồi như thế. Nghệ thuật mạnh đến như vậy đấy.

Đáng buồn là, điều này cũng đúng về cách chúng ta tự nhiên hình dung về ma quỷ và việc trừ quỷ. Các bộ phim về quỷ ám, như Rosemary’s Baby đã ghi khắc những hình ảnh nhất định trong chúng ta, nên chúng ta hình dung người bị quỷ ám là người có gương mặt đầy thù hận, méo mó, điên dại, bay lơ lửng lên trần, miệng phun ra những thứ nước tanh tưởi, ở trong một căn phòng đầy mùi khí độc. Và hình ảnh về việc trừ quỷ là một linh mục trông rất khổ hạnh, mặc toàn đồ đen, mang dây các phép, kêu danh cực thánh Chúa Giêsu khi rảy nước thánh, rồi quỷ hét lớn và tháo lui. Đó là những hình dung của chúng ta về quỷ ám và trừ quỷ. Nghệ thuật mạnh đến như vậy đấy!

Nhưng thường thì quỷ ám và trừ quỷ lại không giống như vậy. Thật sự hình dung ma quỷ và việc trừ quỷ theo cách đó là lợi bất cập hại, vì ma quỷ thì tinh vi và việc trừ quỷ không chỉ có những việc như trên phim mà lâu nay chúng ta vẫn tin.

Vậy đúng ra ma quỷ trong chúng ta sẽ như thế nào? Một hình ảnh về gương mặt méo mó, phun ra khí độc và những lời lẽ thù hận, có lẽ cũng hữu ích cho chúng ta hình dung. Đó là một hình ảnh ẩn dụ tốt. Tuy nhiên, trong đời thực, gương mặt méo mó và đầy thù hận quá lại thường xuất hiện trên mặt chúng ta, và chất độc phun ra chính là lời nói thù hằn mà chúng ta nhắm vào nhau khi chửi rủa nhau vì đối địch về hệ tư tưởng, chính trị, đạo đức và tôn giáo. Cũng vậy, việc trừ quỷ không chỉ cần hành động rảy nước thánh theo nghĩa đen, mà còn cần đến Thần Khí.

Ma quỷ thật sự trông thế nào?

Có một con quỷ tên là hoang tưởng, nó rất mạnh và kéo theo các bầy đàn quỷ khác, như bất tín, nghi ngờ, đề phòng, và sợ hãi. Khi chúng ta bị hoang tưởng chiếm lấy, là chúng ta trở nên nghi ngờ và bất tín. Chúng ta nhìn ai cũng thấy họ là mối đe dọa, là kẻ địch, và mọi bản năng tự nhiên bắt đầu thúc ép chúng ta đề phòng, thủ thế và từ đó bắt đầu làm cho gương mặt chúng ta méo mó và phun ra điều bất tín. Đây có thể là con quỷ khó trừ nhất, vì nó khắc sâu trong lòng chúng ta. Không phải tình cờ mà từ sám hối [metanoia] là tổng kết thách thức mà Chúa Giêsu đặt ra cho chúng ta lại chính là phản đề của hoang tưởng [paranoia].

Rồi còn có một con quỷ khác tên là kiêu ngạo, nó làm chúng ta luôn mãi ý thức về sự đặc biệt của mình, làm chúng ta thích đặc biệt hơn là thích hạnh phúc. Con quỷ này kéo theo một bạn đồng hành xấu xa là ghen tị, làm tê liệt khả năng ngưỡng mộ người khác, chúc phúc cho họ và không thấy bị đe dọa bởi thành công của họ.

Tiếp theo, là con quỷ ham ăn và con quỷ tham lam. Hầu như chúng không còn dụ dỗ chúng ta ăn uống cho thật nhiều và tích trữ của cải mãi nữa. Thay vào đó, những con quỷ này truyền cho chúng ta sự tham lam muốn trải nghiệm, ám ảnh muốn tận hưởng mọi thứ, ám ảnh muốn kết nối xã hội 24/24 và 7/7. Hơn nữa, chúng còn kéo theo con quỷ dâm dục, con quỷ làm cho chúng ta xem người khác là đối tượng dục vọng của mình và làm chúng ta không tôn trọng họ nữa.

Chúng là những con quỷ thật sự làm cho gương mặt chúng ta méo mó, và dù không có con quỷ nào có hình dạng như đứa bé trong phim Rosemary’s Baby, nhưng tất cả chúng đều làm chúng ta phun ra sự bất tín và thù hận thay vì tin tưởng và thông hiểu.

Làm sao để trừ chúng đây? Chúng không phải là những con quỷ dễ phản ứng trước nước thánh. Để tẩy trừ chúng, chúng ta phải cần đến Chúa Thánh Thần.

Kinh Thánh cho chúng ta biết Thần Khí “soi sáng mọi sự”. Kinh Thánh còn nói rằng Thần Khí không phải là một sức mạnh mơ hồ mà chúng ta không thể nhận biết. Trong thư gửi tín hữu Galat, thánh Phaolô nói rõ Thần Khí là gì. Ngài bắt đầu bằng phép loại trừ, nói rằng Thần Khí không phải là gì, và không bao giờ được nhầm lẫn Thần Khí với những con quỷ, cụ thể là hoang tưởng, bất tín, nghi ngờ, thủ thế, sợ hãi, kiêu ngạo, ghen tị, tham lam, ham ăn, và dâm dục. Thần Khí là phản đề với tất cả những thứ đó. Ngược lại, Thần Khí là khí thiêng của lòng nhân, vui mừng, hòa bình, nhẫn nại, tốt lành, chịu đựng, trung tín, hiền lành và khiết tịnh.

Hai cái đối lập không thể cùng tồn tại trong một chủ thể, và đó chính là cách hoạt động của việc trừ quỷ. Càng nắm lấy lòng nhân, vui mừng, hòa bình, nhẫn nại, tốt lành, chịu đựng, trung tín, hiền lành và khiết tịnh, thì chúng ta càng diệt trừ hoang tưởng, bất tín, nghi ngờ, thủ thế, sợ hãi, kiêu ngạo, ghen tị, tham lam, ham ăn, và dâm dục, cũng như bớt phun ra những thứ quỷ ám thù hận.

Các công thức trong Kinh Thánh về tha thứ

Không có gì quan trọng cho bằng tha thứ. Tha thứ là chìa khóa mở ra cho hạnh phúc và là mệnh lệnh thiêng liêng quan trọng nhất cuộc đời chúng ta. Chúng ta cần tha thứ, cần làm hòa với những tổn thương và bất công mình đã chịu để khỏi phải chết trong giận dữ và cay đắng. Trước khi chết, chúng ta cần tha thứ, tha thứ cho người khác, cho bản thân, cho Chúa, vì mọi sự xảy ra trong cuộc đời chúng ta.

Nhưng không dễ để tha thứ, thật sự nhiều lúc không thể tha thứ nổi. Cần phải nói rõ như thế, vì ngày nay, nhiều tác phẩm đủ thể loại, với ý định tốt, đem lại ấn tượng tha thứ chỉ là vấn đề có sẵn sàng và có bỏ qua hay không. Cứ buông bỏ và đi tiếp!

Nhưng chúng ta đều biết, đâu có dễ như vậy! Những vết thương hằn lên tâm hồn thì cần thời gian, có khi là một thời gian rất dài để chữa lành, và tiến trình đó vô cùng chậm rãi, một việc mà chúng ta không thể đi nhanh được. Thật sự, chấn thương từ vết thương cảm xúc thường tác động lên sức khỏe thể xác chúng ta. Chữa lành cần có thời gian.

Khi nhìn vào vấn đề chữa lành và tha thứ, chúng ta có một thấu suốt đầy giá trị nhưng lại lãng quên từ lâu linh đạo về ngày sa-bát trong do thái giáo và kitô giáo. Giữ ngày sa-bát không phải chỉ tôn vinh một ngày nhất định trong tuần, đó là một công thức của tha thứ. Cách nó tiến hành như sau.

Thần học và linh đạo về ngày sa-bát dạy chúng ta, Thiên Chúa tạo dựng thế giới trong sáu ngày và ngày thứ bảy là ngày sa-bát, ngày Ngài nghỉ ngơi. Hơn nữa, không chỉ Thiên Chúa nghỉ ngơi ngày sa-bát mà Ngài còn tuyên bố đó là ngày nghỉ ngơi cho tất cả mọi người đến muôn đời, và như thế, Thiên Chúa tạo một nhịp điệu nhất định cho cuộc sống chúng ta. Nhịp điệu đó phải như thế này:

• Làm việc sáu ngày, nghỉ một ngày.

