RonRolheiser,OMI

Đôi mắt đăm đăm nhìn ánh sáng

Trong quyển sách Sự khôn ngoan nơi bàn bếp – Những câu chuyện chữa lành (Kitchen Table Wisdom, Stories That Heal), bác sĩ kiêm nhà văn Rachel Naomi Remen đã chia sẻ câu chuyện sau.

Năm 14 tuổi, bà nhận việc làm thêm mùa hè tình nguyện viên ở nhà dưỡng lão. Việc này không mấy dễ dàng với bà. Bà còn nhỏ tuổi, ngại ngùng và gần như sợ người người lớn tuổi. Một hôm, bà được phân công ngồi một giờ với một bà 96 tuổi, suốt cả năm chưa nói câu nào và đang bị mất trí nhớ nặng. Rachel cầm theo một túi hạt thủy tinh, dự định có thể cùng bà xâu chuỗi hạt với mình. Nhưng chẳng được thế.

Rachel gõ cửa, không ai trả lời, cô vào và thấy bà cụ đang ngồi trên ghế, mắt nhìn đăm đăm qua cửa sổ. Rachel kéo ghế ngồi cạnh bà, và suốt một tiếng cô cố kéo ánh mắt bà ra khỏi khung cửa. Nhưng chẳng thành công. Theo lời kể của bà thì “căn phòng thinh lặng một cách tuyệt đối”. Bà cụ chưa một lần nhận thấy sự hiện diện của Rachel, cũng chưa hề nhìn cô, mà cứ liên tục nhìn chăm chăm ra cửa sổ.

Khi chuông reo báo hiệu đã qua một tiếng, Rachel đứng dậy, cô hỏi bà: “Nãy giờ bà nhìn gì vậy ạ?” Bà cụ trả lời: “Sao con lại hỏi thế, bà nhìn vào ánh sáng mà”. Rachel sửng sốt, không phải bởi sự lạ thường nơi lời nói, nhưng do một diễn xúc lạ thường, một say mê trên gương mặt bà cụ. Cô bé Rachel 14 tuổi chẳng biết sau biểu cảm lạ thường đó là gì. Phải mất nhiều năm, Rachel mới hiểu ra.

Rachel đã là bác sĩ sản khoa, nhi khoa. Khi bà đỡ đẻ lần đầu tiên, đứa bé ra đời đã mở mắt, bà nhìn thấy trong gương mặt đứa bé biểu cảm mà nhiều năm về trước bà đã thấy nơi bà cụ. Đứa bé cũng nhìn vào ánh sáng, vô thức, im lặng, rạng rỡ, đôi mắt dán chặt vào ánh sáng mà nó chưa từng thấy.

Có gì tương đồng giữa biểu cảm của một đứa bé lần đầu tiên mở mắt nhìn đời và của một bà cụ chăm chăm nhìn về phía ánh sáng? Rachel Remen có một hình ảnh lột tả được điều này.

Về căn bản, nếu ta sống đủ lâu, sẽ có lúc những phương thức nhận thức cũ của chúng ta sẽ không còn hữu ích nữa, lòng chúng ta sẽ buộc phải hướng về những thứ vượt trên những vết thương của chúng ta, những bất an của chúng ta sẽ tan biến cả và chúng ta sẽ chăm chăm hướng mắt về một ánh sáng khác. Điều này sẽ thay đổi triệt để cái nhìn của chúng ta, xóa bỏ hết mọi thứ từng có lý, cho chúng ta trở nên trẻ sơ sinh, câm lặng chăm chăm nhìn vào điều chưa biết, vào ánh sáng mời gọi đó. Tại sao lại thế? Chuyện là thế nào?

Khi trẻ mới sinh, nó rời một nơi nhỏ bé, hạn chế và tối tăm, nhưng lại bảo bọc, nuôi dưỡng và an toàn. Nó cũng rời nơi duy nhất nó từng biết, và có thể nó chẳng biết điều gì đang chờ mình khi sinh ra. Thật sự là, nếu đứa trẻ biết suy nghĩ một cách ý thức, chắc chắn nó sẽ khó lòng tin nổi có bất kỳ thứ gì, kể cả người mẹ mà nó chưa hề thấy, có tồn tại bên ngoài cung lòng này. Do đó, biểu cảm gương mặt của đứa trẻ khi lần đầu mở mắt nhìn ánh sáng sẽ là hoang mang, kinh sợ, mê ly.

Chúng ta sinh ra từ cung lòng này sang cung lòng khác. Chúng ta sống trong một cung lòng thứ hai, là thế giới của chúng ta, rộng lớn hơn, bớt hạn chế hơn, bớt tối tăm hơn, và cũng đem lại bảo vệ, nuôi dưỡng và an toàn như trong cung lòng mẹ. Gần như cả đời chúng ta, cung lòng thứ hai này tốt với ta, cho những thứ chúng a cần. Khi còn trẻ, khỏe, dường như chẳng có mấy lý do để chúng ta hướng ánh nhìn đến một ánh sáng khác. Cung lòng mà chúng ta đang sống cho chúng ta đủ ánh sáng rồi. Hơn nữa, nó cũng là nơi duy nhất chúng ta biết. Thật sự là, theo tự nhiên và chính mình, thì chúng ta không có gì chắc chắn rằng có một nơi nào khác ngoài nơi này.

Hơn nữa, chúng ta giống những đứa trẻ trong bụng mẹ ở điểm này. Từ thời điểm thụ thai, tiền định cho đứa trẻ là nó sẽ phải sinh ra. Sẽ đến lúc nó phải bước vào một thế giới rộng lớn hơn. Và chúng ta cũng thế. Chúng ta cũng được tiền định sẽ phải sinh ra, ra khỏi cung lòng hiện thời của mình. Do đó, như đứa trẻ trong bụng mẹ, chúng ta cũng có sự “điên rồ” đối với một ánh sáng lớn lao hơn.

Trong bài thơ Khao khát linh thánh (The Holy Longing), Johann Wolfgang von Goethe đã diễn tả điều này một cách thi vị như sau:

Bây giờ ta đã hết chìm sâu
Ngập trong ám ảnh với bóng tối
Khao khát ân ái cao bội phần
Đang đẩy ta lên, lên thật cao
Xa xôi không làm ta nản chí,
Vì giờ diệu kỳ ta đang bay,
Cuối cùng cuồng điên vì ánh sáng
Hóa thân thành bướm bay đi xa.

Dòng dõi kỳ lạ của Chúa Giêsu

Câu chuyện trọn vẹn về cách Chúa Giêsu Kitô ra đời có những yếu tố mà chúng ta thường không dễ hình dung ra khi hát những bài thánh ca Giáng Sinh. Phả hệ của Chúa Giêsu khó hoàn hảo, và theo học giả kinh thánh lừng danh Raymond Brown, thì chúng ta cần nhớ đến điều này khi muốn tin vào Chúa Giêsu nhưng muốn chối bỏ Giáo hội vì những bất toàn, tai tiếng và lịch sử tồi tệ. Chúa Giêsu được thụ thai vô nhiễm nguyên tội. Tuy nhiên, như các phúc âm đã làm rõ, gốc gác của Ngài cũng khủng khiếp không kém gì các tai tiếng của Giáo hội hiện thời.

Ví dụ như, khi cho chúng ta phả hệ của Chúa Giêsu, các thánh sử cho thấy có nhiều tội nhân, kẻ dối trá và âm mưu nằm trong dòng dõi huyết thống và lịch sử của Ngài, cùng với những thánh nhân, người lương thiện và đầy đức tin.

Ví dụ như, trong phả hệ của Chúa Giêsu có những người không hẳn là hiện thân cho yêu thương, công chính và thuần khiết của Chúa Giêsu. Abraham đã bất công ruồng rẫy Ismael và bà Hagar, mẹ của ông, viện dẫn Chúa ưu ái người này hơn người kia, ông Giacóp thì âm mưu và gian xảo, đã lấy quyền trưởng nam của Ê-sau; Đavid, người thường được liên hệ trực tiếp đến Chúa Giêsu, thì phạm tội ngoại tình rồi còn cho giết chồng của bà để che đậy cái thai ngoài ý muốn hòng cưới được bà.

Hơn thế nữa, những phụ nữ xuất hiện trong phả hệ của Chúa Giêsu không mấy tốt đẹp hơn. Một điều đáng chú ý, như tác giả Raymond Brown đưa ra, là những phụ nữ nào không được nhắc đến khi nói về nguồn gốc của Chúa Giêsu. Phúc âm không nhắc đến Sarah, Rebekah, hay Rachel, đều là những phụ nữ thánh thiện. Họ nhắc đến ai?

Họ nhắc đến Tamar, một phụ nữ Canaan, không thuộc Do Thái giáo, đã quyến rũ cha chồng của mình là Judah, với mục đích có con. Họ nhắc đến Rahab, cũng là người Canaan, người ngoại, và thật ra là một gái điếm. Tiếp theo, họ nhắc đến Ruth, một phụ nữ Moab, cũng không mang đức tin chính thức của thời đó. Rồi họ nhắc đến Bathsheba, một phụ nữ Hittite, một người ngoại, đã phạm tội ngoại tình với Đavid rồi âm mưu bảo đảm cho con mình được nối ngôi.

Tất cả những phụ nữ này đều có cuộc hôn nhân hoặc có thai, trong tình trạng tai tiếng hoặc bị ghẻ lạnh, nhưng mỗi người đều là một khí cụ thần thiêng để bảo tồn di sản tôn giáo đã cho chúng ta Chúa Giêsu. Không phải ngẫu nhiên khi các phúc âm liên kết những phụ nữ này với Đức Mẹ, mẹ Chúa Giêsu, vì Mẹ cũng có thai trong hoàn cảnh cấm kị và một cuộc hôn nhân khác thường.

Hơn nữa, ngoài những nhân vật kém thánh thiện trong phả hệ của Chúa Giêsu, chúng ta cũng thấy một vài tổ chức cấu thành do thái giáo cũng kém thánh thiện. Tôn giáo thể chế thời đó chịu nhiều vấn đề như thời nay, bao gồm lạm dụng quyền lực. Thật sự là, dân Israel (có lẽ họ biện minh cho hành động này bằng cái cớ trong việc ông Giacóp đã đối xử với ông Ê-sau) đã chiếm lấy đất của người Canaan, những người đã ở đó trước, và khẳng định rằng quyền sở hữu của họ là đặc quyền thần thiêng.

Cuối cùng, và không kém quan trọng, chúng ta cũng thấy rằng phả hệ đã cho chúng ta Chúa Giêsu, không chỉ dựng nên trên những người vĩ đại và tài năng, mà còn trên những người nghèo khổ và hèn kém. Trong danh sách tổ tiên của Chúa Giêsu, có một số người nổi danh, nhưng còn những người khác thì chẳng có gì đặc biệt hay quan trọng. Dòng dõi huyết thống của Chúa Giêsu được sinh ra từ những người vĩ đại và bé nhỏ, tài năng và bình thường, một cách cân bằng.

Chúng ta có thể nghiệm ra được gì từ điều này? Có lẽ tác giả Raymond Brown nói rõ ràng nhất. Ông nói, điều này nói lên rằng Thiên Chúa vẽ đường thẳng bằng những đường cong, và chúng ta không nên tiếp nhận một Chúa Kitô bị lý tưởng hóa quá mức, đồng thời, cuộc sống của chúng ta, nếu có yếu đuối và tầm thường, thì cũng quan trọng trong việc tiếp diễn câu chuyện nhập thể.

Như Brown nói: “Thiên Chúa viết ra khởi đầu bằng những đường cong và viết tiếp bằng những đường cong, một vài đường trong đó là cuộc đời và chứng tá của chúng ta. Thiên Chúa không ngần ngại dùng kẻ gian manh lẫn người cao thượng, kẻ ô uế lẫn người thuần khiết, kẻ bị thế giới khinh chê lẫn người được thế giới hướng về, Thiên Chúa vẫn hoạt động qua những người đó ngang nhau. Nếu việc nhận ra phần cuối trong phả hệ ở Phúc âm Thánh Mattêô với những người vô danh tiểu tốt chính là một phần lịch sử của Chúa Giêsu Kitô vốn đã khó, thì có lẽ việc nhận ra những nhân vật vô danh ngày nay thật ra là một phần thiết yếu của câu chuyện lại càng khó hơn nữa”.

Kitô giáo không chỉ dành cho người thuần khiết, tài năng, tốt đẹp, khiêm nhượng và lương thiện. Câu chuyện của Chúa Giêsu Kitô cũng được viết nên bởi những người ô uế, tội lỗi, mưu đồ, kiêu ngạo, bất lương và những người chẳng có tài năng gì. Chẳng ai là quá tệ, quá tầm thường, quá bất tài hoặc nằm ngoài đức tin đến nỗi phải nằm ngoài câu chuyện của Chúa Kitô.

