RonRolheiser,OMI

Mất một người thân yêu vì tự tử

Nhà báo David Brooks của tờ New York Times từng viết một bài về một người bạn lâu năm đã chết vì tự tử. Trong phần mô tả bạn mình và sự suy sụp chìm vào chứng bệnh tự tử, Brooks đã cho chúng ta thấy một vài điều về cách chúng ta vẫn còn rất lâu mới hiểu được về tự tử. (New York Times, 09-2-2023)

Bạn của ông, Peter, không có vẻ gì là một người sẽ tự tử. Ông có một hôn nhân tuyệt vời, hai người con trai yêu thương, bạn bè nồng hậu, và sự nghiệp bác sĩ mãn nguyện, vừa giúp ông được vui, vừa có thể giúp người khác. Ông khỏe mạnh về thể chất, năng động và thích thể thao. Nhưng đến một lúc, ông bắt đầu chìm vào trầm cảm, chứng bệnh tàn phá đến mức mọi yêu thương trên đời này đều bó tay. Cuối cùng, ông tự tước đi mạng sống mình.

Điều mà Brooks nêu bật khi thuật lại hành trình cuộc đời của bạn mình, là một điều mà tất cả mọi người cần phải đọc. Ông nêu bật chuyện gì?

Trước hết, trong hầu hết trường hợp, tự tử là một chứng bệnh. Người ta không chọn chìm vào dạng trầm cảm này, và nó ập đến cũng không khác gì chứng ung thư, tiểu đường hay đau tim. Họ gặp một căn bệnh và họ không thể tự mình thoát khỏi nó, cũng như những người mắc bệnh nặng không thể nào tự chữa lành bằng sức mạnh ý chí và thái độ sống. Đâu thể cứ muốn là thoát khỏi sự trầm cảm tự tử. Hơn thế nữa, trầm cảm tự tử không phải là thứ mà bất kỳ ai trong chúng ta, những người ngoài cuộc, có thể hiểu được.

Thứ hai, sự trầm cảm này rất kinh khủng, là cơn ác mộng kinh hoàng nhất. Tác giả William Styron đã mô tả trong hồi ký của mình, Bóng tối hữu hình (Darkness Visible) rằng, “Tôi cảm nghiệm một chấn động nội tâm đáng chú ý mà tôi chỉ có thể mô tả là một nỗi tuyệt vọng hơn bất kỳ nỗi tuyệt vọng nào. Nó phát xuất từ màn đêm lạnh lẽo, tôi đã không nghĩ có tồn tại một nỗi thống khổ đến như thế”. Rồi sự đau khổ đó còn kết hợp với sự thật rằng một phần của chứng bệnh (hầu hết) là người đó cảm thấy không thể nào xác định rõ nỗi đau này chính xác là do điều gì. Do đó, họ đơn độc với nó, cảm thấy mình lạc loài, và sự cô độc đó đến từ một cảm giác quá mạnh rằng sẽ tốt hơn cho mọi người nếu loại bỏ mình khỏi gia đình và bạn bè bằng cách tự tử.

Hơn nữa, khi đối diện với trầm cảm tự tử, thuốc thang và trị liệu tâm lý có thể phần nào hữu ích, nhưng chúng cũng có giới hạn.

Chúng ta phải làm gì khi gặp một người đang chịu trầm cảm gây tê liệt này? Để cố trả lời câu hỏi đó, chúng ta có thể mở đầu với việc gì chúng ta không nên làm.

Tác giả Brooks chia sẻ một vài nỗ lực, dù chân thành nhưng xét tận cùng là sai lầm, khi cố giúp đỡ bạn mình. Ví dụ ông nhắc Peter nhớ lại những phúc phần tuyệt vời và cuộc đời diễm phúc của Peter. Rồi sau này, ông mới nhận ra “làm thế có thể làm cho đương sự đau khổ, cảm thấy tệ hơn vì không thể tận hưởng những thứ rõ ràng có thể tận hưởng”. Cũng vậy, chúng ta không nên hỏi người đó có suy nghĩ tự hại mình không. Người đó vốn đã hại mình quá nhiều đến mức độ thâm tâm của họ chỉ muốn chặn đứng nỗi đau, và tự tử được xem là phương thế duy nhất để làm vậy.

Vậy chúng ta nên làm gì? Brooks nói rõ: “Các chuyên gia nói rằng nếu biết ai đó đang bị trầm cảm, thì được phép nói thẳng về chuyện tự sát. Các chuyên gia nhấn mạnh bạn sẽ không gieo suy nghĩ đó vào đầu họ đâu. Vì nó vốn có sẵn trong đầu họ rồi. Và nếu là thế, người đó cần đến sự giúp đỡ chuyên môn”. Các chuyên gia cũng đồng ý rằng chúng ta nên thử liều hỏi thẳng xem người đó có ý nghĩ tự tử không. Nếu người đó không nghĩ đến chuyện tự tử, thì sẽ tha thứ cho bạn vì đã hỏi câu đó, nhưng nếu người đó đã nghĩ đến chuyện tự tử mà bạn lại quá ngại không dám hỏi, thì sự ngập ngừng của bạn có thể cản trở việc cứu lấy người đó.