• Làm việc 49 (bảy lần bảy) năm, thì có năm đại xá, cả thế giới trải qua kỳ sa-bát.

• Làm việc bảy năm, nghỉ một năm (kỳ nghỉ sa-bát).

• Làm việc cả đời, rồi nghỉ kỳ sá-bat vĩnh hằng.

Nhịp điệu đó cũng nên áp dụng cho cách chúng ta tha thứ:

• Chúng ta có thể giữ ác cảm nhỏ trong bảy ngày, nhưng rồi chúng ta phải buông bỏ nó.

• Chúng ta có thể giữ ác cảm lớn trong bảy năm, nhưng rồi chúng ta cần buông bỏ nó. (Mức hạn định dựa trên điều này).

• Chúng ta có thể giữ một vết thương khủng khiếp khắc sâu vào tâm hồn trong 49 năm, nhưng rồi chúng ta cần buông bỏ nó.

• Chúng ta có thể giữ một vết thương làm cho tâm hồn chúng ta tan vỡ cho đến chết, nhưng rồi chúng ta cần buông bỏ nó.

Điều này nêu bật một chuyện vốn thường không xuất hiện trong giới tâm linh và trị liệu thời nay, đó là: chúng ta cần thời gian để có thể tha thứ, và thời gian đó tùy thuộc vào mức độ của vết thương. Ví dụ như:

• Khi bị đồng nghiệp xem thường trong cuộc họp, chúng ta cần chút thời gian để bực mình cho sự bất công này, nhưng thường thì một vài ngày là đủ để chúng ta hướng về phía trước và có thể buông bỏ nó.

• Khi chúng ta bị đuổi việc một cách lạnh lùng bất công thì bảy ngày hay bảy tuần thường không đủ để chúng ta buông bỏ và tha thứ chuyện này. Có lẽ bảy năm thì thực tế hơn. (Xin lưu ý “mức hạn định” phỏng theo thấu suốt Kinh Thánh này).

• Có những chấn thương chúng ta chịu đựng để lại vết thương sâu sắc hơn cả do bị đuổi việc bất công. Có những vết thương chúng ta chịu do bị lạm dụng, thờ ơ, do nhiều năm cam chịu bất công, và chúng cần hơn bảy năm để chữa lành. Có thể phải mất đến 49 năm, nửa thế kỷ, dể làm hòa với những chuyện chúng ta bị bắt nạt khi còn nhỏ, hoặc bị lạm dụng về cảm xúc, tình dục khi còn niên thiếu.

• Có những vết thương quá sâu sắc đễn nỗi phải đến giờ hấp hối, chúng ta mới chỉ có thể làm hòa với sự thật là chúng đã xảy ra với mình, buông bỏ chúng và tha thứ cho người hoặc nhiều người đã gây ra chúng.

• Cuối cùng, có những vết thương quá sức sâu đậm, quá sức hủy hoại, quá sức đau đớn đễn nỗi chúng ta không thể xử lý trong đời này. Với chúng, may thay, chúng ta còn có cái ôm chữa lành nhân từ của Thiên Chúa sau khi chết.

Năng lực tha thứ dựa vào ân sủng hơn là ý chí. Phạm lỗi lầm là thuộc tính con người, nhưng tha thứ là thuộc tính thần thánh. Câu đơn giản này chứa đựng một sự thật thâm sâu hơn những gì chúng ta nắm bắt thoáng qua. Điều làm cho tha thứ trở nên khó khăn và nhiều lúc bất khả thi, không phải chủ yếu do cái tôi của chúng ta bị bầm dập và tổn thương quá đỗi. Đúng hơn, khó khăn thực sự chính là việc một vết thương của tâm hồn cũng như vết thương của thể xác, nó làm chúng ta suy yếu.

Điều này đặc biệt đúng với những chấn thương in sâu vào tâm hồn và làm tan nát tâm hồn, cần đến 49 năm hay cả đời để chữa lành, hoặc có lúc không thể chữa lành trong đời này. Những vết thương như thế làm chúng ta cạn kiệt sức mạnh, nhất là khi đối diện với người đã gây cho chúng ta, làm chúng ta rất khó để tha thứ.

Chúng ta cần một linh đạo sa-bát để giúp đỡ cho mình.

Kinh Ngợi khen Magnificat

Một linh mục minh triết người Úc đã chia sẻ câu chuyện này trong một lớp học. Trong đời tôi, có những ngày mà mọi thứ, từ áp lực công việc, mệt mỏi, chán nản, lơ đãng, đờ đẫn làm cho tôi khó cầu nguyện. Nhưng dù thế nào đi nữa, mỗi ngày, tôi luôn cố tập trung, sốt sắng đọc ít nhất một kinh Lạy Cha.

Trong các sách Phúc âm, Chúa Giêsu để lại cho chúng ta kinh Lạy Cha. Đây là lời cầu nguyện quý báu nhất của người tín hữu kitô. Tuy nhiên, các Phúc âm còn để lại cho chúng ta một kinh cũng quý báu, một kinh ít được biết đến hay ít được đọc nhiều như kinh Lạy Cha. Đó là lời cầu nguyện của Đức Mẹ, mẹ Chúa Giêsu, kinh Magnificat. Theo tôi, sau kinh Lạy Cha, đây là kinh quý báu chúng ta có,.

Phúc âm thánh Luca ghi lại: Đang mang thai Chúa Giêsu, Đức Mẹ đi thăm người chị họ là bà Elizabeth cũng đang mang thai Gioan Tẩy giả. Theo truyền thống kitô giáo, đây là câu chuyện “đi viếng”, và những gì toát ra từ hai phụ nữ này vượt quá những gì bề ngoài. Đây không chỉ là vui mừng bình thường của những phụ nữ mang thai. Được viết ra 80 năm sau khi sự kiện này xảy ra, kể chuyến đi viếng như một phản ảnh hậu phục sinh về tầm quan trọng biến đổi thế giới của hai người con mà hai phụ nữ này đang mang trong dạ. Cũng thế, những lời họ nói với nhau nói lên hiện thực hậu phục sinh. Và trong bối cảnh này, các Phúc âm đã để Đức Mẹ xướng lên lời kinh Magnificat. Và lời kinh đó là gì?

Là lời tạ ơn và chúc tụng Thiên Chúa vì đã ở bên người nghèo, người khiêm hạ, người thiếu đói, người bị áp bức trên đời, đã nâng họ lên và cho họ chiến thắng, còn những người quyền thế thì bị truất xuống và bị hạ nhục. Tuy nhiên, lời kinh của Đức Mẹ đều dùng thì quá khứ, như thể đó là một việc đã làm rồi, một hiện thực đã có trên thế gian này.

Như nhân vật hoạt hình Ziggy từng nhắc đến Chúa trong lời cầu nguyện, “Người nghèo vẫn đang bị hành hạ ở đây!” Và nhìn chung là như thế. Nhìn vào thế giới ngày nay, chúng ta thấy khoảng cách giữa giàu nghèo đang lớn rộng, hàng trăm triệu người đi ngủ bụng đói mỗi đêm, tham nhũng và tội ác diễn ra khắp nơi, người quyền thế dường như muốn gì được đó, chẳng hề bị gì. Chúng ta có gần trăm triệu người tị nạn chờ chực ở các biên giới, những phụ nữ và trẻ em vẫn đang là nạn nhân của bạo lực đủ loại khắp nơi. Tệ hơn nữa, mọi chuyện dường như ngày càng đi xuống chứ không đi lên. Vậy thì chuyện Chúa hạ những ai quyền thế và nâng cao người yếu thế, ban của cải đầy dư cho người nghèo và đuổi người giàu có về tay không, những chuyện đó chúng ta thấy ở đâu?

Chúng ta thấy nó trong sự phục sinh của Chúa Giêsu và viễn cảnh hy vọng chúng ta có được từ thực tế đó. Điều mà Đức Mẹ khẳng định trong kinh Magnificat là một sự thật thâm sâu, rằng chỉ có đức tin và đức cậy chúng ta mới có thể hiểu được rằng, dù hiện tại bất công, tham nhũng và bóc lột người nghèo dường như đang thống trị, nhưng sẽ có một ngày tận thế khi khối đá áp bức đó lăn khỏi mồ và người quyền thế sẽ bị lật đổ. Kinh Magnificat là lời kinh tối cùng của đức cậy, và là lời kinh tối cùng cho người nghèo.