Cơn giận của Thiên Chúa và cảm giác tội lỗi, hổ thẹn của chúng ta

Các giáo dục tôn giáo đầu đời của tôi, ngoài những điểm mạnh của nó, thường quá nhấn mạnh về nỗi sợ Thiên Chúa, sợ phán xét, sợ không bao giờ đủ tốt để Thiên Chúa hài lòng. Cung cách đó làm chúng tôi đọc theo nghĩa đen những đoạn Kinh thánh về Thiên Chúa giận dữ và phật lòng. Mặt tiêu cực của cách này là làm cho nhiều người trong chúng ta mang cảm giác tội lỗi, hổ thẹn và ghét mình, hiểu những cảm giác đó theo kiểu tôn giáo mà không biết rằng chúng có nguồn gốc tâm lý hơn là tôn giáo. Nếu bạn có cảm giác tội lỗi, hổ thẹn, ghét mình, thì đó là dấu hiệu cho thấy bạn không sống chuẩn, rằng bạn nên thấy hổ thẹn và Thiên Chúa không hài lòng về bạn.

Như triết gia Hegel từng nói, mọi chính đề cuối cùng đều sinh ra những phản đề của chính nó. Cả trong văn hóa và nhiều nhóm tôn giáo hiện nay, cung cách đó đã gây ra một phản ứng cay đắng. Đặc tính của Giáo hội và văn hóa hiện tại đã nhiệt tình tiếp nhận những thấu suốt của tâm lý học đương thời về mặc cảm tội lỗi, sự hổ thẹn và ghét mình. Chúng ta học từ Freud và nhiều người khác rằng, phần lớn những cảm giác tội lỗi, hổ thẹn và ghét mình của chúng ta thật ra là một rối loạn tâm lý, chứ không phải dấu hiệu cho thấy chúng ta đã làm gì sai. Cảm giác tội lỗi, hổ thẹn và ghét mình tự chúng không biểu lộ chúng ta không lành mạnh về mặt tôn giáo hay đạo đức, cũng không có nghĩa là Thiên Chúa không hài lòng về chúng ta.

Với thấu suốt này, ngày càng nhiều người bắt đầu quy trách nhiệm cho giáo dục tôn giáo về bất kỳ cảm giác tội lỗi, hổ thẹn và ghét mình nào của mình. Họ đã chế ra từ “rối loạn thần kinh kitô hữu” và đã bắt đầu nói về việc “phục hồi” từ các nhà thờ của họ.

Vậy thì chúng ta nói được gì về điều này? Về căn bản, một phần chuyện này lành mạnh, một chỉnh đốn cần thiết, dù một phần lại do sự ngây thơ của chính nó. Và nó đã dẫn chúng ta đến tình trạng ngày nay. Hôm nay, giới bảo thủ tôn giáo có khuynh hướng bác bỏ ý tưởng rằng cảm giác tội lỗi, hổ thẹn và ghét mình chủ yếu là một rối loạn thần kinh (và là do giáo dục tôn giáo), trong khi giới tự do tôn giáo lại ủng hộ quan niệm này. Ai nói đúng đây?

Tôi tin rằng một linh đạo cân bằng hơn kết hợp sự thật của cả hai lập trường sẽ đem lại một nhận thức sâu sắc hơn. Rút ra từ những gì tốt nhất của học thuật kinh thánh hiện thời và những gì tốt nhất trong tâm lý học đương đại, một linh đạo cân bằng hơn sẽ có những khẳng định này.

Trước hết, khi ngôn ngữ Kinh thánh bảo chúng ta rằng Thiên Chúa nổi giận và trút cơn thịnh nộ, thì đó là hiểu theo thuyết nhân hóa. Thiên Chúa vốn không giận dữ với chúng ta khi chúng ta làm sai. Đúng hơn là chúng ta giận chính bản thân mình và cảm thấy cơn giận đó là “sự thịnh nộ của Thiên Chúa”. Tiếp theo, hầu hết các nhà tâm lý học thời nay nói rằng nhiều cảm giác tội lỗi, hổ thẹn và ghét mình của chúng ta thật ra là không lành mạnh, là một rối loạn tâm lý, chứ không phải dấu hiệu cho thấy chúng ta đã làm gì sai. Những cảm giác này chỉ cho thấy cách chúng ta cảm nhận về mình, chứ không phải cách Thiên Chúa cảm nhận về chúng ta.

Tuy nhiên, phải thừa nhận, nếu xem những cảm giác tội lỗi, hổ thẹn và ghét mình là rối loạn thần kinh đơn thuần, thì đúng là quá đơn giản. Tại sao thế? Bởi vì nếu những cảm giác này hoàn toàn hay phần lớn là không đáng có, nhưng chúng vẫn là một tiếng nói quan trọng trong chúng ta, nghĩa là dù chúng không ngụ ý Thiên Chúa nổi giận hoặc không hài lòng chúng ta, nhưng chúng vẫn là một tiếng nói trong lòng chúng ta và sẽ không nguôi cho đến khi chúng ta tự hỏi tại sao mình lại không hài lòng và giận dữ với bản thân.

Tôi xin đưa ra một ví dụ: Trong bộ phim City Slickers của thập niên 1990, có cuộc trao đổi thú vị này. Ba người đàn ông đang nói chuyện về vấn đề đạo đức trong chuyện ngoại tình. Một người hỏi, “Nếu có thể ngoại tình và không bị sao cả, anh có làm không?” Người kia trả lời, “Không, tôi vẫn không làm”. “Tại sao không, đâu có ai biết”. Câu trả lời tiếp theo chứa đựng một thấu suốt thường bị bỏ qua về vấn để cảm giác tội lỗi, hổ thẹn và ghét mình. “Tôi biết, và tôi ghét mình vì chuyện đó”.

Có thứ gọi là “rối loạn thần kinh mặc cảm tội lỗi” của kitô giáo (và không chỉ giới hạn nơi người theo kitô giáo, do thái giáo, hồi giáo và các tôn giáo khác, mà còn có nơi tất cả những ai nhạy cảm về mặt luân lý). Tuy nhiên, không phải cảm giác tội lỗi, hổ thẹn và ghét mình nào cũng là rối loạn thần kinh. Một số người cố dạy chúng ta một chân lý tôn giáo và đạo đức sâu sắc rằng: dù chúng ta không bao giờ làm gì để Thiên Chúa nổi giận dù chỉ trong một phút, nhưng chúng ta có thể làm nhiều điều mà chúng ta giận chính bản thân mình. Và dù chúng ta không làm gì để khiến Thiên Chúa không tha thứ cho chúng ta, nhưng chúng ta có thể làm những việc mà chúng ta khó tha thứ cho bản thân mình. Vấn đề không bao giờ ở Thiên Chúa. Mà là chính chúng ta.

Những cảm giác tội lỗi, hổ thẹn và ghét mình tự chúng không ngụ ý rằng chúng ta đã làm gì sai, nhưng chúng ngụ ý cách chúng ta cảm nhận về việc mình đã làm, và đó có thể là tiếng nói tôn giáo và đạo đức quan trọng trong chúng ta.

Không phải cái gì làm chúng ta thấy phiền đều là bệnh.

Bây giờ chúng ta yêu thương ít hơn thời còn trẻ

Chương đầu tiên của sách Khải Huyền nói đến một thách thức lớn ẩn trong ngôn ngữ huyền bí của sách này. Thánh Gioan, viết theo giọng Thiên Chúa, nói một điều như thế này: Ta biết các việc ngươi làm, nỗi vất vả và lòng kiên nhẫn của ngươi… Ngươi có lòng kiên nhẫn và đã chịu khổ vì danh Ta mà không mệt mỏi. Nhưng Ta trách ngươi điều này: “ngươi đã để mất tình yêu thuở ban đầu”. Đau, thật đau!

Thật dễ để không thấy được điều này ngay trong chính bản thân mình. Chúng ta thay đổi, trưởng thành, thêm tuổi và đôi lúc chúng ta không nhìn lại bản thân thật kỹ để thấy có gì đã thay đổi trong ta. Do đó, chúng ta có thể tận tụy, chăm chỉ, tìm kiếm chân lý, chân thật, đức hạnh mọi mặt, trừ một điều là sự tốt lành này được tạc trên giận dữ, cay đắng và thù hận mà khi còn trẻ chúng ta chưa thấy rõ. Khi thêm tuổi, chúng ta dễ hy sinh vì chính nghĩa hơn là giữ tấm lòng yêu thương và không để sự phán xét chua cay và thù hận tinh vi tác động.

Điều quan trọng là chúng ta phải có chính nghĩa và chiến đấu và chân lý, nhưng như T.S. Eliot cảnh báo: “Cám dỗ tận cùng chính là sự phản bội lớn nhất, làm việc đúng đắn vì lý do sai trái”. Nếu tác giả sách Khải Huyền tái xuất thời nay và phân tích chúng ta, cả bảo thủ lẫn tự do, tôi cho rằng ngài cũng sẽ nói những lời đã nói với người dân Tiểu Á hai ngàn năm trước: “Anh chị em tận tâm, thế là tốt, nhưng anh chị em đã đánh mất tình yêu thời còn trẻ”. Những chính nghĩa của chúng ta có lẽ đúng, động cơ của chúng ta có lẽ tốt đẹp, nhưng trong chúng ta cũng có thù hận người khác, nói xấu họ, những cung cách không thể hiện rõ khi chúng ta còn trẻ hơn. Chúng ta cần phải hiểu chuyện này.

Có người từng châm biếm rằng chúng ta dùng nửa đời đầu để đánh vật với điều răn thứ sáu, với ngọn lửa tình, rồi dùng nửa đời sau để đánh vật với điều răn thứ năm, với ngọn lửa thất vọng, giận dữ và thù ghét. Thời tôi còn trẻ và bồng bột, tôi từng xưng tội “có tơ tưởng xấu” liên quan đến điều răn thứ sáu. Giờ, đã có tuổi và chín chắn, tôi xưng tội “có suy nghĩ xấu” liên quan đến điều răn thứ năm.

Tôi sợ rằng tình yêu trong tôi bây giờ ít hơn thời tôi còn trẻ. Tôi vào chủng viện ở độ tuổi 17 và suốt 8 năm sau đó, tối sống trong một cộng đoàn lớn với 45 người. Chúng tôi đều trẻ và bồng bột, nhưng đời sống cộng đoàn của chúng tôi gần như tuyệt vời. Đó là những năm tháng hạnh phúc. Ngày nay, toàn bộ nhóm đó của chúng tôi đều đã trên 70 tuổi, đều trưởng thành. Tuy nhiên, nếu bây giờ cố sống lại với nhau, hẳn chúng tôi sẽ giết nhau mất. Chúng tôi trưởng thành hơn, dù có lẽ là tình yêu thương trong chúng tôi ít hơn so với thời trẻ.

Tôi phải thừa nhận, nói như thế thì có hơi đơn giản hóa. Chúng ta thật sự bớt yêu thương sao? Tình yêu đơn thuần được định nghĩa qua sự nồng hậu, thân thiện và tử tế với nhau sao? Nó còn hơn thế. Tình yêu chân thật có thể mang tính ngôn sứ, giận dữ và gay gắt. Hơn nữa, có nhiều thứ hợp lại để tự nhiên làm chai đá dần sự nhạy cảm, phóng khoáng và sôi nổi thời trẻ, khiến gương mặt chúng ta đanh lại. Sự bộc phát, hớn hở và thoải mái của chúng ta bị chai đá dần qua những mai một tự nhiên của ngây thơ và qua những đòn mà cuộc sống giáng lên ta, là thất vọng, thất bại, chối bỏ, cái chết của những người thân yêu, mất sức khỏe, ý thức ngày càng rõ ràng về sự khả tử. Những thứ này cũng làm bước chân chúng ta bớt sức bật, bớt dễ chịu so với thời còn hồ hởi của tuổi trẻ, như thế không hẳn có nghĩa là chúng ta đã bớt tình yêu.

Nhưng tôi vẫn bị ám ảnh bởi hình ảnh mà tác giả Margaret Laurence đưa ra qua nhân vật Hagar Shipley trong tiểu thuyết Thiên thần đá (The Stone Angel) của bà. Khi Hagar có tuổi, bà ngày càng cay đắng và chỉ trích người khác, mà chẳng nhận ra mình đã thay đổi đến thế nào. Một hôm, khi đứng ngoài gõ cửa, bà nghe cô bé nói với mẹ “cái bà già kinh khủng đó đang đứng ngoài cửa”. Nghe như thế, bà đau đến tận xương, bà vào phòng tắm, mở hết đèn lên, và lần đầu tiên sau nhiều năm, bà nhìn kỹ gương mặt mình và bàng hoàng trước những gì bà thấy. Bà không còn nhận ra gương mặt mình nữa. Nó đã trở thành một thứ khác hẳn cái bà hình dung về mình. Gương mặt bà bây giờ là gương mặt của một bà già cay đắng, thù hận.

Chúng ta cần làm việc bà đã làm, nhìn kỹ mặt mình trong gương. Tốt hơn nữa, chúng ta đặt một loạt ảnh của mình, từ thuở nhỏ, thiếu niên, thanh niên, trung niên, và hiện tại, để xem khuôn mặt mình qua năm tháng nó đã thay đổi như thế nào. Đáng buồn, có lẽ chúng ta sẽ thấy có một chai đá nào đó, không phải do lão hóa cho bằng do cay đắng, ghen tương và thù hận.