Brooks chỉ ra rằng mặc dù trong những năm qua, thuốc men và tâm lý học đã có nhiều phát triển, nhưng tỷ lệ tự tử ngày nay lại cao hơn 30% so với 20 năm trước, và một phần năm người trưởng thành ở Mỹ đang bị các bệnh về tâm thần.

Cuộc đời của tôi đã gánh chịu nhiều về tự tử, từ bà con, bạn bè, hàng xóm, đồng nghiệp, bạn học, học trò cũ và những bậc đàn anh. Theo kinh nghiệm của tôi, trong mỗi một cái chết đó, người chết là một người tốt lành, chân thật, ân cần, nhạy cảm, quá nhạy cảm đến độ vào một thời điểm nào đó trong đời, họ quá bầm dập, quá đau đớn, quá bất lực trước chứng bệnh này đến nỗi không thể tiếp tục sống nữa. Mỗi một cái chết đó để lại một nỗi đau buồn thương tâm ghê gớm mà một phần lớn là do chúng ta không hiểu được điều gì gây nên cái chết của họ.

Khi nghĩ về việc bạn mình tự tử, Brooks kết lại rằng, “con quái vật đó lớn hơn Peter, lớn hơn bất kỳ ai trong chúng ta”. Và đến giờ nó vẫn vậy. Nói đơn giản, chúng ta vẫn còn lâu mới hiểu được sự khỏe tâm thần và sự mỏng manh của nó.

Chờ đợi thiên thần đến

Vào đêm trước khi chịu nạn, Chúa Giêsu đã đấu tranh dữ dội để chấp nhận thánh ý Chúa Cha. Các Phúc âm trình thuật Ngài sấp mình trên mặt đất ở vườn Giếtsêmani, “đổ mồ hôi máu” và nài xin Chúa Cha cứu Ngài khỏi cái chết thảm khốc đang chờ. Và khi cuối cùng Ngài vâng theo Chúa Cha, một thiên thần đến và tăng sức cho Ngài.

Điều này gợi lên một câu hỏi: thiên thần đó ở đâu khi mà chỉ xuất hiện khi Ngài cần đến nhất? Vì sao thiên thần không xuất hiện sớm hơn để tăng sức cho Ngài?

Tôi nghĩ có hai câu chuyện sau có thể giúp giải thích điều này:

Câu chuyện đầu tiên là về mục sư Martin Luther King. Trong những ngày trước khi bị ám sát, ông bị chống đối dữ dội và bị nhiều người dọa giết. Tuy rất can đảm, nhưng ông cũng là con người. Có lúc, những lời đe dọa làm ông vô cùng sợ hãi. Một đoạn nhật ký của ông viết như sau:

“Một tối cuối tháng 1, tôi đi ngủ trễ sau một ngày vất vả. Coretta đã ngủ say, và khi tôi chuẩn bị chìm vào giấc ngủ thì chuông điện thoại reo. Một giọng giận dữ nói, ‘Nghe này, thằng đen, bọn tao chịu hết nổi mày rồi, nội tuần này mày sẽ phải hối tiếc vì mày đã đặt chân đến Montgomery’. Tôi gác máy, nhưng không thể nào ngủ được. Có vẻ mọi nỗi sợ của tôi cùng lúc dâng lên. Tôi đã đến điểm bão hòa.

Tôi ra khỏi giường và đi lui đi tới trong nhà. Cuối cùng, tôi xuống bếp, nấu một ấm cà phê. Tôi đã sẵn sàng từ bỏ. Với ly cà phê chưa hề động đến trước mặt, tôi cố nghĩ cách để thoát khỏi chuyện này mà không bị mang tiếng là kẻ hèn nhát.

Trong tình trạng kiệt quệ này, khi mọi can đảm của tôi đều tan biến, tôi quyết định thưa vấn đề này lên Chúa. Hai tay ôm đầu, tôi cúi mình trên bàn ăn và cầu nguyện thành tiếng. Tôi vẫn nhớ rõ như in những lời tôi thưa với Chúa tối hôm đó.

‘Con ở đây để đứng ra bảo vệ những gì con tin là đúng đắn. Giờ con đang sợ hãi. Người dân đến với con để nhờ con lãnh đạo, và nếu con đứng lên dẫn đầu họ mà trong con chẳng có sức mạnh và dũng cảm, thì họ cũng sẽ nao núng. Con đã cạn kiệt sức lực rồi. Con chẳng còn gì nữa. Con đã đến độ không thể một mình đương đầu nữa’. Chính lúc đó, tôi cảm nghiệm được sự hiện diện của Đấng Tối cao hơn bao giờ hết”. (Sải bước đến Tự do, Strive Toward Freedom)

Chúng ta thấy thiên thần xuất hiện ở thời điểm nào trong cuộc đấu tranh của ông.