Có lẽ do tuổi tác của tôi, có lẽ do tôi nản lòng khi mỗi đêm xem tin tức, hoặc có thể là do cả hai, nhưng khi thêm tuổi, (ngoài phép Thánh Thể), tôi càng thấy quý trọng hai lời kinh này, kinh Lạy Cha và kinh Magnificat. Như cha giáo dòng Thánh Âugutinô của tôi, bây giờ tôi đảm bảo, không một ngày nào tôi để áp lực, mệt mỏi, xao lãng hay lười biếng ngăn tôi chú tâm đọc hai kinh này, kinh Lạy Cha và kinh Magnificat.

Nhưng không phải khi nào cũng được như vậy. Trong nhiều năm, tôi thấy trong kinh Magnificat lòng tôn kính Đức Mẹ, mọi lời khẩn cầu và chúc tụng Đức Mẹ gom lại trong đó. Chuyện này không có gì sai vì Đức Mẹ là người mà hàng triệu triệu người, không phải chỉ người nghèo, hướng về khi cùng quẫn để được dẫn dắt, an ủi và cảm thông của một người mẹ. Không mấy người phê bình sự tốt đẹp của điều này, vì nó tạo nên một thuyết thần nghiệm về người nghèo và sự nghèo khó trong lòng.

Tuy nhiên, kinh Magnificat không hẳn là để tôn vinh cá nhân Đức Mẹ cho bằng để tôn vinh người nghèo. Trong kinh này, Đức Mẹ nói lên lời đáp trả tối hậu của Thiên Chúa trước sự bất lực và đàn áp người nghèo. Linh mục Henri Nouwen từng viết, xem tin tức buổi tối và thấy đau khổ trên thế giới có thể làm chúng ta cảm thấy nản lòng và bất lực. Nản lòng vì sự bất công chúng ta thấy, bất lực vì gần như chúng ta chẳng làm được gì.

Chúng ta có thể làm được gì đây? Chúng ta có thể đọc kinh Magnificat mỗi ngày để nói lên lời đáp trả tối hậu của Thiên Chúa trước sự bất lực của người nghèo.

Thấy người ở trước ngưỡng cửa nhà mình

Cha Henri Nouwen từng nói, nếu chúng ta muốn hiểu bi kịch của Thế chiến II, chúng ta có thể đọc cả trăm quyển sách lịch sử, xem hàng ngàn giờ phim tài liệu hoặc đọc Nhật ký của Anne Frank. Trong hồi ký của cô gái trẻ bị Đức Quốc xã cầm tù rồi xử tử, chúng ta sẽ trực tiếp thấy bi kịch của chiến tranh và những gì chiến tranh gây ra cho tâm hồn con người.

Cũng có thể nói như thế về cuộc khủng hoảng tị nạn đang diễn ra khắp nơi trên thế giới. Theo thống kê từ Liên Hiệp Quốc, ở đường biên giới của nhiều nước trên khắp thế giới, có hơn 80 triệu người tị nạn, phải bỏ xứ ra đi, vô gia cư, vô tổ quốc, đang kinh hoàng và thường bị đói khát. Hai phần ba trong số này là phụ nữ và trẻ em, họ muốn tìm một cơ hội kinh tế tốt hơn ở nước khác và đa số họ không chủ ý quyết định đến đây. Họ bị đẩy ra khỏi quê hương vì chiến tranh, bạo lực, nạn đói, thanh trừng sắc tộc và tôn giáo, tính mạng của họ bị đe dọa.

Với nhiều người chúng ta, đây là một vấn đề mơ hồ. Chúng ta có lòng cảm thương chung chung cho cảnh ngộ của họ, nhưng không đủ sâu sắc để làm chúng ta trằn trọc, xáo động lương tâm hay làm chúng ta phải hy sinh một phần thoải mái và an ninh của mình để làm một cái gì giúp họ hoặc làm gì đó thúc ép chính phủ chúng ta ra tay hành động. Thật vậy, chúng ta quá thường xuyên bảo vệ quá mức đường biên giới cũng như cuộc sống thoải mái ổn định bên trong đất nước chúng ta. Đây là quốc gia chúng tôi! Quê hương chúng tôi! Chúng tôi đã làm việc cực khổ vì những gì chúng tôi có. Thật không công bằng khi bắt chúng tôi phải lo cho những người này! Họ nên về lại nước họ và để chúng tôi yên!

Chúng ta cần tỉnh ngộ. Quyển tiểu thuyết mới đây của Jeanine Cummins, Bùn đất Mỹ (American Dirt), cho chúng ta một tường thuật hư cấu về một phụ nữ trẻ người Mexico, vì sợ bạo lực và sợ mất mạng, phải để lại cuộc sống của mình và cùng con trai chạy trốn, tìm đường vào nước Mỹ làm người nhập cư không giấy tờ. Quyển sách này đã bị nhiều người chỉ trích nặng nề vì nó không phải lúc nào cũng đúng với sự thật chính xác từng chi tiết. Ngược lại, có nhiều người tấm tắc khen. Dù là gì đi nữa, rốt cùng, đây là câu chuyện mạnh mẽ, là hồi chuông cảnh tỉnh để chúng ta thức tỉnh trước bi kịch thực sự của những người vì nghèo đói, bạo lực, nạn đói, sợ hãi và tuyệt vọng mà buộc phải bỏ quê hương để tìm một cuộc sống tốt hơn (hoặc thậm chí chỉ để được sống) ở bất kỳ nơi nào khác. Dù quyển sách này có nhiều thiếu sót, nhưng nó giúp phá tan sự mơ hồ mà chúng ta dựa vào để khỏi nhìn vào vấn đề của người tị nạn thời nay.

Phải thừa nhận, vấn đề này không đơn giản. Có những vấn đề cực kỳ phức tạp liên quan đến bảo vệ đường biên giới và cho hàng triệu người tự do đi vào đất nước mình. Tuy nhiên, khi chúng ta cùng là con người giống nhau và sống cùng một hành tinh với những người tị nạn này, liệu chúng ta có thể làm ngơ trước cảnh ngộ của họ không? Hơn nữa, là kitô hữu, chúng ta có chấp nhận nguyên tắc căn bản và không thể thương lượng trong huấn giáo xã hội kitô giáo dạy rằng, thế giới thuộc về tất cả mọi người một cách bình đẳng và chúng ta không được bám vào bất kỳ niềm tin theo kiểu chủ nghĩa dân tộc nào nói rõ hay ngụ ý rằng đất nước này là của riêng chúng ta và chúng ta không có nghĩa vụ chia sẻ nó với người khác. Tán thành chủ trương như thế là phi kitô giáo và đi ngược lại lời dạy của Chúa Giêsu.

Tôi cho rằng, tất cả chúng ta nên suy ngẫm dụ ngôn của Chúa Giêsu (Lc 16, 19-31) về người giàu làm ngơ người nghèo trước cửa nhà mình và không chịu chia sẻ miếng ăn. Người nghèo chết đi và được ở trong lòng ông Abraham. Người giàu cũng chết đi và bị giày vò bởi cơn khát trong địa ngục. Ông kêu cầu Abraham cho người nghèo mà ông đã làm ngơ cả đời đem cho ông chút nước để giải cơn khát, nhưng hóa ra chuyện đó là không thể được. Chúa Giêsu bảo rằng có một “khoảng cách không thể vượt qua” giữa hai bên. Chúng ta luôn đơn giản hóa rằng khoảng cách không thể vượt qua này là khoảng cách giữa thiên đàng và địa ngục, nhưng nó không hẳn là ý mà dụ ngôn muốn nói. Khoảng cách không thể vượt qua này là khoảng cách đang tồn tại trên đời này giữa người giàu và người nghèo, và bài học chúng ta phải cố bắc cầu qua khoảng cách này trong đời này.

Chúng ta để ý, Chúa Giêsu không nói người giàu là người xấu hay làm giàu bất chính, không nói người này không phải là công dân chuẩn mực hay không đi nhà thờ, cũng không nói người này là không phải là người chồng chung thủy hay người cha tốt. Ngài chỉ nói người này có một lỗi lầm thôi, một lỗi lầm chí tử, là khi giàu có, ông đã không đáp lời người nghèo đang ở trước cửa nhà mình.