Tha hương – đánh dấu một kỷ niệm

Tháng 11 năm 1982, 40 năm trước, tôi bắt đầu viết chuyên mục này khi đang nghiên cứu luận án tiến sĩ ở Bỉ. Tôi đặt tên cho chuyên mục là “Tha hương” vì hai lý do. Lý do bên ngoài vì lúc đó, tôi sống ở châu Âu, xa nơi tôi xem là nhà. Tôi không định làm một Robert Browning, viết quyển Suy tư về quê hương từ đất khách (Home-Thoughts, From Abroad), tôi chỉ bắt chước theo kiểu tài tử mà thôi. Vì nhiều lý do quan trọng, tôi chọn tựa đề này vì tất cả chúng ta đều đang sống tha hương. Chúng ta sống đời mình (như lời thánh Phaolô) qua “tấm gương tối”. Chúng ta sống trong những câu đố khó hiểu, riêng rẽ, phần nào tách biệt với Thiên Chúa, với nhau và thậm chí với chính bản thân mình. Chúng ta đã trải nghiệm tình yêu, tình cộng đồng, bình an, nhưng không bao giờ được trọn vẹn. Sự hiện hữu cá nhân của chúng ta đặt một rào chắn nào đó giữa chúng ta và cộng đồng. Chúng ta thật sự sống trong những câu đố khó hiểu. Thiên Chúa, Đấng hiện diện khắp nơi, chúng ta lại không thể cảm nhận Ngài về thể lý. Tha nhân, những người cũng hữu hình như chúng ta nhưng phần nào luôn xa cách và vô thực. Và cuối cùng, chính chúng ta là một bí ẩn cho chính chúng ta.

Nghĩ như thế, tất cả chúng ta đều xa mái ấm, đều ly hương, khao khát biết và được biết trọn vẹn hơn, nhưng lại bị tách biệt khỏi quá nhiều điều. Và trên hành trình này, quan điểm của chúng ta chỉ có thể cục bộ, tầm nhìn của chúng ta là của “người ngoài”, không thật sự thấy hay hiểu được.

Từ quan điểm tha hương này, tôi đã có 40 năm để đem lại cho độc giả những suy tư của tôi. Chuyên mục này nhiều thể loại. Như văn hào Margaret Atwood đã nói: “Điều chạm đến chúng ta là điều chúng ta chạm đến”. Tôi đã chạm đến nhiều thứ, nhưng tất cả chúng, theo cách riêng của tôi, là một trong những cách để cố giải câu đố này, để chấm dứt cảnh ly hương, để lên đường về nhà!

Ban đầu, cột bài này chỉ đăng trên một tờ báo duy nhất, là tờ Western Catholic Reporter. Năm 1987, Green Bay Compass cũng nhận đăng, rồi một năm sau đến tờ Portland Sentinel. Đến năm 1990, cột bài có bước đột phá lớn, được đăng trên tờ Catholic Herald ở Luân Đôn, Anh quốc, tờ báo quốc gia ở Anh, và vào thời đó ở trong tay của Otto Herschan, người cũng nắm tờ Irish Catholic, tờ báo quốc gia ở Ireland và tờ Scottish Catholic Observer, tờ báo quốc gia ở Scotland. Từ đó, cột bài này được đăng trên sáu tờ báo ở năm quốc gia, trong đó có ba tờ là báo quốc gia. Hơn nữa, với việc bản quyền ở châu Á không nghiêm ngặt như ở Mỹ, nên sớm có nhiều giáo phận ở châu Á bắt đầu đăng bài.

Đầu thập niên 1990 đem đến một bước đột phá nữa cho cột bài. Tờ Catholic Register và Prairie Messenger, hai tờ báo quốc gia ở Canada đã chọn đăng chuyên mục của tôi từ năm 1992. Với tôi, thế là đã phát hành quá đủ rồi. Tuy nhiên, sau khi tôi xuất bản quyển The Holy Longing ở Mỹ năm 1999, con số phát hành bỗng tăng vọt. Trong vòng ba năm, chuyên mục của tôi xuất hiện trên hơn 60 tờ báo ở hơn 10 quốc gia. Và bây giờ đã có 80 báo đăng. Từ năm 2008, chuyên mục này được đăng bằng tiếng Tây Ban Nha và Việt Nam, có nhiều độc giả ở Việt Nam, Mexico và nhiều nơi ở châu Mỹ La tinh.

Tôi mang ơn nhiều người, nhưng tôi xin gửi lời cảm ơn đặc biệt đến một số người. Trước hết, tôi cảm ơn tờ Western Catholic Reporter ở Edmonton, Canada, và tổng biên tập Glenn Argan. Đây là tờ báo đầu tiên và tổng biên tập viên đã cho tôi cơ hội, một thanh niên nông thôn đồng cỏ với không nhiều bằng cấp hay quan hệ. Chính vì lý do này, suốt 40 năm, tôi luôn viết mã cột bài là WCR, vì trước bất kỳ ai, tôi viết cột bài này cho tờ Western Catholic Reporter. Ngày nay, mỗi tuần, khi bài gởi đến hơn 80 tờ báo, bài viết mới của tôi luôn kèm mã WCR. Tôi nghĩ nhiều biên tập viên chẳng hiểu những chữ đó là gì, nhưng bây giờ các bạn đã biết rồi đấy.

Tôi xin gửi lời cảm ơn đặc biệt đến Delia Smith vì đã đưa cột bài này lên tờ Catholic Herald ở London, và xin cảm ơn ông Otto Herschan, chủ và nhà xuất bản của tờ báo lúc đó. Từ năm 1990 cho đến khi qua đời, ông Otto đã bảo đảm mọi tờ báo ông xuất bản đều có chuyên mục của tôi. Tôi cũng cám ơn bà JoAnne Chrones, thư ký điều hành không mệt mỏi của tôi suốt 28 năm qua, tôi cũng cám ơn ông Key Legried, người đã đưa chuyên mục đến nhiều tờ báo khác nhau, và cám ơn ông Doug Mitchell đã dò lại tất cả các bài cho tôi.

Sự thật là, khi mới viết chuyên mục này, có lẽ tôi mong muốn khai sinh một chuyên mục hơn là giúp nước Chúa trị đến. Động cơ của chúng ta luôn mãi cần được thanh tẩy. Tôi mong rằng sau 40 năm, tôi đã trưởng thành hơn trong chuyện này, và tôi xin gửi lời cám ơn lớn nhất đến các bạn, những độc giả của tôi.

Về Chân phước tử đạo Stanley Rother

Có các vị thánh là chưa đủ, chúng ta cần những thánh của thời đại mình! Đây là câu nói khôn ngoan của triết gia Pháp Simone Weil. Các thánh thời trước có nhiều điều để chúng ta học hỏi nhưng chúng ta nhìn vào sự tốt lành, đức tin và hy sinh quên mình của họ, chúng ta ngưỡng mộ dễ hơn là theo gương họ. Đời sống và hoàn cảnh của họ dường như quá xa với đời sống và hoàn cảnh chúng ta đến mức chúng ta dễ dàng tách khỏi họ.

Vì thế tôi muốn nêu lên vị thánh của thời chúng ta, linh mục Stanley Rother (1935-1981), cậu bé nông thôn ở Oklahoma đã trở thành nhà truyền giáo ở với người nghèo tại Atilan, Guatemala, và cuối cùng đã tử đạo. Đời sống và những đấu tranh của ngài (có lẽ cũng là đấu tranh can trường phi thường để đi đến cùng) chính là điều mà chúng ta dễ dàng thấy giống chúng ta.

Stanley Rother là ai? Ngài là linh mục quê ở Oklahoma bị bắn chết ở Guatemala năm 1981. Ngài đã được phong chân phước tử đạo, và sẽ sớm trở thành người đàn ông đầu tiên sinh ra tại Hoa Kỳ được phong thánh. Tôi xin nói qua đời của ngài.

Stanley Rother sinh ra trong gia đình nhà nông ở Okarche, Oklahoma, là con đầu trong bốn người con. Thuở nhỏ, cha giúp việc trong nông trại gia đình, và trong cả cuộc đời và đời mục vụ, cha vẫn là một nông dân hơn là học giả. Lớn lên và làm việc giúp gia đình, cha thường xới đất, sửa máy và đào giếng hơn là đọc sách các học giả Aristotle và Tôma Aquinô. Và điều đó lại rất tốt cho cha khi truyền giáo giữa người nghèo, dù không mấy thuận lợi cho cha trong những bước đầu theo ơn gọi linh mục.

Những năm đầu của cha ở chủng viện rất chật vật. Cố gắng học triết học (bằng tiếng la-tinh) để chuẩn bị cho khóa thần học thực sự là quá sức với cha. Sau vài năm, chủng viện khuyên cha nên về, rằng cha thiếu năng lực học thuật để theo đuổi chức linh mục. Về lại nông trại, cha đến gặp giám mục và cuối cùng cha vào chủng viện Núi St. Mary ở Maryland. Dù ở đây cha không giỏi về học thuật nhưng cha phát triển mạnh nhiều mặt khác, làm cho ban điều hành chủng viện ấn tượng đủ để tiến cử cha được phong chức.

Về lại giáo phận của mình, cha dành những năm đầu đời linh mục chủ yếu để làm những việc tay chân, sửa chữa một cơ sở bỏ hoang mà giáo phận được thừa kế và biến nó thành trung tâm phục hồi. Rồi năm 1978, cha được mời tham gia đội ngũ truyền giáo của giáo phận, mở một sứ mạng truyền giáo ở Guatemala. Mọi nền tảng và nhân cách của cha bây giờ quá lý tưởng cho công việc này, nhưng ngược đời thay, một người chật vật khi học tiếng la-tinh, bây giờ lại có thể học một ngôn ngữ khác, tiếng Tz’utujil của người bản xứ mà cha phục vụ, và trở thành một trong những người biên soạn bảng chữ cái, từ vựng và ngữ pháp cho họ. Cha phục vụ về mặt bí tích, nhưng cũng liên hệ với mọi người về mặt con người, giúp họ trồng trọt, tìm nguồn lực cho họ, và thỉnh thoảng dùng tiền túi cho họ. Cuối cùng, cha trở thành người bạn và lãnh đạo đáng tin cậy của họ.

Tuy nhiên, không phải mọi chuyện đều lý tưởng. Tình hình chính trị ở đó cực kỳ tệ, bạo lực khắp nơi, và bất kỳ ai bị xem là đối lập với chính quyền đều có nguy cơ bị dọa dẫm, bắt cóc, tra tấn và sát hại. Cha Stanley đã cố tránh dính đến chính trị, nhưng làm việc với người nghèo lại bị xem là hành động chính trị. Có thời điểm, một vài giáo lý viên của cha bị tra tấn và giết hại, và không ngạc nhiên khi bản thân cha cũng nằm trong danh sách phải tiêu diệt và nhiều người thúc cha rời Guatemala để bảo đảm tính mạng. Trong ba tháng về lại gia đình ở Oklahoma, cha dằn vặt suy nghĩ về chuyện có nên quay lại Guatemala, dù biết nếu quay về là đồng nghĩa với cái chết. Quyết định này đặc biệt khó khăn, vì dù cha nghe có tiếng gọi quay lại Guatemala, nhưng cha lo cái chết của mình sẽ làm đau lòng cha mẹ già.

Thôi thúc bởi câu nói của Chúa Giêsu: mục tử không bỏ chạy khi đàn chiên của mình gặp nguy hiểm, cha quyết định quay về Guatemala. Bốn tháng sau, cha bị bắn chết ở khu nhà truyền giáo nơi cha sống, cha đã chống cự đến cùng với những kẻ tấn công để khỏi bị bắt đi và trở thành “người mất tích”. Ngay lập tức, cha được công nhận là bậc tử đạo và xác của cha được đưa về Oklahoma mai táng, cộng đoàn Atitlan giữ trái tim của cha và biến căn phòng nơi cha tử đạo thành nhà nguyện.

Đã có nhiều sách viết về cha và tôi xin đề nghị hai quyển sách này: quyển tiểu sử chi tiết là quyển Người Mục tử không bỏ chạy (The Shepherd Who Didn’t Run) của Maria Ruiz Scaperlanda. Quyển tiểu sử thánh thiện là quyển Tình yêu ở vùng đất đáng sợ (Love in a Fearful Land) của Henri Nouwen.

Chúng ta có thánh bổn mạng cho mọi dịp và mọi việc. Vậy thánh Stanley Rother là quan thầy cho ai và điều gì? Cho tất cả chúng ta, những người bình thường ở trong những hoàn cảnh cần có can đảm phi thường.