Và trong tự thuật của mình, Sự cô độc lâu dài (The Long Loneliness), bà Dorothy Day đã chia sẻ câu chuyện này. Thời trẻ, cùng với người đàn ông bà yêu, bà là chiến binh không tín ngưỡng. Thật sự, việc họ ngần ngại tiến đến hôn nhân cũng là lời tuyên bố họ không chấp nhận các giá trị kitô giáo truyền thống. Rồi bà mang thai và đứa con ra đời, khởi đầu cho một hoán cải triệt để. Niềm vui khi bồng đứa con trên tay làm bà tin chắc có một Thiên Chúa và sự sống có một mục đích yêu thương. Bà trở lại đạo công giáo la mã, bất chấp sự bực mình của người yêu, người cha của con mình. Ông bắt bà chọn lựa, nếu bà rửa tội cho đứa bé thì hai người cắt đứt. Bà đã rửa tội cho con và mất mối tình này, dù họ vẫn tiếp tục là bạn bè của nhau. Tuy nhiên, lúc đó, bà là bà mẹ đơn thân không có công việc, không hình dung hay dự tính gì cho cuộc đời của mình.

Có lúc bà đã tuyệt vọng. Bà để con lại cho người khác chăm sóc và lên tàu đi New York đến Đền thánh Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên tội ở Washington. Trong tự thuật, bà kể lời cầu nguyện của bà ngày hôm đó, một lời cầu nguyện quá đỗi khẩn thiết. Như Chúa Giêsu trong vườn Giếtsêmani và mục sư Martin Luther King ở Montgomery, lời cầu nguyện của bà nói lên sự cùng quẫn và bất lực cùng cực, một thừa nhận bà không còn đủ sức để đi tiếp. Bà đã cầu nguyện như sau: Con đã từ bỏ mọi sự vì Ngài và giờ con cô độc, sợ hãi. Con không biết phải làm gì và con thiếu sức mạnh để tiếp tục sự dấn thân này.

Bà dâng lên lời nguyện bất lực này, rồi lên tàu về lại New York, và không lâu sau, ông Peter Maurin, thần học gia công giáo tìm đến nhà bà, ông nói ông đã nghe người ta nói về bà và hình dung được bà nên làm gì lúc này, đó là thành lập hội Công nhân Công giáo, Catholic Worker. Và chính hội này đã mở ra một con đường cho quãng đời còn lại của bà. Thiên thần đã đến và tiếp sức cho bà.

Hãy để ý thời điểm thiên thần xuất hiện trong những câu chuyện này, là khi sức mạnh của con người đã cạn kiệt. Tại sao lại không phải trước đó? Vì trước khi kiệt quệ, chúng ta không thật sự để thiên thần ra tay, thay vào đó, chúng ta dựa vào sức mình. Nhưng như nhà văn, nhà hoạt động Canada Trevor Herriot nói, “Chỉ sau khi chúng ta để hoang mạc làm hết phần việc của nó trên mình, thì thiên thần mới đến và nâng đỡ chúng ta”.

Tưởng niệm anh George của tôi

Vài tuần trước, anh George của tôi qua đời. Cái chết của anh phần nào làm chúng tôi sốc vì một tuần trước khi mất, sức khỏe của anh khá tốt. Cuộc đời của anh nên được kể lại. Triết gia giáo sư Mircea Eliade từng nói, không một cộng đồng nào nên làm xấu người đã khuất.

Dù rất thông minh và đầy động lực, anh George chưa hề có cơ hội được học lên cao. Gia đình chúng tôi đông con, sống ở một nông trại nhỏ không đủ chu cấp nhiều cho cả nhà. Cũng như các anh chị lớn trong nhà, anh nghỉ học sớm để làm việc giúp gia đình. Và chuyện này cũng không lạ gì. Trong cộng đồng nhập cư thế hệ thứ hai nơi chúng tôi sinh trưởng, phần lớn thế hệ các anh chị lớn đều như vậy. Cũng như nhiều người khác như anh, câu chuyện của anh là câu chuyện từ bỏ ước mơ của mình để đem lợi ích đến cho người khác.

Cuộc đời của anh là câu chuyện tận tụy vì đức tin, vì gia đình, Giáo hội và cộng đồng. Đa phần anh buộc phải làm thế vì hoàn cảnh. Dù anh rất thông minh, có lẽ anh là người thông minh nhất nhà, nhưng hoàn cảnh buộc anh phải nghỉ học từ năm lớp 8 để phụ giúp gia đình. Kết quả, anh chưa thật sự có cơ hội làm việc mà anh mong muốn trong đời, cả về sự nghiệp lẫn chuyện hôn nhân và có gia đình; và với anh, hy sinh lớn nhất không phải là sự nghiệp mà là hôn nhân.