Một Thiên Chúa, một hệ thống dẫn đường, một con đường cho tất cả chúng ta

Đến tận cùng, tất cả chúng ta, dù là kẻ tin hay không tin, sốt sắng hay hờ hững, đều chia sẻ cùng một nhân tính và tất cả đều cùng kết thúc trên một con đường. Câu này có nhiều ngụ ý.

Một chuyện rõ ràng là việc giữ đạo đang dần xuống dốc ở khắp nơi trong giới thế tục. Những người quyết định rời Giáo hội, họ không giống nhau, cũng không mang những cái tên giống nhau. Có người vô thần, thẳng thừng chối bỏ Thiên Chúa hiện hữu. Một số theo thuyết bất khả tri, để ngỏ khả năng chấp nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa nhưng vẫn chưa quyết định. Một số khác thì nhận mình là “không tôn giáo”, nếu hỏi họ theo tôn giáo nào, họ sẽ nói là “không”. Còn có những người nhận mình là “chấm dứt”, họ từ bỏ, không còn dính dáng gì đến tôn giáo và Giáo hội. Rồi có những người chần chừ, những người biết đến một ngày nào đó họ sẽ phải đối diện với vấn đề tôn giáo, nhưng như thánh Âugutinô, họ nói “cuối cùng tôi phải làm việc này, nhưng bây giờ thì khoan!” Và cuối cùng, có một nhóm lớn tự nhận mình là “có đời sống thiêng liêng nhưng không tôn giáo”, họ tin Thiên Chúa nhưng không tin vào thể chế tôn giáo.

Tất cả chúng ta đều quen biết một vài người thuộc các nhóm này và cảm thấy lo ngại cho họ. Chúng ta có thể làm gì, bất cứ điều gì, để đưa họ về với đức tin, tôn giáo và Giáo hội không? Nếu họ chết trong tình trạng này thì sẽ thế nào? Ý của Chúa về chuyện này là sao?

Tôi cho rằng Thiên Chúa không mang nặng mối lo này như chúng ta, và Thiên Chúa cũng không xem đây là lành mạnh hoàn hảo (con người là con người!), nhưng đúng hơn, Thiên Chúa có tầm nhìn rộng lớn hơn về chuyện này, chắc chắn đầy yêu thương và nhẫn nại dù đau đớn khi dung thứ cho những lựa chọn của chúng ta. Tại sao lại thế? Tầm nhìn rộng hơn của Thiên Chúa về chuyện này là gì?

Trước hết, sự thật là đức tin chúng ta đã làm phép rửa cho những người chúng ta yêu thương. Gabriel Marcel từng có câu nói nổi tiếng: “Nói với ai đó ‘Tôi yêu bạn’ nghĩa là nói ‘Bạn sẽ không bao giờ hư mất’”. Là tín hữu kitô, chúng ta hiểu câu này theo sự hiệp nhất trong Nhiệm thể Chúa Kitô. Tình yêu chúng ta dành cho ai đó nối kết người đó với chúng ta, và vì chúng ta là một phần Nhiệm thể Chúa Kitô, nên người đó cũng nối kết với Nhiệm thể Chúa Kitô, và chạm đến Chúa Kitô là chạm đến ân sủng. Nhờ những kỳ công của Nhập thể, mọi tín hữu kitô thành tâm có thể nói “Thiên đàng của tôi bao gồm những người mà tôi yêu thương”. Chúng ta từng gọi đây là “phép rửa nhờ khát khao”, ngoại trừ một điều trong chuyện này, khao khát được rửa tội là của chúng ta, nhưng vẫn có hiệu lực tương đương.

Tiếp theo, chúng ta cần nhận ra, Thiên Chúa yêu thương những người này hơn cả chúng ta yêu thương, và còn mong muốn hạnh phúc và sự cứu rỗi cho họ hơn cả chúng ta mong muốn. Thiên Chúa yêu thương tha thiết mỗi một người và Ngài hành động theo nhiều cách để bảo đảm không ai bị hư mất. Hơn nữa, Thiên Chúa rất tinh tế! Như các nhà biện giáo kitô luôn đưa ra, Thiên Chúa có dự định riêng của Ngài, Ngài có những cái bẫy yêu thương và những phương thức để dẫn dắt con người đến với đức tin.

Hơn nữa, Thiên Chúa nhẫn nại đến vô hạn. Tạm gác lòng sùng đạo qua một bên, chúng ta có thể có một so sánh rất hay giữa Thiên Chúa và Hệ thống Định vị Toàn cầu GPS, GPS kiên nhẫn và kiên trì dẫn đường cho chúng ta đến cùng. Một GPS được làm theo giả định nó sẽ thường bị phớt lờ, và phải tự điều chỉnh khi cần. Chúng ta đã quen thuộc với cách hoạt động của nó. Chúng ta lên chương trình lái đến một nơi và GPS bảo chúng ta rẽ phải ở ngã tư. Nhưng chúng ta phớt lờ và cứ lái thẳng. GPS sẽ im lặng một lát, chấp nhận chúng ta đã bỏ chỉ dẫn, nó “đang tính toán lại” rồi đưa chỉ dẫn mới để chúng ta đến đích. Và nó sẽ lặp lại trình tự đó đến vô tận. Một GPS, kiên nhẫn đến vô hạn, cứ nói “đang tính toán lại” rồi cho chúng ta chỉ dẫn mới cho đến khi chúng ta đến được đích mới thôi. Nó không bao giờ bỏ chúng ta.

Thiên Chúa cũng vậy. Chúng ta có một điểm đến định sẵn và Thiên Chúa liên tục cho chúng ta những chỉ dẫn trên đường. Tôn giáo và Giáo hội là một GPS phi thường. Tuy nhiên, cả hai có thể bị làm ngơ và thường bị làm ngơ. Nhưng phản ứng của Thiên Chúa không bao giờ giận dữ hay đây là kiên nhẫn lần chót. Như một GPS uy tín, Thiên Chúa luôn mãi nói “đang tính toán lại” và cho chúng ta chỉ dẫn dựa trên chọn lựa bỏ qua trước đó. Cuối cùng, dù chúng ta rẽ sai bao nhiêu lần, rơi vào ngõ cụt bao nhiêu lần, Thiên Chúa vẫn đưa chúng ta về nhà.

Một chuyện cuối cùng. Xét cho đến cùng, Thiên Chúa là người duy nhất nắm cuộc chơi, dù chúng ta có đi vào biết bao con ngõ cụt hay bỏ qua biết bao con đường tốt, thì cuối cùng, chúng ta đều đi vào một con đường như nhau, con đường cuối cùng. Tất cả chúng ta, vô thần, bất khả tri, “không tôn giáo”, “chấm dứt”, chần chừ, không tin vào tôn giáo thể chế, lãnh đạm, chống đối, giận dữ, cay đắng, tổn thương, tất cả cuối cùng đều vào cùng một con đường, hướng về điểm đến cuối cùng là cái chết. Tuy nhiên, tin vui là con đường cuối cùng này sẽ dẫn chúng ta đến với Thiên Chúa.

Hành trình nhìn lại

Trong một đoạn rất sâu sắc trong bài thơ Chiếc lá và Đám mây (The Leaf and the Cloud), Mary Oliver đã họa lên mình đang đứng cạnh mộ cha mẹ, nghĩ về cuộc đời của họ. Họ không phải là hình ảnh hoàn hảo và bà cũng không tô lên cho đẹp những sai lỗi của họ. Bà nói thẳng về tâm hồn nặng nề của mẹ, về đức tin non nớt của cha. Bà biết nhiều chuyện khó khăn của bà phát xuất từ đó. Tuy nhiên, bà không đi thăm mộ cha mẹ để trách họ. Bà đến đó để thật tâm hôn từ biệt họ, cuối cùng bà thấy bình an với cuộc đời không hoàn hảo và ảnh hưởng của cha mẹ trên cuộc đời mình. Bà cám ơn họ vì mọi sự, cả tốt và xấu, cầu chúc họ mọi sự tốt đẹp dưới lòng đất sâu, rồi bà nói, “nhưng tôi sẽ không tặng cha mẹ tôi nụ hôn đồng tình. Tôi sẽ không để họ có trách nhiệm trên đời tôi”.