Nghiện làm việc và tham lam

Chỉ có một chứng nghiện mà chúng ta ca ngợi, đó là làm việc quá sức. Với mọi chứng nghiện khác, những người lo cho bạn sẽ đưa bạn vào viện hoặc vào chương trình phục hồi, nhưng nếu bạn nghiện làm việc, thường sẽ được xem là một đức tính tốt. Tôi hiểu điều tôi đang nói. Tôi là “một con nghiện làm việc đang phục hồi”, và hiện giờ cũng không hẳn là đã cai được hoàn toàn. Tuy nhiên, tôi nhìn nhận nó là một chứng bệnh. Đây là những triệu chứng của nó: chúng ta luôn mãi thiếu thời gian cho nhiều việc phải làm. Mỗi ngày trôi qua đều quá ngắn.

Trong tiểu sử tự thuật của mình, nhà phê bình phim Roger Ebert viết: “Tôi đã lấp đầy cuộc đời của tôi quá trọn vẹn đến nỗi tôi không còn thì giờ để nghĩ về việc tôi đang sống”. Nhiều người trong chúng ta hiểu cảm giác này. Tại sao chúng ta làm như thế với mình?

Câu trả lời có lẽ làm chúng ta ngạc nhiên. Khi cuộc sống của chúng ta quá áp lực đến nỗi chúng ta không bao giờ có thì giờ suy nghĩ, sự thật chúng ta đang sống cuộc sống đó, khi chúng ta luôn thiếu thời gian và có quá nhiều việc phải làm, chúng ta đang khổ vì tham lam, một trong những mối tội đầu.

Chúng ta có khái niệm đơn giản hóa về tham lam. Khi nghĩ về một người tham lam, chúng ta hình dung đó là người keo kiệt, ích kỷ, giàu có về tiền bạc và vật chất, tích trữ sự giàu có cho riêng mình. Ít người trong chúng ta phù với phạm trù này. Sự tham lam trong chúng ta có những dạng tinh vi hơn. Hầu hết những người rộng rãi, không ích kỷ và không giàu có về tiền bạc như chúng ta thì mắc phải tham lam về trải nghiệm, tham lam về cuộc sống, thậm chí tham lam về quảng đại. Chúng ta tham lam muốn làm nhiều hơn (dù làm việc tốt) những gì thời gian cho phép.

Và nó biểu hiện ở đâu? Nó biểu hiện nơi mình mỗi khi chúng ta không bao giờ có đủ thời gian để làm việc mà (dường như) chúng ta cần phải làm. Khi nghĩ rằng hình như Chúa đã nhầm về thời gian và không phân cho chúng ta đủ thời gian thì lúc đó là lúc chúng ta lâm vào chứng tham lam. Linh mục Henri Nouwen từng mô tả nó như sau: “Cuộc sống chúng ta như chiếc vali bị nhét đầy đến nỗi những đường may bị bung ra. Thật vậy, chúng ta luôn thấy mình bị trễ lịch. Luôn biện minh, còn những việc chưa làm, những lời hứa chưa thực hiện, những dự tính chưa làm được. Luôn có một cái gì đó khác mà mà chúng ta phải nhớ, phải làm hoặc phải nói. Luôn có những người mà chúng ta chưa nói chuyện, chưa trả lời thư hay chưa thăm viếng”.

Nhưng… Chúa không lầm về thời gian Ngài cho chúng ta. Chúa cho chúng ta đủ thời gian để làm điều mà chúng ta được yêu cầu, kể cả những việc quảng đại và quên mình. Vấn đề nằm ở chúng ta và vấn đề chính là tham lam. Chúng ta muốn có nhiều hơn những gì mà cuộc đời cho phép.

Hơn nữa, trong hầu hết trường hợp, chuyện này lại dễ lý luận. Nếu kiệt sức khi phục vụ người khác, thì chúng ta dễ dàng xem việc chúng ta quá gắng sức, mệt mỏi và cảm giác ám ảnh rằng mình đang không làm đủ là một đức tính tốt, là một dạng tử đạo, là quên mình, là dâng hiến bản thân cho tha nhân. Nó đúng phần nào, có những lúc khi tình yêu, hoàn cảnh hay một khoảng thời gian trong đời đòi hỏi chúng ta phải quên mình đến cùng, kể cả Chúa Giêsu cũng nhiều lần không chịu nổi và phải cố lánh đi đến một nơi hoang vắng. Tuy nhiên, đâu phải lúc nào cũng thế. Việc người mẹ phải làm cho đứa con sơ sinh hay tuổi còn quá nhỏ thì khác với việc bà phải làm cho đứa con đã lớn khôn, đã trưởng thành. Cái là đức tính tốt trong thời gian này lại có thể thành tham lam trong hoàn cảnh khác.

Quá bận rộn ban đầu thường là đức tính tốt, rồi sau đó thường thường biến thành tính xấu, đó là một tham lam tinh vi. Việc từng là cần thiết để phục vụ tha nhân bây giờ bắt đầu phục vụ thanh danh và hình tượng bản thân hơn. Nó còn là một lối thoát tiện lợi. Khi đắm chìm trong công việc làm cho người khác, chúng ta không cần phải đối diện với những con quỷ nội tâm cũng như những con quỷ khác mà chúng ta phải đối diện trong hôn nhân, ơn gọi và các mối quan hệ. Chúng ta quá bận rộn, nhưng đây là một chứng nghiện như mọi chứng nghiện khác, trừ việc chứng nghiện này lại được xem là đức tính tốt và là cái để ca ngợi.

Đây chính là lý do mà Chúa cho chúng ta ngày xa-bát, ra lệnh cho chúng ta nghỉ làm việc mỗi tuần một ngày. Tiếc là chúng ta đang đánh mất khái niệm về ngày xa-bát. Chúng ta biến một giới răn thành gợi ý cho một phong cách sống không quan trọng lắm. Kiểu nếu làm được thì tốt, nếu bạn có thể kham được. Tuy nhiên, như tác giả Wayne Mueller viết trong quyển sách đầy thách thức về ngày xa-bát: “Nếu quên nghỉ ngơi, chúng ta sẽ làm việc quá dữ dội và quên mất những chuyện khoan dung dịu dàng hơn, quên mất những người mà chúng ta yêu thương, quên mất con cái và sự kỳ diệu tự nhiên… Nên Chúa đã cho chúng ta giới răn giữ ngày xa-bát – Hãy nhớ nghỉ ngơi”. Đây không phải là một đề xuất về lối sống, nhưng là một giới răn, cũng quan trọng như không được trộm cướp, không được giết người, không được nói dối”.

Làm việc quá sức thì không phải là một đức tính!

Liều lĩnh với lòng thương xót của Thiên Chúa

Không lâu sau khi chịu chức, tôi đi giúp xứ và ở đây tôi gặp một linh mục già thánh thiện. Cha đã hơn 80 tuổi và gần như mù, nhưng được giáo dân tôn trọng và tìm gặp, nhất là để xưng tội. Một tối nọ, khi chỉ còn hai cha con với nhau, tôi hỏi cha: “Nếu cha được làm lại đời linh mục từ đầu, việc gì cha sẽ làm khác đi?” Tôi tưởng một người liêm chính toàn vẹn như cha sẽ nói mình không có gì phải hối tiếc. Nhưng câu trả lời của cha làm tôi ngạc nhiên. Cha bảo cha có một hối tiếc, một hối tiếc rất lớn: “Nếu được sống lại đời linh mục từ đầu, cha sẽ nhẹ nhàng với mọi người. Cha sẽ không hà tiện lòng thương xót Chúa, hà tiện các bí tích và hà tiện tha thứ. Con biết đó, thời còn tập sinh, câu nằm lòng của cha là ‘Sự thật sẽ giải phóng anh em’ và cha nghĩ nhiệm vụ của cha là thách thức mọi người bảo vệ điều này. Làm thế là tốt, nhưng cha sợ cha đã quá cứng rắn với mọi người. Không cần cha và Giáo hội đặt thêm gánh nặng, họ đã có đủ đau đớn rồi. Đáng ra cha phải liều lĩnh hơn với lòng thương xót Chúa!”

Tôi kinh ngạc trước câu trả lời của cha, vì mới chưa đầy một năm trước, trong phần thi vấn đáp cuối khóa ở chủng viện, một linh mục đã cảnh báo tôi: “Hãy cẩn thận, đừng bao giờ để cảm giác của con cản đường sự thật, và nên nhớ quá mềm mỏng là sai trái. Nhớ nhé, dù có gay go, nhưng chỉ có sự thật mới giải phóng chúng ta!”. Đó có vẻ là lời khuyên chí lý cho một linh mục trẻ mới bắt đầu làm quen với mục vụ.

Tuy nhiên, cứ hàng năm trôi qua, tôi lại ngả dần theo lời khuyên của linh mục già ngày xưa. Chúng ta cần liều lĩnh hơn với lòng thương xót Chúa. Dĩ nhiên phải công nhận không bao giờ được bỏ qua tầm quan trọng của sự thật, nhưng chúng ta phải liều để cho lòng thương xót vô hạn, vô điều kiện của Thiên Chúa tuôn chảy tự do. Lòng thương xót Chúa phải sẵn sàng như vòi nước, phải như lời tiên tri I-saia, phải hoàn toàn nhưng không. “Đến cả đi, hỡi những người đang khát, nước đã sẵn đây! Dầu không có tiền bạc, cứ đến mua mà dùng; đến mua rượu mua sữa, không phải trả đồng nào!”

Vậy điều gì ngăn cản chúng ta? Tại sao chúng ta quá ngập ngừng trong việc công bố lòng thương xót không phân biệt, dồi dào đến phung phí và vô cùng vô tận của Thiên Chúa?

Một phần là vì những động cơ tốt, thậm chí là cao thượng. Chúng ta có quan tâm rất hợp lý cho những điều quan trọng như sự thật, công lý, luân lý, tính chính thống, chuẩn bị đón nhận bí tích cho hợp lệ, sợ tai tiếng, và lo cho cộng đoàn giáo hội bị hấp thụ và mang lấy những tác động của tội lỗi. Tình yêu luôn cần được được thôi thúc bởi sự thật, dù sự thật phải được làm dịu đi bởi tình yêu. Tuy nhiên, đôi khi động cơ của chúng ta thiếu cao thượng, chúng ta lưỡng lự và nhút nhát, sợ hãi, ghen tương và vị luật – cũng như sự tự thị của những người pharisiêu hay nỗi ghen tức trong lòng người anh của đứa em hoang đàng. Có chúng ta canh gác thì không có ân sủng nhưng không!

Tuy nhiên, khi làm như vậy, chúng ta đã sai lầm, lại càng không phải là mục tử tốt, lạc điệu với Thiên Chúa của những điều Chúa Giêsu rao giảng. Lòng thương xót Chúa như Chúa Giêsu mạc khải thì ôm lấy tất cả, không phân biệt, cả người xấu lẫn người tốt, người xứng đáng lẫn người không xứng đáng, người hiểu cũng như không hiểu. Một trong những thấu suốt làm giật mình mà Chúa Giêsu ban cho chúng ta, đó là lòng thương xót Chúa không thể không đến với tất cả mọi người, vì nó luôn nhưng không, không cần phải xứng đáng, không cần điều kiện, ôm lấy tất cả, vượt xa mọi tôn giáo, phong tục, lễ điển, quy cách hành xử, chương trình bắt buộc, ý thức hệ và thậm chí là vượt trên cả tội.

Và như vậy, về phần chúng ta, đặc biệt là bậc cha mẹ, mục tử, giáo viên, giáo lý viên, và những người lớn tuổi, chúng ta phải liều mình công bố đặc tính quảng đại đến phung phí của lòng thương xót Chúa. Chúng ta không được phân phát lòng thương xót Chúa như thể đó là của riêng chúng ta, chúng ta muốn chi dùng thế nào tùy, chúng ta không được phân phát nhỏ giọt sự tha thứ của Chúa như một loại hàng có giới hạn, không được đặt điều kiện về tình yêu của Chúa như thể Ngài là nhà độc tài hẹp hòi hay có một ý thức hệ chính trị, chúng ta không được chặn đường đến với Thiên Chúa như thể mình là người giữ cửa thiên đàng. Vì chúng ta đâu phải là người làm những chuyện này! Nếu chúng ta xem lòng thương xót Chúa theo kiểu đánh giá của mình, thì chúng ta đang liên kết những giới hạn, tổn thương và thiên kiến của mình với lòng thương xót của Thiên Chúa.

Một chuyện đáng chú ý trong các phúc âm là các tông đồ, dĩ nhiên vì thiện ý nhưng lại thường ngăn cản một số người đến gần Chúa Giêsu, như thể họ không xứng đáng, như thể họ làm sỉ nhục cho sự thánh thiện và tinh tuyền của Chúa. Các tông đồ đã nhiều lần đuổi trẻ con, cô gái điếm, người thu thuế, người có tội rành rành và những người vô tri đủ loại, nhưng Chúa Giêsu luôn gạt đi hành động của họ bằng những lời: “Hãy để họ đến! Ta muốn họ đến với Ta”.