Anh George chưa hề muốn là người độc thân cả đời, nhưng cuộc sống và những cam kết của anh không cho phép anh kết hôn, anh sống cuộc đời độc thân (gần giống với linh mục và tu sĩ). Dù vậy, cũng như người sống độc thân theo lời khấn, cuối cùng thì cũng đem lại nhiều phúc phần cho anh. Anh có một gia đình rất lớn, với nhiều người trên khắp thế giới xem anh là anh em, là người chỉ dẫn, là người bạn tin cẩn. Từ khi anh qua đời, hàng loạt thư từ, e-mail, tin nhắn, điện thoại từ khắp nơi gởi về chứng tỏ địa vị của anh trong cuộc đời họ. Anh chết trong độc thân, nhưng anh chết như một người được yêu thương.
Tuy nhiên, mọi chuyện này đều có cái giá của nó. Những người được anh tâm tình về những chán nản của anh, họ biết cái giá mà tâm hồn anh phải trả cho đời sống độc thân này. Nhiều lúc, anh chỉ cần tìm một nơi riêng tư và an toàn để trút nỗi chán nản và căng thẳng trong lòng, nhiều lúc anh không thể theo gương kiên nhẫn và quên mình của Chúa Giêsu. Tuy nhiên, anh luôn bày tỏ nỗi chán nản của mình nơi an toàn, để không làm tổn thương bất kỳ ai. Anh luôn vượt lên nỗi chán nản của anh. Phần sâu thẳm nhất trong anh luôn thân ái và hóm hỉnh. Anh đi đâu là đem tiếng cười đến đó.

Hơn nữa, anh còn là con người của đức tin và của Giáo hội. Giáo hội là phần cốt yếu, anh xem như gia đình, và anh đã dốc hết mình, cho cả Giáo hội địa phương vùng nông thôn nơi anh sống và cho cả Giáo hội ở tầm vóc lớn hơn. Hơn 20 năm, anh giúp dẫn dắt chương trình Đào tạo Giáo dân và hỗ trợ mục vụ giới trẻ ở giáo phận quê nhà. Sự tận tụy và năng lực của anh đem lại cho chương trình đã được nhiều người công nhận. Thật vậy, có lần, giám mục địa phương đã nói với anh: “George, tôi có một câu hỏi cho anh, anh muốn tôi phong chức cho anh ngay giờ, hay anh muốn vào chủng viện vài năm”. Mục vụ trong tư cách linh mục hẳn là ước mơ thành hiện thực với anh, nhưng những người hiểu anh cũng biết lý do vì sao anh từ chối lời mời đó. Anh vẫn còn nhiều nghĩa vụ với gia đình và cộng đoàn mà anh cảm thấy mình không thể từ bỏ. Có thể đặt câu hỏi về lựa chọn đó, nhưng đó là lựa chọn từ sự tận tụy và quên mình, đặt nhu cầu của người khác lên trước bản thân.

Trong Tin Mừng, thánh Gioan đã mô tả chuyện sau khi Chúa Giêsu chết, binh lính đâm vào cạnh sườn Ngài và “lập tức máu và nước chảy ra” từ thân xác đã chết của Ngài. Một hình ảnh đáng để chúng ta chú ý! Sự sống tuôn trào từ xác chết! Sau khi Chúa Giêsu chết, các môn đệ cảm thấy mình được Ngài nuôi dưỡng một cách sâu sắc hơn cả khi Ngài còn sống. Từ tinh thần mà Chúa Giêsu để lại, họ cảm nhận được sự sống và sự thanh tẩy tuôn tràn.

George cũng để lại tinh thần như thế. Mọi người quen biết anh sẽ tiếp tục nhận lấy tinh thần ấy, quên mình, hy sinh ước mơ của mình vì gia đình và Giáo hội, sẵn sàng gánh lấy nản lòng và căng thẳng vì người khác. Và chúng ta còn được nuôi dưỡng bằng sự hài hước và vui vẻ anh mang lại, một phẩm chất thể hiện cả trí thông minh và niềm vui sống của anh.

Anh đã sống một cuộc đời tốt lành. Anh đã chết như một người được yêu thương. Anh sẽ được cả gia đình rộng lớn tưởng nhớ, gia đình mà anh đã hy sinh hôn nhân và có con cái riêng cho mình.

Mất đi tính ngây thơ

Câu chuyện Cựu Ước về ông Sa-un là một trong những tấn bi kịch lớn nhất lịch sử văn học. So với câu chuyện của Sa-un, Hamlet chỉ là nhân vật của Disney. Ít ra, Hamlet có lý do hợp lý cho sự cay đắng chiếm lấy mình. Còn vua Sa-un, với khởi đầu của ông, đáng ra ông phải tốt đẹp và thuận lợi hơn nhiều, rất nhiều.