Tất cả chúng ta có lẽ nên làm cuộc hành trình nhìn lại này bằng cách xem lại giáo dục tôn giáo thuở nhỏ của mình. Đây là cả một điều đáng để xem lại. Tiếc là nhiều người trong chúng ta không bao giờ lưu lại đủ lâu để xác định xem điều gì mang lại ân phúc, điều gì mang lại tổn thương khi một tác nhân dễ sai lầm là con người giới thiệu Thiên Chúa cho chúng ta. Ngày nay, chuyện phổ biến, thậm chí còn là thời thượng khi người ta chỉ xem lại những gì tiêu cực trong giáo dục tôn giáo thuở nhỏ. Đúng là nhiều người nói về “tái sinh” khỏi giáo dục tôn giáo và thường quy mọi bất hạnh và rối loạn trong đời họ cho giáo dục tôn giáo này.

Chắc chắn, một số khẳng định như thế là có lý, giáo dục tôn giáo thuở nhỏ thật sự để lại một dấu tích không phai trong chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta có trách nhiệm với bản thân, với cha mẹ, giáo viên thời thơ ấu và với sự trung thực, trong việc phải xác định những điều tích cực và tiêu cực trong giáo dục tôn giáo thuở nhỏ. Và như bà Mary Oliver, chúng ta cần làm hòa với nó, dù chúng ta không thể tặng cho nó nụ hôn đồng tình.

Câu chuyện của riêng tôi là gì? Với tôi, sự tỉnh ngộ về ý thức và tỉnh ngộ về Thiên Chúa và Giáo hội là hai điều liên kết không thể phân ly. Tôi hấp thụ bầu khí công giáo la-mã thời đó, và đó là công giáo thời tiền Vatican II, một tinh thần công giáo đầy những chuyện tiêu cực lẫn tích cực. Lòng đạo thuở nhỏ của tôi là những chân lý tuyệt đối, những luật không thể thương lượng, nhưng lại đòi hỏi cao, cả tính bè phái và hạn hẹp bao gồm. Chúng ta và chỉ chúng ta mới có đức tin thật, duy nhất. Hơn nữa, những điều này được viết ra bởi một Thiên Chúa theo dõi sát sao hành động con người, không dễ dàng cho phép chúng ta lỗi phạm, giữ điều răn thứ sáu trên tất cả, dùng xấu hổ làm khí cụ và thường hay cau mày giận dữ.

Nhưng đó còn lâu mới là tất cả. Mặt tích cực của nó thì có quá nhiều. Gia đình, cộng đoàn, và Giáo hội đã rửa tội cho tôi, có những mối liên kết chung mà hầu hết các cộng đồng thời nay chỉ có thể ganh tị. Bạn thật sự là một phần của một thân thể, một gia đình, một cộng đoàn là hiện thân của ý thức siêu việt đã làm cho đức tin thành điều tự nhiên, làm cho cộng đoàn thành một phần cuộc đời của bạn. Bạn biết mình là con cái Thiên Chúa và bạn cũng biết mình là tạo vật luân lý có trách nhiệm thật sự với tha nhân và Thiên Chúa. Bạn biết ý nghĩa bất diệt của mình, phẩm giá căn bản của mình và trách nhiệm luân lý đến từ đó và bạn không thể miễn trừ mình khỏi chuyện đó.

Và tất cả những điều này truyền cho bạn một chân lý tôn giáo, luân lý, rất căn bản và không thể thương lượng, rằng sự sống của bạn không đơn thuần là của bạn để bạn muốn làm gì thì làm. Bạn biết rằng trừ khi bạn bội tín, bạn không thể làm ngơ sự thật là bạn mang tính xã hội, phụ thuộc lẫn nhau, thuộc về Giáo hội, và sự thật rằng Thiên Chúa cho bạn xuất hiện trên đời không phải chỉ để mưu cầu cuộc sống tốt đẹp cho riêng bạn. Bạn có ơn gọi, một bổn phận nào đó để phục vụ, và Thiên Chúa, gia đình, cộng đoàn và Giáo hội có thể đòi hỏi bạn hy sinh mạng sống. Ngày nay, tôi thấy phần này trong tâm hồn mình là một trong những ơn quý báu nhất tôi đã nhận được từ linh đạo thuở nhỏ. Dù nó có kèm theo những con quái vật xấu xa nào, nó cũng vẫn xứng đáng.

Thêm nữa, quái vật có thể bị xua trừ và hầu hết quái vật bị chôn trong giáo lý căn bản tôi học hồi nhỏ đã dần dần bị tiêu diệt qua năm tháng. Điều gì đã giúp làm được như thế? Nhiều điều lắm: những năm học và dạy thần học, đọc sách hay, có linh hướng tốt, thấy được sự lành mạnh hân hoan và thiết thực nơi những người có đức tin, kiên trì trong nỗ lực trung thành với việc cầu nguyện, thánh lễ và cộng đoàn Giáo hội suốt bảy thập kỷ, và cuối cùng, nhưng quan trọng, chính là nhờ ơn Thiên Chúa.

Ngày nay, tôi có thể nhìn lại giáo dục tôn giáo thưở nhỏ của tôi và thấy sự tiêu cực bị điều tích cực át hẳn. Tôi biết ơn tất cả, kể cả những nghiêm khắc, dọa dẫm, bè phái, sợ hãi, và những nỗi sợ sai lầm về Thiên Chúa, bởi vì trong mọi sự này có gì đó đã truyền cho tôi và dạy tôi điều gì là quan trọng nhất. Thật vậy, sự nghiêm khắc, dọa dẫm, bè phái và cẩn trọng quá đáng không tệ để làm điểm xuất phát, vì khi dần thoát khỏi chúng, chúng ta được tự do suốt phần đời còn lại. Một ơn không nhỏ!

Không vũ trang nhưng lại nguy hiểm

Sau khi bị bắt lần đầu tiên, nhà hoạt động xã hội theo chủ trương hòa bình Daniel Berrigan bỏ trốn. Bốn tháng sau, cha bị bắt, nhưng trong những tháng lẩn trốn này, dù không làm hại ai, nhưng cha bị đưa vào danh sách 10 người bị truy nã gắt gao nhất của FBI. Chuyện này có cái mỉa mai không dễ bỏ qua. Có người đã làm bức poster hình của cha kèm dòng chữ:

Truy nã – Kẻ hiến thánh bánh rượu khét tiếng. Chuyên quấy rối chiến tranh và là tội phạm đốt giấy! Kẻ lẩn trốn được cho là cầm một quyển Kinh Thánh và phải cực kỳ thận trọng khi đến gần. Không vũ trang nhưng lại nguy hiểm.

Không vũ trang nhưng lại nguy hiểm! Nghe tức cười thật, nhưng nó thể hiện rõ mối đe dọa đối với bất công, bạo lực và chiến tranh. Không có vũ trang là nguy hiểm. Một người thật sự không có vũ trang cuối cùng lại là mối nguy lớn nhất cho hỗn loạn, vô luân và bạo lực. Bạo lực có thể chịu đựng bạo lực, nhưng sẽ bị triệt hạ dưới tay phi bạo lực. Đây là một số ví dụ:

Thế hệ chúng ta có tấm gương của linh mục người Pháp Christian de Cherge, một trong bảy tu sĩ dòng Xitô đã bị phiến quân hồi giáo bắt cóc và giết hại ở Algeria năm 1996. Hành trình của ngài và của các tu sĩ khác đã cùng chết với ngài, được thuật lại trong nhiều sách (gồm một vài lá thư và nhật ký của ngài) và còn trong bộ phim đoạt giải thưởng, Of Gods and Men (Của các vị thần và con người). Sống trong một cộng đoàn nhỏ gồm chín tu sĩ ở một ngôi làng hồi giáo hẻo lánh tại miền Bắc Algeria, các tín hữu kitô và cộng đoàn của ngài được dân chúng hồi giáo yêu mến. Là công dân Pháp và được hưởng sự bảo vệ nhờ có quốc tịch Pháp, sự hiện diện của các tu sĩ đem lại một sự bảo vệ nào đó cho dân làng trước quân khủng bố hồi giáo. Nhưng chuyện này không kéo dài được lâu.