Cho đến ngày nay, mọi chuyện vẫn không thay đổi. Trong Giáo hội, chúng ta, những người có ý định tốt, với động cơ giống các tông đồ, luôn cố giữ một số cá nhân và một nhóm người nào đó xa khỏi lòng thương xót Chúa qua lời Chúa, bí tích và cộng đoàn. Thiên Chúa không cần (và không muốn) chúng ta bảo vệ. Chúa Giêsu muốn tất cả mọi loại người đến với Ngài, và Ngài muốn họ đến với Ngài ngay. Thiên Chúa muốn tất cả mọi người đến với dòng nước vô hạn của lòng thương xót Ngài, bất chấp luân lý, tính chính thống, sự thiếu chuẩn bị, tuổi tác hay văn hóa của họ.

Mừng 50 năm linh mục

Năm mươi năm trước, vào một ngày mùa thu giá lạnh, ở phòng học thể dục của một trường trung học, tôi được chịu chức linh mục. Ngoài bầu trời xám xịt, sự kiện hôm đó còn có một điều đặc biệt. Đây là khoảng thời gian khá mong manh với tôi và gia đình tôi. Cha mẹ tôi nối tiếp nhau qua đời (khi tuổi chưa cao) trong vòng một năm rưỡi trước ngày này, và chúng tôi đều đang rất mong manh. Trong bối cảnh đó, tôi được thụ phong linh mục.

Trong vài lời ngắn ngủi của một bài viết ngắn, tôi muốn nói điều gì nhất nhân kỷ niệm 50 năm ngày trọng đại đó? Tôi sẽ mượn câu của tiểu thuyết gia Morris West, ông đã mở đầu tiểu sử của mình như sau: Khi đến tuổi 75, trong từ vựng của bạn chỉ nên còn ba chữ này: cám ơn, cám ơn và cám ơn! Tôi vừa bước sang tuổi 75, và nhìn lại 50 năm linh mục, nhiều suy nghĩ và cảm giác bỗng hiện lên trong đầu, xét cho cùng, cuộc sống có những thời của nó. Tuy nhiên, cảm xúc lấn át tất cả chính là lòng biết ơn, cám ơn, cám ơn và cám ơn! Tạ ơn Thiên Chúa, biết ơn ân sủng, hội thánh, gia đình, dòng Hiến sĩ, những người bạn đã yêu thương và nâng đỡ tôi, những ngôi trường tuyệt vời tôi đã dạy, và hàng ngàn người tôi đã gặp trong 50 năm mục vụ.

Tiếng gọi ban đầu của tôi với chức linh mục và dòng Hiến sĩ không phải êm đẹp nên thơ cho lắm. Tôi không bước vào đời sống tu trì và chủng viện vì tôi thấy được cuốn hút. Ngược lại thì đúng hơn. Đó không phải là cái tôi đã muốn. Nhưng tôi cảm nhận mình được kêu gọi, mạnh mẽ và rõ ràng, và ở tuổi 17 còn non nớt, tôi đã quyết định đi tu. Ngày nay, nhiều người sẽ chất vấn về sự khôn ngoan và tính tự do của một quyết định lớn như thế ở tuổi 17, nhưng nhìn lại biết bao nhiêu năm sau ngày hôm đó, tôi có thể thành thật nói, đó là quyết định rõ ràng nhất, thuần túy nhất và quên mình nhất mà tôi đã có trong đời. Tôi không hối tiếc gì. Tôi lựa chọn cuộc sống này chỉ vì một tiếng gọi mạnh mẽ mà ban đầu tôi đã cố cự lại, và cho đến giờ, nó là lựa chọn đem lại sự sống nhất mà tôi có thể làm. Với ý thức hiểu mình và hiểu những vết thương của mình, tôi cũng hiểu, nếu sống theo những kiểu sống khác, tôi sẽ không thể nào mang lại thành quả hay sống hạnh phúc được gần như thế. Tôi đã nuôi dưỡng một vài vết thương sâu sắc, không phải về tinh thần mà là vết thương trong lòng, và những vết thương đó, nhờ ơn Chúa, đã thành nguồn hoa trái trong việc mục vụ của tôi.

Hơn nữa, tôi rất may mắn trong những việc mục vụ tôi được giao cho. Thời chủng sinh, tôi mơ làm linh mục quản xứ, nhưng chưa bao giờ được thế. Vừa chịu chức xong, tôi liền được cử đi học cao học rồi dạy thần học ở nhiều chủng viện và trường thần học trong gần 50 năm, trừ 12 năm tôi làm giám tỉnh cộng đoàn Hiến sĩ và tham gia Tổng công hội Hiến sĩ ở Rôma. Tôi mê giảng dạy! Tôi được định để làm giảng viên tôn giáo và nhà văn tôn giáo, và việc mục vụ của tôi đã làm tôi rất mãn nguyện. Tôi hy vọng nó sẽ đem lại ích lợi cho người khác.

Ngoài ra, tôi còn rất may mắn có những cộng đoàn Hiến sĩ mà tôi đã ở. Việc mục vụ của tôi thường giúp tôi sống trong những cộng đoàn lớn và qua 50 năm, tôi ước tính mình đã sống trong một cộng đoàn với hơn 300 người khác nhau. Đấy đúng là một kinh nghiệm phong phú. Hơn nữa, tôi luôn sống trong những cộng đoàn lành mạnh, hăng hái, quan tâm, nâng đỡ và thách thức về trí tuệ, từ đó cho tôi một gia đình nhân văn và thiêng liêng mà tôi cần. Nhiều lúc có những căng thẳng, nhưng căng thẳng đó luôn giúp đem lại sự sống. Cộng đoàn tu là điều độc nhất vô nhị. Nó không phải là gia đình theo ý thức tình cảm hay tâm sinh dục, nhưng nó là gia đình bén rễ trong một việc còn sâu đậm hơn sinh học và luật hấp dẫn – đó chính là đức tin.

Dĩ nhiên, có những đấu tranh, bao gồm cả những vấn đề tình cảm trong đời sống độc thân và sống trong cô đơn mà (như lời Merton) chính Chúa cũng lên án. Không tốt khi con người ở một mình! Chính ở điểm này, cộng đoàn Hiến sĩ đã là mỏ neo cho tôi. Có thể sống được lời khấn độc thân khiết tịnh và sinh hoa trái, nhưng nếu không có sự nâng đỡ của cộng đoàn thì không thể.

Xin cho tôi kết lại với một câu mà tôi đã nghe từ một cha mừng sinh nhật 85 và ngọc khánh linh mục. Khi được hỏi cha cảm thấy thế nào, cha bảo: “Không phải luôn dễ dàng! Luôn có những thời điểm cay đắng, cô đơn. Mọi người trong lớp của tôi đều đã từ bỏ chức linh mục, tất cả, và tôi cũng bị cám dỗ làm thế. Nhưng tôi đã ở lại, và giờ nhìn lại sáu mươi năm qua, tôi rất hạnh phúc với cuộc đời mình”.

Đấy cũng là tổng kết cảm giác của tôi sau 50 năm, – tôi rất hạnh phúc với cuộc đời mình – và vô cùng biết ơn.

Làm sao cầu nguyện khi chúng ta không có hứng

Nếu chỉ cầu nguyện khi có hứng, thì chúng ta không cầu nguyện nhiều.

Nhiệt tâm, thích thú và sốt mến sẽ không duy trì đời sống cầu nguyện được lâu, thiện chí và ý chí bền vững mới bền. Lòng và trí chúng ta là những con ngựa hoang phức tạp và lộn xộn, chồm lên theo hứng, và cầu nguyện không thường xuyên nằm trong dự định. Thánh Gioan Thánh Giá, nhà thần nghiệm, dạy chúng ta, sau thời gian đầu cầu nguyện sốt mến, chúng ta sẽ trải qua những năm tháng phải vật lộn, khi đó việc cầu nguyện rời rạc, buồn chán và dễ xao lãng. Vậy nên, vấn đề là làm sao chúng ta cầu nguyện lúc mệt mỏi, xao lãng, buồn chán, thiếu hứng thú, và đang lo với hàng ngàn chuyện khác. Làm sao chúng ta cầu nguyện khi trong lòng chúng ta chẳng muốn cầu nguyện? Nhất là làm sao chúng ta cầu nguyện khi cực kỳ chán cầu nguyện?

Các tu sĩ có những bí quyết đáng để chúng ta học hỏi. Bí quyết đầu tiên là nghi thức, trọng tâm nuôi dưỡng đời sống cầu nguyện. Các tu sĩ cầu nguyện nhiều và thường xuyên, nhưng họ không bao giờ cố nuôi dưỡng đời sống cầu nguyện dựa trên cảm xúc. Họ nuôi dưỡng đời sống cầu nguyện bằng nghi thức. Các tu sĩ cầu nguyện chung bảy hay tám lần mỗi ngày, theo nghi thức. Họ quay quần trong nhà nguyện và đọc kinh phụng vụ (Kinh sáng, Kinh sách, Kinh giờ ba, Kinh giờ chín, Kinh chiều, Kinh tối, Kinh kết) hoặc cùng nhau cử hành thánh lễ. Không phải lúc nào họ cũng tham dự vì thấy thích, họ tham gia vì họ được kêu gọi, và rồi với lòng trí nhiều lúc thiếu sôt sắng, nhưng họ cầu nguyện bằng những phần sâu thẳm nhất, bằng quyết tâm và ý chí.

Trong luật thánh Bênêđictô viết cho đời sống tu sĩ có một câu thường được trích dẫn. Ngài viết, đời sống tu sĩ là theo quy tắc của tiếng chuông tu viện. Khi tiếng chuông tu viện cất lên, người tu sĩ bỏ ngang bất kỳ việc gì mình đang làm và đến bất kỳ nơi nào mà tiếng chuông đó triệu tập, không phải vì muốn mà vì đó là thời điểm, một thời điểm không phải của mình mà là của Chúa. Đó là một bí mật đầy giá trị, nhất là khi áp dụng cho việc cầu nguyện. Chúng ta cần cầu nguyện thường xuyên, không phải vì chúng ta muốn, mà vì đó là thời điểm để cầu nguyện, và khi không thể cầu nguyện với hết tâm trí, chúng ta vẫn có thể cầu nguyện bằng ý chí và thể xác.

Phải, bằng thể xác! Chúng ta hay quên rằng mình không phải là thiên thần không thể xác, chỉ có tâm trí. Không, chúng ta có cả thể xác nữa. Do đó, khi lòng trí khó khăn cầu nguyện, chúng ta vẫn có thể cầu nguyện bằng thể xác. Từ xưa đến nay, chúng ta đã cố làm việc này bằng cử chỉ và điệu bộ thể xác (làm dấu thánh giá, quỳ gối, đưa tay lên, chắp tay lại, quỳ một gối, nằm sấp) và chúng ta đừng bao giờ xem nhẹ hay hạ thấp tầm quan trọng của các cử chỉ. Nói đơn giản, khi không thể cầu nguyện bằng những cách khác, chúng ta vẫn có thể cầu nguyện bằng thể xác. (Mà ai dám nói một cử chỉ cầu nguyện chân thành thì thấp kém hơn động tác cầu nguyện của tâm trí?) Cá nhân tôi rất thích một cử chỉ, là hành động cúi đầu chạm đất của người hồi giáo khi họ cầu nguyện. Làm như thế là làm cho cơ thể mình thưa với Chúa: “Dù cho lòng trí con có thế nào, con quy phục sự toàn năng, thánh thiện và yêu thương của Ngài”. Dù là cầu nguyện chiêm niệm một mình, tôi vẫn thường kết lại bằng cử chỉ này.

Đôi khi, các ngòi bút thiêng liêng, các nhà phụng vụ học và giáo lý, lại phụ lòng chúng ta khi không nói rõ rằng cầu nguyện có nhiều giai đoạn – và trong đó, sự nhiệt tâm, sốt mến chỉ là một giai đoạn và là giai đoạn ban đầu. Như những tiến sĩ và nhà thần nghiệm thường dạy, cầu nguyện cũng như tình yêu, phải đi qua ba giai đoạn. Trước hết là lửa mến, rồi đến sự khô khan và chán ngán, cuối cùng là sự thanh thản, ý thức mình đang về nhà khi mà lời cầu nguyện không dựa vào hăng hái hay sốt mến mà dựa vào cam kết với giây phút hiện tại, bất chấp cảm giác như thế nào.

Dietrich Bonhoeffer, mục sư thần học gia người Đức, từng nói câu này khi chủ trì hôn lễ cho một cặp vợ chồng: Hôm nay, anh chị tràn đầy tình yêu và tin rằng tình yêu sẽ duy trì hôn nhân của mình. Không đâu. Hãy để hôn nhân (vốn có những nghi thức) duy trì tình yêu của anh chị. Chúng ta cũng có thể nói như thế về cầu nguyện. Lửa mến và nhiệt tâm sẽ không duy trì lời cầu nguyện, nhưng nghi thức thì có. Khi chúng ta khó khăn cầu nguyện với tâm trí, chúng ta vẫn luôn có thể cầu nguyện bằng ý chí và thể xác. Thể hiện bên ngoài có thể đủ cho cầu nguyện.