Câu chuyện của ông bắt đầu với tuyên bố, trong toàn dân Israel, không một ai so sánh được với ông về chiều cao, sức mạnh, sự tốt lành hay sự tán thành. Một lãnh đạo bẩm sinh, một quân vương giữa toàn dân, tính cách phi thường của ông được toàn dân công nhận và tán dương. Họ đã biến ông thành vua. Khởi đầu câu chuyện của ông không khác gì cổ tích, và nó tiếp diễn như thế trong một thời gian.

Tuy nhiên, đến một lúc, mọi chuyện bắt đầu trở nên xấu. Lúc đó là lúc Đavid xuất hiện, một người trẻ hơn, đẹp hơn, tài năng hơn và được ca ngợi hơn ông. Sự ghen tị xuất hiện và bắt đầu đầu độc tâm hồn Sa-un. Khi nhìn Đavid, ông chỉ thấy sự ái mộ lấn át ông, chứ không thấy sự tốt lành của người khác và càng không thấy sự tốt lành đó đem lại gì cho người khác. Thay vào đó, ông ngày càng cay đắng, nhỏ nhen, thù địch, cố giết Đavid, và cuối cùng chết bởi chính tay mình, một con người giận dữ đã xa rời sự ngây thơ và tốt lành thời trẻ của mình.

Vậy chuyện gì đã xảy ra? Làm sao một người có quá nhiều thứ như ông, tốt lành, tài năng, được ca ngợi, quyền lực, phúc lành, làm sao một người như thế lại có thể trở thành một kẻ cay đắng và nhỏ nhen, rồi cuối cùng tự sát? Sao chuyện lại xảy ra như thế được? Cố tác giả Margaret Laurence, trong tiểu thuyết xuất sắc và tăm tối Thiên thần đá (The Stone Angel), đã cho chúng ta một mô tả rất hay về cách câu chuyện này xảy ra, và nó xảy ra cách kín đáo không cho người đó nhận ra mình đang biến đổi.

Nhân vật chính của bà là Hagar Shipley, kiểu người như vua Sa-un. Câu chuyện của Hagar cũng bắt đầu như thế. Cô trẻ trung, ngây thơ và đầy tiềm năng. Và cô gái trẻ trung, tài năng, sáng láng, xinh đẹp này sẽ trở nên nhân vật thế nào? Đáng buồn là, lại chẳng đi đến đâu. Cô vật vờ trôi dạt vào mọi thứ: tuổi trưởng thành, hôn nhân không hạnh phúc, một nỗi thất vọng sâu sắc không thể nhận ra, không diễn tả được, đến nỗi cuối cùng làm cho cô thành nhếch nhác, lạnh lẽo, cay đắng, không còn sinh lực hay chí khí gì nữa. Điều đáng buồn nhất là bản thân cô lại chẳng thấy được chuyện này. Trong đầu cô, cô nghĩ cô vẫn là cô gái trẻ trung, ngây thơ, dễ thương, quyến rũ, nổi bật như thời trung học. Cô không để ý thấy thế giới của mình đã trở nên nhỏ bé đến thế nào, số bạn bè thật sự chẳng còn bao nhiêu, cô không còn ngưỡng mộ điều gì hay ngưỡng mộ ai, cô đã trở nên nhếch nhác như thế nào cô cũng không biết.

Và cô đã thức tỉnh một cách đột ngột, tàn khốc. Một ngày mùa đông nọ, luộm thuộm trong bộ áo trùm đầu, cô bấm chuông cửa nhà nọ để giao trứng. Một đứa bé sáng sủa ra mở cửa, và Hagar nghe cậu bé nói nói với mẹ: Cái bà già giao trứng gớm ghiếc đang đứng ở cửa!

Quá choáng váng, cô rời ngôi nhà và tìm đường đến nhà vệ sinh công cộng, mở hết đèn lên và soi mình trong gương. Trước mắt cô là một gương mặt mà cô còn nhận không ra, một người quá đỗi thảm hại trái ngược với những gì cô hình dung về mình. Cô thấy trước mắt đúng là bà già giao trứng gớm ghiếc mà đứa bé thấy, chứ không phải là cô gái trẻ trung, nhân hậu, dễ thương, hấp dẫn mà cô nghĩ mình vẫn là. Cô tự hỏi, “làm sao có thể như thế này được?”. Làm sao mà chúng ta lại trở thành một người mà chúng ta không quen, không thích và chẳng hề nhận ra chuyện này?