Vào đêm Giáng Sinh năm 1995, quân khủng bố lần đầu tiên đến nơi các tu sĩ ở với lời cảnh báo rõ ràng, họ phải rời đi trước khi trở thành nạn nhân của chúng. Cả chính phủ Pháp và Algeria đều đề nghị hỗ trợ bảo vệ có vũ trang. Cha Christian, ban đầu hành động một mình, đi ngược lại ý kiến của đa số trong cộng đoàn, nhất quyết không nhận sự bảo vệ có vũ trang. Thay vào đó, cha cầu nguyện: Đối diện bạo lực này, lạy Chúa, xin hãy giải trừ vũ khí chúng con. Phản ứng của ngài trước mối đe dọa này là giải trừ vũ khí hoàn toàn. Cuối cùng, cả cộng đoàn hiệp cùng ngài trong lập trường đó.

Sáu tháng sau, họ bị bắt cóc và bị giết, nhưng vinh quang là của họ. Chứng tá trung tín của họ là món quà uy lực nhất họ có thể cho dân làng yếu ớt và tội nghiệp mà họ muốn bảo vệ, và chứng tá luân lý của họ cho thế giới sẽ nuôi dưỡng nhiều thế hệ về sau, khi con đường chủ nghĩa khủng bố này dữ dội vùng lên. Christian de Cherge và cộng đoàn của ngài không có vũ trang nhưng lại nguy hiểm.

Có vô số mẫu gương tương tự của những người không có vũ trang nhưng lại nguy hiểm. Bà Rosa Park, không vũ trang và dường như bất lực trước luật lệ kỳ thị chủng tộc thời đó, như mục sư Martin Luther, bà là một trong những nhân vật then chốt chấm dứt sự phân chia xã hội kỳ thị chủng tộc ở Mỹ. Danh sách những người nguy hiểm không có vũ trang còn dài: Mahatma Gandhi, Thomas Merton, Dorothy Day, Desmond Tutu, Oscar Romero, Franz Jagerstatter, Dorothy Stang, Daniel Berrigan, Elizabeth McAlister, Michael Rodrigo, Stan Rother, Jim Wallis, và nhiều người khác. Dĩ nhiên, không thể thiếu Chúa Giêsu.

Chúa Giêsu không có vũ trang và quá sức nguy hiểm đến độ nhà cầm quyền thời đó buộc phải giết Ngài. Sự tuyệt đối phi bạo lực của Ngài đã tạo nên mối nguy hiểm tận cùng cho trật tự mà họ thiết lập. Hãy để ý cả nhà cầm quyền dân sự và tôn giáo thời đó đều không quá sợ hãi một kẻ giết người có vũ khí cho bằng sợ một Giêsu không vũ khí… Hãy thả Barabbas! Chúng ta thà đương đầu với một kẻ giết người có vũ trang còn hơn đương đầu với một người tuyên bố phi bạo lực và khuyên người khác hãy giơ má kia ra! Làm như thế đúng là khôn. Một cách vô thức, họ công nhận mối nguy hiểm thực sự là một người không vũ lực, phi bạo lực và giơ má kia cho người ta tát.

Tuy nhiên, phải hiểu chuyện “giơ má kia” một cách đúng đắn. Đây không phải là loại hành động tiêu cực và quy phục. Ngược lại thì đúng hơn. Khi khuyên như thế, Chúa Giêsu nói rõ là cả má kia. Tại sao lại nói cụ thể như vậy? Vì Ngài đang nói đến một việc làm theo văn hóa thời đó, một bề trên có thể theo nghi thức, đánh người cấp dưới vào má, không phải với ý định làm đau cho bằng làm cho người đó biết thân biết phận – Tôi là bề trên của ngươi, hãy biết chỗ của mình! Cái tát đó được thực hiện bằng cách vung mu tay phải với người đối diện, như thế sẽ đánh vào má phải của họ. Nếu làm như thế, bạo lực thật sự trong hành động đó vẫn ẩn đi, bởi vì nó trông gọn gàng, đẹp đẽ, là một việc được chấp nhận về mặt văn hóa.

Tuy nhiên, nếu người kia giơ má kia ra, má trái, thì bạo lực sẽ bị phơi bày. Như thế nào? Trước hết, cái tát giờ sẽ đánh một cách vụng về và trông bạo lực, thứ hai, người nhận cái tát đó đang gởi đi một tín hiệu rõ ràng. Sự thay đổi tư thế không chỉ phơi bày bạo lực mà còn nói rằng, anh vẫn tát tôi đấy, nhưng không phải như bề trên tát kẻ dưới, trật tự cũ hết rồi.

Không vũ trang nhưng lại nguy hiểm. Không trang bị vũ khí nào ngoài sự chính trực chính là mối đe dọa lớn nhất đối với những chuyện không đúng đắn.

Tại sao lại có gì thay vì không có gì?

Thần học gia người Bỉ, Jan Walgrave, người hướng dẫn tôi làm luận án tiến sĩ là nhà trí thức đích thực và hiếm có. Đích thực là vì suy nghĩ của giáo sư tự nhiên và theo bản năng hướng về những chất vấn triết học to lớn về bản chất và hiện hữu. Tại sao chúng ta ở đây? Chúng ta thật sự là gì? Hơn nữa, thầy còn là một nhà trí thức hiếm có, vì thầy là sự kết hợp lạ thường giữa sự kiểm xét trí thức cứng rắn và lòng sùng đạo ngây thơ. Thầy có uy lực cả trong sự tinh vi tri thức và sự ngây thơ như trẻ con của mình.

Trong một lần chúng tôi gặp nhau, thầy hỏi tôi: “Cha có bao giờ ngồi ở ghế đá công viên và tự hỏi mình: tại sao lại có gì đó thay vì không có gì không?” Tôi thành thật trả lời: “Thật tình, con chẳng nhớ nổi có khi nào con nghĩ chính xác như thế hay không. Như mọi người khác, con thường tự hỏi chúng ta phát xuất từ đâu và làm sao có một Thiên Chúa ẩn sau tất cả mọi sự này, nhưng con chưa hề suy ngẫm chính xác câu hỏi này”. Thầy bảo tôi: “Vậy cha không phải là triết gia rồi! Tôi nghĩ về câu hỏi này suốt, nó là câu hỏi quan trọng nhất trong mọi câu hỏi” (Thầy cũng an ủi tôi về chuyện tôi không bao giờ có thể thành triết gia thực thụ, bảo rằng tôi có “trí óc phong phú”, một ơn riêng của tôi).

Tại sao lại có gì đó thay vì không có gì? Chắc chắn nó là câu hỏi tận cùng. Mọi sự khởi đầu như thế nào? Người nào hay cái gì đã có lúc ban đầu và khởi đầu tất cả? Hơn nữa, người hay sự này từ đâu mà ra, ai tạo nên khởi đầu?

Khoa học đương thời không thể trả lời câu hỏi này. Nó có thể cho chúng ta biết đã có chuyện gì khi vũ trụ này khai sinh, là vụ nổ Big Bang, nhưng nó không cho chúng ta câu trả lời nào cho câu hỏi lớn hơn, cụ thể là ai hay sự gì đã khởi đầu cho vụ nổ ban đầu cách đây gần 15 tỷ năm đó, vụ nổ đã khai sinh vũ trụ chúng ta và hàng tỷ thiên hà khác? Lực này tự hiện hữu như thế nào?

Là người có đức tin, chúng ta tin chính Thiên Chúa là khởi đầu đó, và tin rằng Thiên Chúa không có khởi đầu. Tuy nhiên, đây là chuyện chúng ta không thể khái niệm hóa hay hình dung nổi. Điều gì khai sinh Thiên Chúa? Dù tin Thiên Chúa hay không, chúng ta đều có một câu hỏi, câu hỏi của thầy Walgrave, “tại sao lại có gì đó thay vì không có gì?” Hơn nữa, câu hỏi đó còn bị phức tạp hơn bởi sự thật rằng sự tạo dựng, ít ra là phần lớn trong đó, có một thiết kế thông minh rõ ràng. Với sự thật đó, định đề khả tín nhất về chuyện ai hay sự gì khởi đầu vạn vật, đòi buộc rằng sự này hay người này không phải là một lực thô bỉ mù quáng mà là một lực thông minh và riêng tư.