Trong quyển sách mới đây của mình, Chị Wendy yêu quý (Dearest Sister Wendy), tác giả Robert Ellsberg đã trích một câu của ông Michael Leach nói về kinh nghiệm của ông khi chăm sóc lâu dài cho người vợ bị Alzheimer: “Phải lòng ai đó là phần dễ nhất, học cách yêu là phần khó, và sống trong tình yêu là phần tối tối hậu”. Việc cầu nguyện cũng như nhế.

Viết cáo phó cho mình

Sẽ đến thời chúng ta không còn viết sơ yếu lý lịch nhưng bắt đầu viết cáo phó cho mình. Tôi không chắc ai là người nói câu đó đầu tiên, nhưng nó hàm chứa một khôn ngoan.

Sơ yếu lý lịch và cáo phó khác nhau ở điểm nào? Sơ yếu nói lên những thành tựu của bạn, cáo phó thể hiện cách bạn muốn được tưởng nhớ và những điều tốt lành nuôi dưỡng nào bạn muốn để lại. Nhưng chính xác làm thế nào để viết được cáo phó sao cho nó đừng chỉ là một phiên bản kiểu khác của lý lịch? Tôi xin đưa ra gợi ý thế này.

Trong do thái giáo, có truyền thống là hằng năm, một người trưởng thành phải đưa ra một di chúc tâm linh. Ban đầu, nó là kiểu di chúc thông thường, tập trung vào việc mai táng, phân chia tài sản, cách xử lý những việc còn dang dở trong đời mình về mặt pháp lý và thực tế. Tuy nhiên, qua thời gian, nó biến đổi thành dạng di chúc tập trung hơn vào việc xem lại đời mình, nêu bật những gì quý báu nhất đời, những hối hận và xin lỗi thật tâm, những lời chúc phúc cho những người mà mình muốn có lời từ biệt thật đặc biệt. Di nguyện này được xem lại và viết lại hàng năm, cuối cùng là được đọc to trong tang lễ như là lời cuối cùng chúng ta muốn để lại cho người thân yêu.

Đây có lẽ là một việc làm rất hữu ích cho chúng ta, trừ việc di chúc này không phải viết ra để đưa cho luật sư, nhưng trong tinh thần cầu nguyện, gửi gắm cho một linh hướng, một cha giải tội đang giúp chúng ta. Vậy di chúc tâm linh này nói đến những chuyện gì?

Nếu bạn đang cần những ví dụ, thì tôi xin đưa ra tác phẩm và những bài viết của Richard Groves, đồng sáng lập Trung tâm Nghệ thuật Thiêng liêng của Đời sống. Trong hơn 30 năm ông làm việc trong lĩnh vực tâm linh cuối đời và cho chúng ta một vài hướng dẫn rất hữu ích về việc lập một di chúc tâm linh và đều đặn làm mới nó. Di chúc tâm linh tập trung vào ba điểm này.

Thứ nhất: Trong cuộc đời, Thiên Chúa muốn tôi làm gì? Tôi đã làm chưa? Tất cả chúng ta đều có một vài ý thức về ơn gọi, ý thức mình có một mục đích khi tồn tại trên đời, ý thức mình đã được giao nhiệm vụ để hoàn thành trong đời. Có lẽ chúng ta chỉ nhận thức thoáng qua về nó, nhưng với một mức độ nào đó, mỗi một chúng ta đều ý thức về một bổn phận và mục đích nào đó. Việc đầu tiên trong di chúc tâm linh là cố nắm bắt điều này. Thiên Chúa muốn tôi làm gì trong cuộc đời? Tôi đã làm tốt hay tệ việc đó?

Thứ hai: Tôi cần phải nói lời xin lỗi với ai? Tôi có những điều gì hối tiếc? Cũng như người khác đã làm tổn thương ta, thì chúng ta cũng có thể làm tổn thương người khác. Trừ phi chết trẻ, tất cả chúng ta đều từng mắc sai lầm, từng làm tổn thương người khác và làm những việc mà mình hối tiếc. Một di chúc tâm linh là xác định việc này với một lòng thành thật tận cùng và hối hận sâu sắc. Chúng ta không bao giờ có tấm lòng cao cả, cao thượng, sùng tín và xứng đáng được tôn trọng hơn, khi chúng ta quỳ gối chân thành nhận ra điểm yếu của mình, xin lỗi và hỏi xem chúng ta cần làm gì để sửa chữa.

Thứ ba: Trước khi qua đời, tôi muốn chúc phúc và trao lại món quà nuôi dưỡng cụ thể cho ai? Chúng ta được gần giống Thiên Chúa (truyền năng lượng thần thiêng vào cuộc đời) những khi chúng ta ái mộ người khác, tán thành người khác, cho họ những gì chúng ta có thể làm để giúp cuộc đời họ tốt hơn. Nhiệm vụ của chúng ta là làm việc này cho tất cả mọi người, nhưng chúng ta đâu thể làm cho tất cả, nên chúng ta làm cho một số người, và là những người cụ thể. Trong di chúc tâm linh, chúng ta có dịp để nói lên những người mà chúng ta muốn chúc phúc nhất. Khi tiên tri Ê-li mất, người hầu cận ngài là tiên tri Ê-li-sê nài xin ông để lại cho mình “phần gấp đôi” thần trí của ông. Khi chết, chúng ta phải để lại tinh thần của mình làm của nuôi dưỡng cho tất cả mọi người, nhưng có những người cụ thể mà chúng ta muốn để lại “phần gấp đôi”. Trong di chúc này, chúng ta nêu lên những người đó là ai.

Trong quyển sách đầy thách thức: Bốn điều quan trọng nhất (The Four Things That Matter Most), bác sĩ Ira Byock, người chăm sóc cho những người hấp hối, nói rằng có bốn điều chúng ta cần nói với những người thân yêu trước họ khi qua đời. “Xin tha thứ cho tôi”, “Tôi tha thứ cho bạn”, “Cám ơn”, và “Tôi yêu bạn”. Ông nói đúng, nhưng với những chuyện chẳng ngờ, những căng thẳng, tổn thương, đau lòng và thăng trầm trong tình cảm, kể cả với những người mà chúng ta yêu thương nhất, không phải lúc nào cũng dễ (và đôi khi là bất khả thi) nói ra những lời này cách rõ ràng nhất. Một di chúc tâm linh cho chúng ta cơ hội để nói những lời này với tâm tư vượt lên những căng thẳng thường che mờ tình cảm giữa chúng ta và ngăn chúng ta nói rõ những lời quan trọng này, để rồi ở tang lễ, sau những lời điếu văn, chúng ta sẽ không còn chuyện gì dang dở.

Chết một mình trong sa mạc

Gần đây, tôi nhận một bức thư của một người bạn chia sẻ, cô sợ phải chấp nhận một công việc nào đó vì nó sẽ làm cho cô cô đơn quá nhiều. Cô đã chia sẻ nỗi sợ này với người linh hướng của mình, người này chỉ đơn giản nói: “Thánh Charles de Foucauld cũng đã chết một mình trong sa mạc!” Với cô, câu trả lời đó là quá đủ. Với câu này, cô đi tới đàng trước. Câu trả lời đó có đủ cho những ai trong chúng ta, những người có cùng lưỡng lự, sợ hãi khi ở một mình không?

Nỗi sợ ở một mình là lành mạnh. Triết gia Jean-Paul Sartre nổi tiếng đã viết, địa ngục là người khác. Điều này quá xa sự thật. Địa ngục là ở một mình. Tất cả các tôn giáo lớn đều dạy thiên đàng là cộng đồng, một thiên đàng kết hợp của trái tim, linh hồn và cơ thể (theo các kitô hữu), trong một sự kết hợp của tình yêu. Sẽ không có cô đơn trên thiên đàng. Vì vậy, nỗi sợ hãi ở một mình của chúng ta là lành mạnh, chúng ta mè nheo Chúa và thiên nhiên, làm chúng ta luôn nhớ lại những lời Chúa đã nói khi tạo ra bà Ê-va, thật không tốt cho một người khi họ ở một mình. Trẻ con luôn hiểu điều này, chúng luôn cảm thấy bất an khi ở một mình. Đó là một trong những lý do tại sao Chúa Giêsu nói trẻ em lên thiên đàng tự nhiên hơn người lớn.

Nhưng, có phải ở một mình luôn không tốt cho sức khỏe không? Chúng ta có thể học được gì từ Thánh Charles de Foucauld, người đã chọn cuộc sống để rồi ngài chết một mình trong sa mạc? Chúng ta có thể học được gì từ một người như triết gia Soren Kierkegaard, người chống lại hôn nhân vì sợ rằng nó sẽ ảnh hưởng đến thiên chức, ông có trực giác sẽ chết một mình không? Và nhất là, chúng ta có thể học được gì từ Chúa Giêsu, người tình vĩ đại nhất của tất cả, người chết một mình trên thập giá, người đã khóc vì đã bị mọi người bỏ rơi và sau đó, khi hấp hối, Ngài đã đầu hàng cô đơn của Ngài bằng một hành động vị tha cao cả, qua đó Ngài hiến tâm trí mình cho một tình yêu trọn vẹn không?

Trong quyển sách gần đây, Nhật ký thấu cảm (The Empathy Diaries), tác giả Sherry Turkle đã phản ánh về tác động của công nghệ thông tin đương đại và phương tiện truyền thông xã hội trên chúng ta. Là nhà khoa học tại Đại học MIT, bà là một trong những người đã giúp phát triển máy tính và công nghệ thông tin như chúng có ngày nay, vì vậy bà không phải là người có thành kiến thế hệ, lãng mạn hoặc tôn giáo với máy tính, điện thoại thông minh và mạng xã hội. Tuy nhiên, bà lo lắng về những gì tất cả những điều này đang làm với chúng ta ngày nay, đặc biệt là với những người nghiện mạng xã hội và không thể ở một mình. “Tôi chia sẻ, do đó tôi tồn tại!”. Bà nêu ra một sự thật khó hiểu: Nếu chúng ta không biết làm thế nào để ở một mình, chúng ta sẽ luôn cô đơn.

Điều đó đúng cho tất cả chúng ta, dù không phải ai trong chúng ta cũng có ơn gọi nhờ đức tin hay có xu hướng chuộng đời sống đan viện yên tĩnh. Những gì Chúa Giêsu đã mô phỏng (và những gì các vị như Thánh Charles de Foucauld, triết gia Soren Kierkegaard và vô số nam nữ tu sĩ, và những người độc thân đã cảm thấy mình được mời gọi) không phải là con đường dành cho tất cả mọi người. Trên thực tế, về mặt tôn giáo hay nhân chủng học, nó không phải là chuẩn mực. Hôn nhân mới là thế. Khi được hỏi, độc thân là như thế nào, Thomas Merton đã trả lời, độc thân là địa ngục. Bạn sống trong cô đơn mà chính Chúa đã lên án; nhưng điều đó không có nghĩa là nó không thể không có kết quả.

Chính yếu đó là câu trả lời mà bạn tôi đã nhận được từ vị linh hướng khi cô chia sẻ nỗi sợ hãi, cảm nhận mình sẽ cô đơn nếu đi theo ơn gọi này. Bạn có thể là một Charles de Foucauld, bạn sẽ đơn độc nhưng theo một cách rất có hiệu quả.

Thậm chí còn có một cái gì lãng mạn trong việc chủ động sống cô đơn và độc thân. Cách đây vài năm, tôi hướng dẫn tâm linh cho một thanh niên có đức tin, có lý tưởng mạnh. Tràn đầy sức sống và năng lượng trẻ trung, như các bạn trẻ cùng tuổi, anh cảm nhận sức hút mạnh mẽ của tình dục nhưng anh cũng cảm thấy mình được lôi cuốn mạnh mẽ theo một hướng khác. Anh đọc Soren Kierkegaard, Dorothy Day, Thomas Merton, Daniel Berrigan, anh cảm thấy sự hấp dẫn lãng mạn trong cuộc sống độc thân, trong cô đơn, lẻ loi mà sau đó anh tìm được chính mình. Anh cũng đọc Phúc âm, câu chuyện Chúa Giêsu chết một mình trên thập giá không có người nắm tay. Giống như Chúa Giêsu, anh muốn trở thành nhà tiên tri cô đơn và chết một mình.

Có một lý tưởng đáng thán phục ở đây, mặc dù có lẽ đó cũng là niềm kiêu hãnh không lành mạnh và một kiểu tinh hoa nào đó khi muốn trở thành người hùng cô đơn, người được ngưỡng mộ vì đứng ngoài vòng cương tỏa của tình thân mật bình thường. Hơn nữa, với tư cách là người độc thân suốt đời (người giữ lời khấn từ hơn năm mươi năm nay), tôi muốn đưa ra lời cảnh báo này. Một giấc mơ lãng mạn về cuộc sống độc thân, cho dù bắt nguồn từ đức tin và mạnh mẽ đến đâu, cũng sẽ gặp thử thách trong các mùa, các đêm khi chúng ta rơi vào lưới tình, khi mệt mỏi, khi chìm đắm và khi tình dục (và tâm hồn) của mình kêu lên, tôi không muốn chết một mình trong sa mạc. Merton nói, để duy trì chính mình trong cô đơn của Chúa Giêsu, đôi khi là một địa ngục tuyệt đối, dù đó là địa ngục đầy hoa trái.