Có thể nói, đây là chuyện của tất cả chúng ta. Không dễ để già đi, để chấp nhận chúng ta đã xa rời giấc mơ về mình, để nhìn người trẻ tiếp nối sự nổi tiếng và ca ngợi mà chúng ta từng có. Như Sa-un, chúng ta có thể đầy ghen tị mà không biết, và như Hagar, chúng ta có thể cay đắng và xấu xí mà không biết. Nhưng người khác lại nhận ra.

Và trong chuyện này, không phải chúng ta không đạt được điều gì. Thường thì chúng ta trở nên khôn ngoan hơn theo kiểu của thế gian mà vẫn là người tốt tính, rộng lượng. Tuy nhiên, chúng ta có khuynh hướng xấu tính hơn trước, than vãn quá nhiều, thương thân quá nhiều, và chiều theo thói nguyền rủa thay vì chúc phúc khi thấy người khác thế chỗ mình, những người trẻ, người được ái mộ, người được ca ngợi.

Còn nữa, nhiệm vụ về nhân bản và thiêng liêng của nửa sau cuộc đời là từ bỏ ghen tị và xấu xí này để một lần nữa quay lại với tình yêu, sự ngây thơ và tốt lành của tuổi trẻ, để lấy lại sự thuần khiết, hướng đến một sự ngây thơ lần thứ hai và bắt đầu có lòng ngưỡng mộ lần nữa.

Mở đầu sách Khải Huyền, Thánh Gioan, với ngụ ý thay lời Thiên Chúa, đã khuyên chúng ta, ít ra là với những ai đã qua thời tuổi trẻ: “Ta đã thấy con làm việc chăm chỉ đến thế nào. Ta công nhận sự độ lượng và mọi việc lành con làm, nhưng có điều này Ta có điều này không hài lòng về con – là con ít yêu thương hơn thời trẻ! Hãy quay lại và xem con đã ngã ở đâu!”

Có lẽ chúng ta muốn nghe điều này từ Kinh Thánh trước khi vô tình nghe một cô bé bảo mẹ, có một người già cay đắng khó chịu đang đứng trước cửa nhà.

Bài học từ kẻ ngoài vòng pháp luật

Hơn nửa thế kỷ trước, tác giả Flannery O’Connor đã viết truyện ngắn Khó tìm được một người tốt (A Good Man is Hard to Find). Một trong những nhân vật chính của truyện là một bà cụ khó tính, ngoan cố và không hạnh phúc vui vẻ cho lắm. Khi đi Florida cùng gia đình, bà liên tục phàn nàn và than vãn. Rồi do một vài bất cẩn của bà mà họ bị tai nạn giao thông, và khi xe chết máy, một tên tội phạm bỏ trốn (The Misfit, kẻ ngoài vòng pháp luật) chạm mặt họ và xử cả nhà. Ngay trước khi bị bắn, bà cụ, vì sợ mất mạng, đã vươn ra, chạm đến Kẻ ngoài vòng pháp luật đó, và có phút tâm tình với hắn. Sau khi giết bà, hắn nói đáng ra bà đã là người tốt, nếu như có người nào ở bên bắn bà liên tục mỗi phút trong đời bà.

Tôi cho là chúng ta cũng sẽ trở nên người tốt hơn nếu như có ai đó ở bên cạnh bắn chúng ta liên tục trong đời. Ít ra, tôi biết mình sẽ như thế, vì tôi đã từng có người như thế ở bên cạnh để bắn tôi, và họ đã làm cho tôi trở nên tốt hơn, ít ra là trong lúc mối đe dọa vẫn còn đó. Câu chuyện của tôi là thế này.

12 năm trước, tôi bị chẩn đoán mắc bệnh ung thư. Chẩn đoán ban đầu khả quan, chỉ cần phẫu thuật và hóa trị là sẽ ngăn chặn được khối u. Và đúng như thế, nhưng chỉ trong một thời gian. Ba năm sau, nó tái xuất hiện. Lần này, chẩn đoán không khả quan cho lắm. Bác sĩ của tôi, người tôi rất tin tưởng, bảo rằng tình hình lần này nghiêm trọng rồi. Có thể thử dùng hóa trị, nhưng xác suất cao là sẽ không có hiệu quả lâu dài, và nó chỉ dùng để xoa dịu hơn là để chữa trị dứt điểm. Ông cảm thấy trách nhiệm của ông là nói cho tôi rõ tin này. Và thế là tôi đang đối diện với người chực bắn mình. Bạn chỉ còn khoảng 30 tháng để sống!