Thánh Tôma Aquinô, người có tâm thức triết học đích thực, từng đề xuất một vài lập luận lô-gích để cố chứng minh Thiên Chúa hiện hữu. Trong số đó, có lập luận này: Cứ hình dung chúng ta đang đi trên đường, thấy một hòn đá nằm trên mặt đất và hỏi: “Ai đặt viên đá ở đây?” Chúng ta có thể đơn giản kết luận, hòn đá luôn ở đó và không suy nghĩ gì thêm. Tuy nhiên, cứ hình dung chúng ta đang đi trên đường, thấy một cái đồng hồ đeo tay vẫn đang chạy và tự hỏi: “Ai đặt cái đồng hồ ở đây?” Trong trường hợp này, chúng ta không thể đơn giản cho rằng nó luôn nằm ở đó. Tại sao lại thế? Bởi vì cái đồng hồ có một thiết kế thông minh rõ ràng cần có trí tuệ thiết kế ra nó. Hơn nữa, nó vẫn chỉ giờ, chứng tỏ không phải nó nằm ở đó bao lâu nay rồi. Có ai để nó ở đó, ở một lúc nào đó. Do vậy, Thánh Aquinô kết luận vì nhiều thứ trong vũ trụ có thiết kế thông minh, hẳn phải có một nhà thiết kế thông minh khởi đầu nó.

Ngày nay, hầu hết mọi người xem lô-gích đó là hơi ngây thơ, nhưng có lẽ họ mới ngây thơ. Chính nhà bác học Albert Enstein đã khẳng định: Sự hòa hợp của luật tự nhiên cho thấy một thông minh thượng đẳng mà so với nó, mọi suy nghĩ và hành động mang tính hệ thống của nhân loại chỉ là những phản ảnh tầm thường.

Ông nói đúng, và sự hòa hợp mà ông nói đến không chỉ là sự hòa hợp sinh thái không thể hiểu thấu vốn có nơi mọi yếu tố của thế giới vật chất và sự tái sinh kỳ diệu của tự nhiên bất chấp mọi việc chúng ta làm để phá hủy sinh thái của nó. Hơn cả thế, sự hòa hợp của luật tự nhiên (theo cách nói của Enstein) còn bao gồm một sự thống nhất không thể chối bỏ giữa luật tự nhiên và luật luân lý. Luật của nghiệp và luật tự nhiên là như nhau, là một, cũng như luật hấp dẫn và Chúa Thánh Thần. Vật chất và tinh thần là những phần của một hòa âm duy nhất. Không khí chúng ta thở ra là không khí chúng ta hít vào – cả về vật chất lẫn tinh thần. Tôi hiếm khi ngồi trên ghế đá công viên và tự hỏi, “tại sao lại có gì đó thay vì không có gì?” Nhưng mà như thầy Jan Walgrave nói, tôi không phải là triết gia. Tôi chỉ hy vọng cuộc dạo chơi nhỏ này vào triết học không phải là bằng chứng cho chuyện đó!

Các cám dỗ của người tốt

Nhiều người trong chúng ta đã quen với câu trích của nhà thơ T.S. Eliot; Sự cám dỗ cuối cùng là kho báu lớn nhất; làm hành động đúng với lý do sai. Theo ông, đây là cám dỗ của người tốt. Cám dỗ là gì?

Trong Phúc âm Thánh Gioan, Chúa Giêsu hỏi những người nghe Ngài: “Các ông tôn vinh lẫn nhau và không tìm kiếm vinh quang phát xuất từ Thiên Chúa duy nhất, thì làm sao các ông có thể tin được?” Thách thức của Chúa Giêsu ở đây là gì? Là: Chúng ta có thể làm tất cả những điều đúng đắn, kiên trì trung thành, chống mọi thỏa hiệp, thậm chí còn chấp nhận tử đạo – nhưng tại sao? Để được tôn trọng? Được ngưỡng mộ? Để có được sự chấp thuận? Để có được một danh thơm vĩnh viễn cho chính mình?

Không phải những lý do này là tốt và cao quý đủ sao?

Đúng, chúng tốt và cao quý. Tuy nhiên như nhà thơ T.S. Eliot gợi ý trong tác phẩm Giết người trong nhà thờ chính tòa (Murder in the Cathedral), một cám dỗ có thể tự thể hiện như một ân sủng, và đó có thể là một trạng huống nếu xét về mặt đạo đức. Nhà thơ minh họa điều này qua cuộc đấu tranh của nhân vật chính Thomas a Beckett. Beckett là tổng giám mục Canterbury từ năm 1162 cho đến khi ngài bị sát hại tại Nhà thờ chính tòa của ngài năm 1170. Như Eliot trình bày, Beckett làm tất cả những điều đúng đắn. Ông là người vị tha, trung thành triệt để, cự lại với mọi thỏa hiệp, và sẵn sàng chấp nhận tử đạo. Tuy nhiên, như Eliot nhấn mạnh, đây có thể là “những cám dỗ của người tốt” và có thể phải mất một thời gian (và sự trưởng thành sâu đậm hơn) để phân biệt một số cám dỗ với ân sủng. Vì thế Eliot đã viết những câu thoại nổi tiếng:

Bây giờ cách của tôi là rõ ràng; bây giờ nghĩa đơn giản: Cám dỗ sẽ không xuất hiện trong loại hình này một lần nữa.
Cám dỗ cuối cùng là phản bội lớn nhất:
Làm điều đúng với lý do sai. …
Đối với những người phục vụ cho sự nghiệp vĩ đại hơn
Làm cho chính nghĩa phục vụ họ.

Những người phục vụ cho mục đích cao cả hơn có thể dễ dàng làm cho chính nghĩa phục vụ họ, họ mù quáng trước động cơ của họ.

Không phải tất cả chúng ta đều biết điều đó! Những người trong chúng ta làm việc trong sứ vụ, giảng dạy, quản lý, truyền thông, nghệ thuật, và những người trong chúng ta là người Samaritanô tốt bụng thường giúp đỡ mọi nơi, điều gì cuối cùng thúc đẩy năng lực chúng ta khi chúng ta làm tất cả những việc tốt này?

Đúng, động lực hiếm khi đơn giản là minh bạch. Chúng ta là một sinh vật phức tạp, thường bị tra tấn về động lực. Dưới đây là câu chuyện ngụ ngôn nhỏ về động lực từ truyền thống sufi ngụ ý chúng ta không có một động lực duy nhất mà có nhiều động lực. Câu chuyện ngụ ngôn đi theo hướng này.

Có một vị thánh, một guru nổi tiếng thông thái, ông sống gần đỉnh núi. Một ngày nọ, có ba ông đến trước cửa nhà ông để xin lời khuyên. Ông đặt câu hỏi đầu tiên: “Bạn leo lên ngọn núi này để gặp tôi vì tôi nổi tiếng hay vì bạn thực sự muốn hiểu biết một cái gì thông tuệ?” Người đàn ông trả lời, “Thành thật mà nói, tôi đến gặp ông vì danh tiếng của ông, tuy nhiên, tất nhiên, tôi cũng muốn nhận một số lời khuyên”. Nhà hiền triết bỏ ông qua, “Ông vẫn chưa sẵn sàng để học.” Quay sang người thứ hai, ông cũng hỏi cùng câu hỏi, “Lý do thực sự mà anh leo lên ngọn núi để gặp tôi là gì?” Câu trả lời của ông này khác, “Không phải danh tiếng của ông làm cho tôi đến đây, tôi không quan tâm đến điều đó. Tôi muốn học ở ông”. Ngạc nhiên, nhà hiền triết cũng gạt ông này qua một bên, và nói ông này cũng chưa sẵn sàng để học.

Quay sang người thứ ba, “Bạn leo lên ngọn núi này để gặp tôi vì tôi nổi tiếng hay vì bạn thực sự muốn đi tìm một lời khuyên?” Người thứ ba trả lời, “Thành thật mà nói, là cả hai lý do và có thể vì một số lý do khác mà tôi không biết. Tôi muốn gặp ông vì ông nổi tiếng và tôi cũng thực sự muốn học hỏi ở ông, nhưng tôi cũng không biết đó đúng thật là những lý do thực sự để tôi gặp ông không”. Người thầy thánh thiện nói, “Bạn đã sẵn sàng để học”.

Nhà thơ Eliot giới thiệu nhân vật chính của mình trong quyển Giết người ở nhà thờ chính tòa như một người đàn ông làm tất cả những điều đúng đắn, được công nhận vì lòng tốt của mình, nhưng vẫn phải tự kiểm tra xem động lực thực sự của mình khi làm những việc này là gì. Điều mà Eliot nhấn mạnh là điều gì đó sẽ mang lại cho tất cả chúng ta, những người đang cố gắng trở thành những người tốt, có đạo đức, trung thành, hãy dừng lại để suy ngẫm, xem xét kỹ lưỡng và cầu nguyện. Động lực thực sự của chúng ta là gì? Điều này có nghĩa bao nhiêu là động lực muốn giúp đỡ người khác và bao nhiêu là cho mình, để được tôn trọng, ngưỡng mộ, danh thơm – và có cảm nhận tốt về mình?