Chết một mình trong sa mạc như Charles de Foucauld là câu trả lời đủ.

Ghen với lòng quảng đại của Thiên Chúa

“Gà sẽ gáy khi cái tôi của bạn bùng nổ, có nhiều cách để thức tỉnh”. John Shea đã nói câu này, và gần đây tôi hiểu thêm câu này khi đang chờ ở phi trường: tôi đã kiểm vé và chờ qua khâu an ninh, thấy hàng dài đang chờ, tôi chấp nhận phải mất ít nhất 40 phút mới xong.

Tôi không có vấn đề gì với việc chờ lâu giờ và kiên nhẫn nhích từng bước – cho đến khi, vừa tới lượt tôi, thì một đội kiểm an ninh mới xuất hiện, họ mở thêm quay kiểm thứ hai, và hàng người dài sau lưng tôi, những người chưa chờ 40 phút liền qua cổng ngay. Tôi vẫn chờ đến lượt tôi, nhưng trong lòng thấy mình bị xem thường và giận dữ: “Thế này không công bằng! Tôi đã chờ 40 phút, mà họ qua cổng cùng lần với tôi”. Tôi đã chờ, bằng lòng chờ, cho đến khi có người đến sau và họ chẳng phải chờ chút nào. Tôi đâu bị đối xử bất công, nhưng người khác may mắn hơn tôi.

Kinh nghiệm này cho tôi biết lòng tôi không phải lúc nào cũng bao dung và rộng lượng. Đồng thời, nó còn giúp tôi hiểu ra một điều về dụ ngôn của Chúa Giêsu về những người thợ đến vào giờ thứ 11 và nhận tiền công bằng với những người đã làm việc cả ngày, và hiểu ra thách thức đối với những người cau có về sự bất công trong chuyện này: “Anh ghen tị vì tôi hào phóng sao?”

Chúng ta ghen vì Thiên Chúa quảng đại sao? Chúng ta có buồn không khi người khác có được những tặng vật và tha thứ mà họ không xứng đáng có?

Hẳn là có! Xét cho cùng, ý thức công lý đó, ghen tị khi người khác gặp may mắn đó, chính là chướng ngại cho hạnh phúc của chúng ta. Tại sao lại thế? Vì trong chúng ta có phản ứng tiêu cực khi cuộc đời dường như không bắt người khác phải trả cái giá như chúng ta đã trả.

Trong Tin Mừng, chúng ta thấy chuyện Chúa Giêsu đến hội đường vào ngày sa-bát, lên bục và đọc sách, trích một câu của tiên tri I-saia, Ngài không trích toàn bộ. Đoạn I-saia 61, 1-2, là đoạn mà những người trong hội đường biết khá rõ, nói về thị kiến của tiên tri I-saia về dấu chỉ cho thấy cuối cùng Thiên Chúa đã can thiệp vào thế giới và biến đổi mọi sự mãi mãi. Và chuyện đó như thế nào?

Với tiên tri I-saia, dấu chỉ cho thấy Thiên Chúa đang thống trị địa cầu là tin mừng cho người nghèo, an ủi cho những tâm hồn tan nát, tự do cho người bị nô lệ, ân sủng dư đầy cho tất cả, và báo oán với kẻ ác. Nhưng hãy để ý, khi trích lại câu này, Chúa Giêsu bỏ đi phần nói về báo oán. Không như tiên tri I-saia, Ngài không nói rằng một phần niềm vui của chúng ta là thấy kẻ ác bị trừng phạt.

Trên trời, chúng ta sẽ được ban cái mà chúng ta đã có và còn hơn thế nữa (là tặng vật và sự tha thứ mà chúng ta không xứng đáng, niềm vui quá sức tưởng tượng), nhưng có lẽ, chúng ta sẽ không có được sự xoa dịu mà chúng ta quá mong muốn ở đời này là niềm vui thấy kẻ ác bị trừng phạt.

Niềm vui của Thiên đàng sẽ không có việc thấy Hitler chịu đau khổ. Thật vậy, cái thôi thúc bản năng làm chúng ta muốn công lý nghiêm khắc (Mắt đền mắt), chính xác là một thôi thúc bản năng, một thứ mà phúc âm mời gọi chúng ta hãy vượt lên nó. Khao khát công lý nghiêm khắc ngăn cản khả năng tha thứ và do đó, ngăn cản chúng ta vào thiên đàng, nơi Thiên đàng, như cha của người con hoang đàng, luôn ôm lấy và tha thứ mà người cha không đòi hỏi người con phải trả giá kiểu một đấu khổ để bù cho một đấu tội.

Chúng ta biết mình cần lòng thương xót của Thiên Chúa, nhưng nếu ân sủng có cho chúng ta thì nó cũng phải cho tất cả mọi người, nếu tha thứ được ban cho chúng ta thì nó cũng phải được ban cho tất cả mọi người, và nếu Thiên Chúa không báo oán với những hành động sai trái của chúng ta, thì Thiên Chúa cũng không báo oán với hành động sai trái của người khác. Đó là lô-gích của ân sủng, lô-gích của tình yêu Thiên Chúa mà chúng ta phải hòa theo.

Hạnh phúc không hệ tại ở báo oán mà ở tha thứ, không hệ tại ở bào chữa mà ở đón nhận dù chúng ta không xứng đáng.

Không ngạc nhiên khi nơi một số thánh lớn, chúng ta thấy một thần học gần giống với thuyết phổ độ, là niềm tin, đến cuối cùng, Thiên Chúa sẽ cứu hết mọi người, kể cả Hitler. Họ tin như thế không phải vì họ không tin vào địa ngục hay khả năng mãi mãi phải xa rời Thiên Chúa, nhưng vì họ tin rằng tình yêu Thiên Chúa quá phổ quát, quá mạnh mẽ, và quá gọi mời, đến nỗi, cuối cùng những người trong địa ngục cũng thấy được lỗi lầm của họ, loại đi tính kiêu căng và phó mình cho tình yêu. Họ cảm thấy chiến thắng tối hậu của Thiên Chúa sẽ đến khi chính ma quỷ cũng hoán cải và địa ngục trống không.

Có lẽ sẽ không bao giờ có chuyện đó. Thiên Chúa ban cho chúng ta tự do. Dù vậy, khi tôi hay bất kỳ ai thấy mình giận ở sân bay, ở buổi điều trần, hay ở bất kỳ đâu, nơi có người có được tha thứ mà chúng ta nghĩ họ không xứng đáng, thì chúng ta phải chấp nhận mình còn cả quãng đường dài để hiểu và chấp nhận nước Thiên Chúa.

Những con quỷ thật sự của chúng ta

Trong hình ảnh có gì? Hình ảnh có thể ghi dấu không phai vào ý thức của chúng ta để chúng ta không thể hình dung một vật gì đó theo cách nào khác. Ví dụ như bức tranh Bữa tiệc ly của Leonardo da Vinci. Ngày nay, nếu bạn nhắm mắt lại và cố hình dung Bữa tiệc ly, thì hình ảnh đó sẽ tự nhiên hiện lên, dù các học giả khẳng định trong bữa tiệc đó, Chúa Giêsu và các môn đệ không ngồi như thế. Nghệ thuật mạnh đến như vậy đấy.

Đáng buồn là, điều này cũng đúng về cách chúng ta tự nhiên hình dung về ma quỷ và việc trừ quỷ. Các bộ phim về quỷ ám, như Rosemary’s Baby đã ghi khắc những hình ảnh nhất định trong chúng ta, nên chúng ta hình dung người bị quỷ ám là người có gương mặt đầy thù hận, méo mó, điên dại, bay lơ lửng lên trần, miệng phun ra những thứ nước tanh tưởi, ở trong một căn phòng đầy mùi khí độc. Và hình ảnh về việc trừ quỷ là một linh mục trông rất khổ hạnh, mặc toàn đồ đen, mang dây các phép, kêu danh cực thánh Chúa Giêsu khi rảy nước thánh, rồi quỷ hét lớn và tháo lui. Đó là những hình dung của chúng ta về quỷ ám và trừ quỷ. Nghệ thuật mạnh đến như vậy đấy!

Nhưng thường thì quỷ ám và trừ quỷ lại không giống như vậy. Thật sự hình dung ma quỷ và việc trừ quỷ theo cách đó là lợi bất cập hại, vì ma quỷ thì tinh vi và việc trừ quỷ không chỉ có những việc như trên phim mà lâu nay chúng ta vẫn tin.

Vậy đúng ra ma quỷ trong chúng ta sẽ như thế nào? Một hình ảnh về gương mặt méo mó, phun ra khí độc và những lời lẽ thù hận, có lẽ cũng hữu ích cho chúng ta hình dung. Đó là một hình ảnh ẩn dụ tốt. Tuy nhiên, trong đời thực, gương mặt méo mó và đầy thù hận quá lại thường xuất hiện trên mặt chúng ta, và chất độc phun ra chính là lời nói thù hằn mà chúng ta nhắm vào nhau khi chửi rủa nhau vì đối địch về hệ tư tưởng, chính trị, đạo đức và tôn giáo. Cũng vậy, việc trừ quỷ không chỉ cần hành động rảy nước thánh theo nghĩa đen, mà còn cần đến Thần Khí.

Ma quỷ thật sự trông thế nào?

Có một con quỷ tên là hoang tưởng, nó rất mạnh và kéo theo các bầy đàn quỷ khác, như bất tín, nghi ngờ, đề phòng, và sợ hãi. Khi chúng ta bị hoang tưởng chiếm lấy, là chúng ta trở nên nghi ngờ và bất tín. Chúng ta nhìn ai cũng thấy họ là mối đe dọa, là kẻ địch, và mọi bản năng tự nhiên bắt đầu thúc ép chúng ta đề phòng, thủ thế và từ đó bắt đầu làm cho gương mặt chúng ta méo mó và phun ra điều bất tín. Đây có thể là con quỷ khó trừ nhất, vì nó khắc sâu trong lòng chúng ta. Không phải tình cờ mà từ sám hối [metanoia] là tổng kết thách thức mà Chúa Giêsu đặt ra cho chúng ta lại chính là phản đề của hoang tưởng [paranoia].

Rồi còn có một con quỷ khác tên là kiêu ngạo, nó làm chúng ta luôn mãi ý thức về sự đặc biệt của mình, làm chúng ta thích đặc biệt hơn là thích hạnh phúc. Con quỷ này kéo theo một bạn đồng hành xấu xa là ghen tị, làm tê liệt khả năng ngưỡng mộ người khác, chúc phúc cho họ và không thấy bị đe dọa bởi thành công của họ.

Tiếp theo, là con quỷ ham ăn và con quỷ tham lam. Hầu như chúng không còn dụ dỗ chúng ta ăn uống cho thật nhiều và tích trữ của cải mãi nữa. Thay vào đó, những con quỷ này truyền cho chúng ta sự tham lam muốn trải nghiệm, ám ảnh muốn tận hưởng mọi thứ, ám ảnh muốn kết nối xã hội 24/24 và 7/7. Hơn nữa, chúng còn kéo theo con quỷ dâm dục, con quỷ làm cho chúng ta xem người khác là đối tượng dục vọng của mình và làm chúng ta không tôn trọng họ nữa.

Chúng là những con quỷ thật sự làm cho gương mặt chúng ta méo mó, và dù không có con quỷ nào có hình dạng như đứa bé trong phim Rosemary’s Baby, nhưng tất cả chúng đều làm chúng ta phun ra sự bất tín và thù hận thay vì tin tưởng và thông hiểu.

Làm sao để trừ chúng đây? Chúng không phải là những con quỷ dễ phản ứng trước nước thánh. Để tẩy trừ chúng, chúng ta phải cần đến Chúa Thánh Thần.

Kinh Thánh cho chúng ta biết Thần Khí “soi sáng mọi sự”. Kinh Thánh còn nói rằng Thần Khí không phải là một sức mạnh mơ hồ mà chúng ta không thể nhận biết. Trong thư gửi tín hữu Galat, thánh Phaolô nói rõ Thần Khí là gì. Ngài bắt đầu bằng phép loại trừ, nói rằng Thần Khí không phải là gì, và không bao giờ được nhầm lẫn Thần Khí với những con quỷ, cụ thể là hoang tưởng, bất tín, nghi ngờ, thủ thế, sợ hãi, kiêu ngạo, ghen tị, tham lam, ham ăn, và dâm dục. Thần Khí là phản đề với tất cả những thứ đó. Ngược lại, Thần Khí là khí thiêng của lòng nhân, vui mừng, hòa bình, nhẫn nại, tốt lành, chịu đựng, trung tín, hiền lành và khiết tịnh.

Hai cái đối lập không thể cùng tồn tại trong một chủ thể, và đó chính là cách hoạt động của việc trừ quỷ. Càng nắm lấy lòng nhân, vui mừng, hòa bình, nhẫn nại, tốt lành, chịu đựng, trung tín, hiền lành và khiết tịnh, thì chúng ta càng diệt trừ hoang tưởng, bất tín, nghi ngờ, thủ thế, sợ hãi, kiêu ngạo, ghen tị, tham lam, ham ăn, và dâm dục, cũng như bớt phun ra những thứ quỷ ám thù hận.