Các bạn hẳn cũng đoán được, chuyện này chẳng dễ gì đón nhận nổi. Tôi đã vô cùng đấu tranh để chấp nhận. Cuối cùng, qua lời cầu nguyện, tôi viết ra một tuyên tín cho mình, để nói về cách mình sẽ sống trong hai năm nay. Bản tuyên tín của tôi như sau:

Tôi sẽ đấu tranh để khỏe mạnh bao lâu còn có thể.
Tôi sẽ đấu tranh để đem lại gì đó bao lâu còn có thể.
Tôi sẽ biến mỗi ngày, mỗi hoạt động, trở nên quý giá và thích thú nhất có thể.
Tôi sẽ đấu tranh để nồng hậu, ân cần, và độ lượng hết sức có thể.
Tôi sẽ đấu tranh để đón nhận tình yêu thương của người khác một cách sâu sắc hơn từ trước đến nay.
Tôi sẽ đấu tranh để sống “cuộc đời hòa giải” trọn vẹn hơn. Không còn chỗ cho tổn thương quá khứ nữa.
Tôi sẽ đấu tranh để giữ óc hài hước nguyên vẹn.
Tôi sẽ đấu tranh để can trường và dũng cảm hết sức có thể.
Tôi sẽ đấu tranh để luôn không nhìn lại những gì đã mất, nhưng nhìn vào sự diệu kỳ và viên mãn của cuộc đời tôi từ trước và bây giờ.
Và tôi sẽ hằng ngày đặt mọi sự này dưới chân Thiên Chúa trong lời cầu nguyện.

Trong vài tháng, tôi đã sốt sắng cầu nguyện lời tuyên tín này mỗi ngày, cố gắng sống trọn vẹn mỗi một câu trong đó. Nhưng hóa trị rất hiệu quả. Sau năm tháng điều trị, mọi dấu hiệu của ung thư đều biến mất và tôi khỏe mạnh lại, bác sĩ của tôi rất lạc quan nói rằng có lẽ ông chẩn đoán quá nặng và nếu duy trì hóa trị, có lẽ tôi còn sống được nhiều năm nữa. Và đúng là tôi đã sống được thêm bảy năm qua.

Tuy nhiên, trong bảy năm bệnh tình thuyên giảm, với cảm giác khỏe mạnh và lạc quan, khi không có ai cầm súng bên tôi mỗi ngày, bây giờ tôi ít cầu nguyện với lời tuyên tín hơn và ít nhiệt tâm hơn. Và dù những thách thức của lời kinh này đã thấm vào tôi, nhưng thói quen xem cuộc đời là mặc nhiên, thói quen theo lời cầu nguyện của Thánh Augutinô (Xin cho con nên một kitô hữu tốt hơn, nhưng khoan đã!), thói quen không nhìn xa, mất kiên nhẫn, thương thân hoặc nuôi dưỡng bất bình, thói quen không trân trọng trọn vẹn sự phong phú của cuộc đời, tất cả bắt đầu trỗi dậy.

Và hai năm trước, “tay súng” đó đã xuất hiện trở lại cùng sự tái phát khối u. Ban đầu, chẩn đoán rất nghiêm trọng (còn sống thêm 30 tháng và hóa trị cả đời), thế là lời kinh tuyên tín lại nắm lấy vị trí trọng tâm đời tôi. Tuy nhiên, một liệu pháp mới đã cho tôi kéo dài mạng sống nhiều hơn, và không ai cầm súng bắn tôi mỗi ngày, lời tuyên tín bắt đầu mờ dần, những thói quen mất kiên nhẫn, không biết tri ân và thương thân của tôi lại vùng lên.

Tôi thật sự biết ơn vì bao nhiêu năm còn sống sau khi mắc ung thư mà Thiên Chúa và y học hiện đại đã cho tôi. Ung thư là một ơn đã dạy cho tôi rất nhiều điều. Thấy cuộc đời của mình chỉ còn gói gọn trong sáu tháng đã khiến tôi cảm kích cuộc đời, cảm kích mọi người, sức khỏe, tự nhiên, những niềm vui đơn sơ trong cuộc sống và công việc hơn bao giờ hết. Tôi trở nên người tốt hơn khi có người ở bên cầm súng bắn tôi mỗi ngày!

Hành tinh quá tải của chúng ta

Tạo ra nhân loại có lẽ là sai lầm lớn nhất của tiến hóa. Douglas Abrams đã viết như vậy trong Quyển sách Hy vọng (The Book of Hope), đồng tác giả với Jane Goodall. Dù đây là một quan điểm khá tuyệt vọng, nhưng đến tận cùng, đó là quyển sách của hy vọng, dù không phải là không có lời cảnh tỉnh thảm khốc. Hiện nay trên hành tinh có hơn tám tỷ người, và chúng ta đang dùng nguồn tài nguyên có hạn nhanh hơn mức mà thiên nhiên có thể bù đắp vào. Trong chưa đầy 30 năm nữa, nhân loại sẽ có khoảng 10 tỷ người và nếu chúng ta cứ hành động như lâu nay, thì lúc đó có thể sẽ là hồi kết của trái đất mà chúng ta biết.