Đây là câu hỏi khó và có lẽ cũng không phải là câu hỏi công bằng, nhưng là một câu hỏi cần thiết, nếu được hỏi, có thể giúp chúng ta trên hành trình đi tìm một mức độ trưởng thành sâu đậm hơn. Cuối cùng, chúng ta đang làm những điều tốt vì tốt cho người khác hay vì tốt cho chính chúng ta?

Khi chúng ta trần trụi phơi bày trước câu hỏi này, chúng ta có thể nhận được một chút an ủi trong thông điệp có trong dụ ngôn Sufi. Mặt này của động lực vĩnh cửu của chúng ta rất phức tạp và hỗn hợp về mặt bệnh lý.

Đương đầu với linh hồn mình

Chúng ta có nhiều ảnh của thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu. Chị Céline của Thánh Têrêxa đã chụp nhiều ảnh của Têrêxa, nhưng trên những ảnh này có một điểm đáng chú ý. Nữ tu dòng người Anh dòng Cát Minh Ruth Burrows từng nghiên cứu những tấm ảnh này, sơ thấy trong các bức ảnh đó, không hiểu vì sao Têrêxa luôn cô đơn, kể cả khi chụp ảnh chung.

Đây là điều bất thường. Têrêxa là người thân ái, nồng hậu, giỏi giao tiếp và được quá nhiều người yêu mến. Nhưng trong mọi tấm ảnh chụp, kể cả khi chụp Thánh Têrêxa chụp chung với gia đình mà ngài thương yêu hết lòng, vẫn luôn có một nỗi cô đơn nào đó, một sự cô độc rõ ràng. Tuy nhiên, cô đơn mà ngài thể hiện không phải kiểu cô độc của người xung khắc với gia đình và cộng đồng, mà là một tách biệt nào đó của linh hồn, một điều có thể gọi là nỗi cô đơn tinh thần. Nó là gì? Linh hồn của chúng ta có thể cô đơn khi đang đắm mình trong tình bạn, tình yêu và gia đình sao?

Có, và nó đúng với tất cả chúng ta, đúng với thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu và đúng với Chúa Giêsu.

Nhìn vào các sách phúc âm mô tả cuộc thương khó và cái chết của Chúa Giêsu, chúng ta thấy điều mà các thánh sử nhấn mạnh không phải là nỗi đau thể xác. Trong khi những đau đớn thể xác đó rất khủng khiếp, nhưng các phúc âm không chăm chăm vào đó. Điều mà các thánh sử nêu bật là sự thống khổ về cảm xúc của Chúa Giêsu, sự cô độc, cô đơn của linh hồn khi Ngài chịu khổ nạn và chịu chết. Các phúc âm viết, trong giờ tuyệt vọng nhất, khi chỉ còn một mình, bị bỏ rơi, bị phản bội, bị hiểu lầm, bị sỉ nhục, trở thành kẻ bị tất cả đồng lòng loại ra, thì nỗi đau khổ Ngài phải chịu là nơi tâm hồn hơn là thể xác.

Phúc âm theo thánh Luca nói, cơn thống khổ của Ngài diễn ra trong vườn Giếtsêmani. Và điều này thể hiện quá rõ ràng. Chúa Giêsu cũng chịu đau khổ ở nhiều nơi khác, trong đền thờ, nơi sa mạc, ở quê nhà, nhưng cơn thống khổ khốc liệt nhất diễn ra trong vườn Giếtsêmani. Tại sao lại là trong vườn? Như chúng ta biết, trong khuôn mẫu văn học, khu vườn không phải là nơi trồng rau, mà là nơi của niềm vui. Khu vườn hình mẫu là một nơi huyền bí của niềm vui, nơi tình nhân gặp gỡ, nơi bạn bè nâng chén thù chén tạc, nơi Adam và Eva trần truồng, ngây thơ, chưa biết đến tội. Chúa Giêsu đã đổ mồ hôi máu trong Vườn Cây Dầu không phải là Chúa Giêsu Thầy dạy, Chúa Giêsu Chữa lành hay Chúa Giêsu Làm phép lạ. Trong vườn, Ngài là Chúa Giêsu người yêu, một người vui mừng trong tình yêu và đau khổ trong tình yêu, và Ngài gọi mời chúng ta đến với khu vườn của đau khổ, thân mật và vui mừng này.

Các phúc âm nhấn mạnh, điều Chúa Giêsu chịu đựng nhất khi bị đóng đinh không phải là nỗi đau của đòn roi và bị đóng đinh xuyên qua tay, nhưng là sự cô đơn sâu sắc của tâm hồn, một nỗi đau quá lớn so với những đau đớn thể xác kinh khủng đó. Chúa Giêsu không phải là một chiến sĩ về thể chất, nhưng là chiến sĩ về tinh thần, đang chiến đấu với tâm hồn mình.

Sự cô đơn tinh thần là gì?

Lần đầu tiên tôi gặp từ này là khi đọc những bài viết của tác giả Robert Coles mô tả bà Simone Weil. Và từ này nói lên, trong mỗi người chúng ta có một chốn thâm sâu, một tâm điểm thuần khiết, nơi mọi dịu hiền, thiêng liêng, đáng trân quý được giữ gìn và bảo vệ. Chính ở đó, chúng ta là chính mình một cách chân thực nhất, chân thành nhất và ngây thơ nhất. Đó là nơi chúng ta vô thức nhớ ra rằng, rất lâu trước khi có ý thức, chúng ta đã được nâng niu bởi đôi tay êm ái hơn đôi tay của chúng ta nhiều. Đó là nơi chúng ta vẫn cảm nhận được nụ hôn ban đầu của Thiên Chúa.

Ở nơi này, hơn bất kỳ nơi nào khác, chúng ta sợ sự khắc nghiệt, vô lễ, sỉ nhục, giễu cợt, bạo hành, dối trá. Ở nơi này, chúng cực kỳ dễ bị tổn thương và vô cùng cẩn trọng về việc để cho ai bước vào không gian này, dù không gian sâu sắc nhất của chúng ta là tìm được ai đó để chia sẻ không gian này với mình. Hơn cả khao khát tìm được ai đó ngủ cùng mình về mặt tình dục, chúng ta khao khát ai đó ngủ cùng mình ở không gian đó về mặt tinh thần, trở thành người tri kỷ của mình. Khao khát thâm sâu nhất của chúng ta chính là được hòa hợp về tinh thần.

Nhưng không dễ có được thế. Người bạn đời tinh thần hoàn hảo rất hiếm gặp, kể cả trong tình bạn hoặc trong một hôn nhân tốt đẹp. Và chúng ta luôn mãi đối diện với một cám dỗ kép: Giải quyết xung lực này bằng cách an phận với những thứ bù đắp nào đó, giúp ta sống qua tạm hôm nay, hoặc tệ hơn nữa, vì chúng ta quá nhức nhối không thể sống nỗi, nên đã thả mình chiều theo cay đắng, giận dữ và cay nghiệt, khinh rẻ ước mơ lớn lao của mình. Dù cách này hay cách khác, chúng ta đều bán rẻ mình và an phận với cái tốt thứ hai.

Trong cuộc đấu tranh của Chúa Giêsu với nỗi cô đơn tinh thần, có điều gì đó để chúng ta rút ra không? Đó là Ngài từ chối cả chấp nhận thứ bù đắp và chai đá tâm hồn. Ngài vẫn tiếp tục hành trình và đưa xung lực này đến điểm tới hạn của nó.

Sự cô đơn tinh thần của chúng ta có thể kinh khủng lắm. Tuy nhiên, nó không phải là sự phê chuẩn hay lời mời gọi để bắt đầu từ bỏ những cam kết, trách nhiệm, luân lý, hay bất kỳ điều gì cần thiết để tìm được người tri kỷ khó tìm mà chúng ta thiết tha mong mỏi. Điều mà Chúa Giêsu (và những người như Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu và triết gia Simone Weil) làm gương cho chúng ta, chính là cách mang lấy xung lực đó một cách lý tưởng, cách để đưa cô độc của mình lên một tầm cao mới, và cách để bất chấp đang đau đớn như thế nào, cũng vẫn đương cự lại việc xem cái tốt thứ hai như là cái tốt nhất có thể.