Các công thức trong Kinh Thánh về tha thứ

Không có gì quan trọng cho bằng tha thứ. Tha thứ là chìa khóa mở ra cho hạnh phúc và là mệnh lệnh thiêng liêng quan trọng nhất cuộc đời chúng ta. Chúng ta cần tha thứ, cần làm hòa với những tổn thương và bất công mình đã chịu để khỏi phải chết trong giận dữ và cay đắng. Trước khi chết, chúng ta cần tha thứ, tha thứ cho người khác, cho bản thân, cho Chúa, vì mọi sự xảy ra trong cuộc đời chúng ta.

Nhưng không dễ để tha thứ, thật sự nhiều lúc không thể tha thứ nổi. Cần phải nói rõ như thế, vì ngày nay, nhiều tác phẩm đủ thể loại, với ý định tốt, đem lại ấn tượng tha thứ chỉ là vấn đề có sẵn sàng và có bỏ qua hay không. Cứ buông bỏ và đi tiếp!

Nhưng chúng ta đều biết, đâu có dễ như vậy! Những vết thương hằn lên tâm hồn thì cần thời gian, có khi là một thời gian rất dài để chữa lành, và tiến trình đó vô cùng chậm rãi, một việc mà chúng ta không thể đi nhanh được. Thật sự, chấn thương từ vết thương cảm xúc thường tác động lên sức khỏe thể xác chúng ta. Chữa lành cần có thời gian.

Khi nhìn vào vấn đề chữa lành và tha thứ, chúng ta có một thấu suốt đầy giá trị nhưng lại lãng quên từ lâu linh đạo về ngày sa-bát trong do thái giáo và kitô giáo. Giữ ngày sa-bát không phải chỉ tôn vinh một ngày nhất định trong tuần, đó là một công thức của tha thứ. Cách nó tiến hành như sau.

Thần học và linh đạo về ngày sa-bát dạy chúng ta, Thiên Chúa tạo dựng thế giới trong sáu ngày và ngày thứ bảy là ngày sa-bát, ngày Ngài nghỉ ngơi. Hơn nữa, không chỉ Thiên Chúa nghỉ ngơi ngày sa-bát mà Ngài còn tuyên bố đó là ngày nghỉ ngơi cho tất cả mọi người đến muôn đời, và như thế, Thiên Chúa tạo một nhịp điệu nhất định cho cuộc sống chúng ta. Nhịp điệu đó phải như thế này:

• Làm việc sáu ngày, nghỉ một ngày.

• Làm việc 49 (bảy lần bảy) năm, thì có năm đại xá, cả thế giới trải qua kỳ sa-bát.

• Làm việc bảy năm, nghỉ một năm (kỳ nghỉ sa-bát).

• Làm việc cả đời, rồi nghỉ kỳ sá-bat vĩnh hằng.

Nhịp điệu đó cũng nên áp dụng cho cách chúng ta tha thứ:

• Chúng ta có thể giữ ác cảm nhỏ trong bảy ngày, nhưng rồi chúng ta phải buông bỏ nó.

• Chúng ta có thể giữ ác cảm lớn trong bảy năm, nhưng rồi chúng ta cần buông bỏ nó. (Mức hạn định dựa trên điều này).

• Chúng ta có thể giữ một vết thương khủng khiếp khắc sâu vào tâm hồn trong 49 năm, nhưng rồi chúng ta cần buông bỏ nó.

• Chúng ta có thể giữ một vết thương làm cho tâm hồn chúng ta tan vỡ cho đến chết, nhưng rồi chúng ta cần buông bỏ nó.

Điều này nêu bật một chuyện vốn thường không xuất hiện trong giới tâm linh và trị liệu thời nay, đó là: chúng ta cần thời gian để có thể tha thứ, và thời gian đó tùy thuộc vào mức độ của vết thương. Ví dụ như:

• Khi bị đồng nghiệp xem thường trong cuộc họp, chúng ta cần chút thời gian để bực mình cho sự bất công này, nhưng thường thì một vài ngày là đủ để chúng ta hướng về phía trước và có thể buông bỏ nó.

• Khi chúng ta bị đuổi việc một cách lạnh lùng bất công thì bảy ngày hay bảy tuần thường không đủ để chúng ta buông bỏ và tha thứ chuyện này. Có lẽ bảy năm thì thực tế hơn. (Xin lưu ý “mức hạn định” phỏng theo thấu suốt Kinh Thánh này).

• Có những chấn thương chúng ta chịu đựng để lại vết thương sâu sắc hơn cả do bị đuổi việc bất công. Có những vết thương chúng ta chịu do bị lạm dụng, thờ ơ, do nhiều năm cam chịu bất công, và chúng cần hơn bảy năm để chữa lành. Có thể phải mất đến 49 năm, nửa thế kỷ, dể làm hòa với những chuyện chúng ta bị bắt nạt khi còn nhỏ, hoặc bị lạm dụng về cảm xúc, tình dục khi còn niên thiếu.

• Có những vết thương quá sâu sắc đễn nỗi phải đến giờ hấp hối, chúng ta mới chỉ có thể làm hòa với sự thật là chúng đã xảy ra với mình, buông bỏ chúng và tha thứ cho người hoặc nhiều người đã gây ra chúng.

• Cuối cùng, có những vết thương quá sức sâu đậm, quá sức hủy hoại, quá sức đau đớn đễn nỗi chúng ta không thể xử lý trong đời này. Với chúng, may thay, chúng ta còn có cái ôm chữa lành nhân từ của Thiên Chúa sau khi chết.

Năng lực tha thứ dựa vào ân sủng hơn là ý chí. Phạm lỗi lầm là thuộc tính con người, nhưng tha thứ là thuộc tính thần thánh. Câu đơn giản này chứa đựng một sự thật thâm sâu hơn những gì chúng ta nắm bắt thoáng qua. Điều làm cho tha thứ trở nên khó khăn và nhiều lúc bất khả thi, không phải chủ yếu do cái tôi của chúng ta bị bầm dập và tổn thương quá đỗi. Đúng hơn, khó khăn thực sự chính là việc một vết thương của tâm hồn cũng như vết thương của thể xác, nó làm chúng ta suy yếu.

Điều này đặc biệt đúng với những chấn thương in sâu vào tâm hồn và làm tan nát tâm hồn, cần đến 49 năm hay cả đời để chữa lành, hoặc có lúc không thể chữa lành trong đời này. Những vết thương như thế làm chúng ta cạn kiệt sức mạnh, nhất là khi đối diện với người đã gây cho chúng ta, làm chúng ta rất khó để tha thứ.

Chúng ta cần một linh đạo sa-bát để giúp đỡ cho mình.

Kinh Ngợi khen Magnificat

Một linh mục minh triết người Úc đã chia sẻ câu chuyện này trong một lớp học. Trong đời tôi, có những ngày mà mọi thứ, từ áp lực công việc, mệt mỏi, chán nản, lơ đãng, đờ đẫn làm cho tôi khó cầu nguyện. Nhưng dù thế nào đi nữa, mỗi ngày, tôi luôn cố tập trung, sốt sắng đọc ít nhất một kinh Lạy Cha.

Trong các sách Phúc âm, Chúa Giêsu để lại cho chúng ta kinh Lạy Cha. Đây là lời cầu nguyện quý báu nhất của người tín hữu kitô. Tuy nhiên, các Phúc âm còn để lại cho chúng ta một kinh cũng quý báu, một kinh ít được biết đến hay ít được đọc nhiều như kinh Lạy Cha. Đó là lời cầu nguyện của Đức Mẹ, mẹ Chúa Giêsu, kinh Magnificat. Theo tôi, sau kinh Lạy Cha, đây là kinh quý báu chúng ta có,.

Phúc âm thánh Luca ghi lại: Đang mang thai Chúa Giêsu, Đức Mẹ đi thăm người chị họ là bà Elizabeth cũng đang mang thai Gioan Tẩy giả. Theo truyền thống kitô giáo, đây là câu chuyện “đi viếng”, và những gì toát ra từ hai phụ nữ này vượt quá những gì bề ngoài. Đây không chỉ là vui mừng bình thường của những phụ nữ mang thai. Được viết ra 80 năm sau khi sự kiện này xảy ra, kể chuyến đi viếng như một phản ảnh hậu phục sinh về tầm quan trọng biến đổi thế giới của hai người con mà hai phụ nữ này đang mang trong dạ. Cũng thế, những lời họ nói với nhau nói lên hiện thực hậu phục sinh. Và trong bối cảnh này, các Phúc âm đã để Đức Mẹ xướng lên lời kinh Magnificat. Và lời kinh đó là gì?

Là lời tạ ơn và chúc tụng Thiên Chúa vì đã ở bên người nghèo, người khiêm hạ, người thiếu đói, người bị áp bức trên đời, đã nâng họ lên và cho họ chiến thắng, còn những người quyền thế thì bị truất xuống và bị hạ nhục. Tuy nhiên, lời kinh của Đức Mẹ đều dùng thì quá khứ, như thể đó là một việc đã làm rồi, một hiện thực đã có trên thế gian này.

Như nhân vật hoạt hình Ziggy từng nhắc đến Chúa trong lời cầu nguyện, “Người nghèo vẫn đang bị hành hạ ở đây!” Và nhìn chung là như thế. Nhìn vào thế giới ngày nay, chúng ta thấy khoảng cách giữa giàu nghèo đang lớn rộng, hàng trăm triệu người đi ngủ bụng đói mỗi đêm, tham nhũng và tội ác diễn ra khắp nơi, người quyền thế dường như muốn gì được đó, chẳng hề bị gì. Chúng ta có gần trăm triệu người tị nạn chờ chực ở các biên giới, những phụ nữ và trẻ em vẫn đang là nạn nhân của bạo lực đủ loại khắp nơi. Tệ hơn nữa, mọi chuyện dường như ngày càng đi xuống chứ không đi lên. Vậy thì chuyện Chúa hạ những ai quyền thế và nâng cao người yếu thế, ban của cải đầy dư cho người nghèo và đuổi người giàu có về tay không, những chuyện đó chúng ta thấy ở đâu?

Chúng ta thấy nó trong sự phục sinh của Chúa Giêsu và viễn cảnh hy vọng chúng ta có được từ thực tế đó. Điều mà Đức Mẹ khẳng định trong kinh Magnificat là một sự thật thâm sâu, rằng chỉ có đức tin và đức cậy chúng ta mới có thể hiểu được rằng, dù hiện tại bất công, tham nhũng và bóc lột người nghèo dường như đang thống trị, nhưng sẽ có một ngày tận thế khi khối đá áp bức đó lăn khỏi mồ và người quyền thế sẽ bị lật đổ. Kinh Magnificat là lời kinh tối cùng của đức cậy, và là lời kinh tối cùng cho người nghèo.

Có lẽ do tuổi tác của tôi, có lẽ do tôi nản lòng khi mỗi đêm xem tin tức, hoặc có thể là do cả hai, nhưng khi thêm tuổi, (ngoài phép Thánh Thể), tôi càng thấy quý trọng hai lời kinh này, kinh Lạy Cha và kinh Magnificat. Như cha giáo dòng Thánh Âugutinô của tôi, bây giờ tôi đảm bảo, không một ngày nào tôi để áp lực, mệt mỏi, xao lãng hay lười biếng ngăn tôi chú tâm đọc hai kinh này, kinh Lạy Cha và kinh Magnificat.

Nhưng không phải khi nào cũng được như vậy. Trong nhiều năm, tôi thấy trong kinh Magnificat lòng tôn kính Đức Mẹ, mọi lời khẩn cầu và chúc tụng Đức Mẹ gom lại trong đó. Chuyện này không có gì sai vì Đức Mẹ là người mà hàng triệu triệu người, không phải chỉ người nghèo, hướng về khi cùng quẫn để được dẫn dắt, an ủi và cảm thông của một người mẹ. Không mấy người phê bình sự tốt đẹp của điều này, vì nó tạo nên một thuyết thần nghiệm về người nghèo và sự nghèo khó trong lòng.

Tuy nhiên, kinh Magnificat không hẳn là để tôn vinh cá nhân Đức Mẹ cho bằng để tôn vinh người nghèo. Trong kinh này, Đức Mẹ nói lên lời đáp trả tối hậu của Thiên Chúa trước sự bất lực và đàn áp người nghèo. Linh mục Henri Nouwen từng viết, xem tin tức buổi tối và thấy đau khổ trên thế giới có thể làm chúng ta cảm thấy nản lòng và bất lực. Nản lòng vì sự bất công chúng ta thấy, bất lực vì gần như chúng ta chẳng làm được gì.

Chúng ta có thể làm được gì đây? Chúng ta có thể đọc kinh Magnificat mỗi ngày để nói lên lời đáp trả tối hậu của Thiên Chúa trước sự bất lực của người nghèo.