Chúng ta cần làm gì để đảo ngược tình thế này? Hai tác giả Goodall và Abrams gợi ý bốn điều:

Trước hết, phải giảm nghèo đói. Khi người ta đói và tuyệt vọng, suy nghĩ của họ không còn hướng đến toàn cục, cụ thể là tương lai lâu dài và lợi ích chung của toàn thể nhân loại và địa cầu. Một chuyện dễ hiểu là suy nghĩ của họ sẽ hướng đến chuyện sinh tồn và họ sẽ không ngần ngại đốn hạ cái cây cuối cùng để kiếm thức ăn hoặc bắt luôn con cá cuối cùng còn sống. Sự tuyệt vọng và bận tâm cho toàn cục thường không đi đôi với nhau.

Thứ hai, chúng ta phải giảm những lối sống dư dật không bền vững. Mẹ Trái đất không phải là nguồn tài nguyên vô hạn và không thể duy trì mãi những lối sống hiện thời của chúng ta. Hơn nữa, đây không chỉ nói đến lối sống xa hoa của người giàu, mà là lối sống của tất cả chúng ta ở hầu hết các quốc gia. Chúng ta chưa đối diện với sự thật, mọi thứ đều có hạn, do đó chúng ta cứ mua sắm quá độ, tiêu dùng quá độ, sử dụng điện năng quá độ, lãng phí thực phẩm quá độ, dùng khí đốt quá độ và sản sinh rác thải quá độ. Không thể tiếp tục như thế nữa. Đã có hàng triệu người tị nạn tuyệt vọng ở các đường biên giới, đã có những biến đổi khí hậu nghiêm trọng ở gần như mọi nơi, và những điều đó cảnh tỉnh chúng ta phải thay đổi, và thay đổi sớm. Hành tinh của chúng ta lớn đấy, nhưng nó có hạn, và nó không thể đáp ứng mãi được cho những nhu cầu tiêu dùng bừa bãi vô giới hạn của chúng ta.

Thứ ba, chúng ta phải diệt trừ sự hủ bại và tư lợi kinh tế. Nếu không có chính phủ tốt và lãnh đạo liêm chính biết tập trung vào toàn cục thay vì vào tư lợi, thì không thể giải quyết được những vấn đề môi trường, kinh tế, xã hội khổng lồ của chúng ta. Như lời châm biếm của một nhân vật trong tiểu thuyết Không chốn nương thân (Unsheltered) của Barbara Kingsolver, đạo đức của thị trường tự do cũng chỉ bằng đạo đức của tế bào ung thư. Tinh thần doanh nhân chủ đạo của nền kinh tế này đã đem lại nhiều lợi ích cho chúng ta và cho chúng ta nhiều tiện nghi, tự do và cơ hội mà ít người trong lịch sử từng có. Tuy nhiên, nhìn chung, tác hại của nó với toàn cục thì cũng như tác hại của tế bào ung thư đối với cơ thể, một tế bào duy nhất cứ phát triển mà chẳng hề có liên kết với sức khỏe của tổng thể cơ thể. Như một tế bào ung thư, thị trường tự do (ngoài một số ngoại lệ) không đặt nặng về toàn cục và sức khỏe lâu dài của cả cơ thể địa cầu này.

Thứ tư, chúng ta phải đối diện với những vấn đề gây ra do dân số tăng không ngừng. Trong hầu hết lịch sử, tôn giáo và luân lý đã huấn lệnh con người phải có con cái. Phải nhân lên và phát triển. Đây là nghĩa vụ thiêng liêng của chúng ta đối với Thiên Chúa và nhân loại. Tuy nhiên, phần lớn điều này là do nỗi sợ rằng nhân loại, giống như bất kỳ giống loài này khác, liên tục đối diện với nguy cơ tuyệt chủng. Thật sự mối nguy này luôn thường trực. Bệnh tật, nạn đói, chiến tranh, tỷ lệ tử vong sơ sinh cao, tuổi thọ giảm, và các tai ương đủ loại liên tục đe dọa nhân loại. Cũng như mọi giống loài khác, con người cần phải bảo đảm giống loài của mình tiếp tục tồn tại. Và suy nghĩ này hợp lý, cho đến thế kỷ này. Hiện giờ, với dự kiến dân số 10 tỷ người trên hành tinh này, nguy cơ tuyệt chủng phát xuất từ con số khổng lồ của chúng ta hơn là từ bất kỳ mối đe dọa nào bên ngoài. Hành tinh này chỉ có thể chứa được một số người nhất định. Nhưng khi bàn đến chuyện kìm hãm tăng trưởng dân số là có các vấn đề về tôn giáo, luân lý và tâm hồn. Dù vậy, bất kể các vấn đề này phức tạp đến đâu, chúng ta đều phải xem xét cẩn thận sự tăng trưởng này.

Abrams sai rồi. Tạo ra nhân loại không phải là sai lầm lớn nhất của tiến hóa! Tạo ra nhân loại không phải là một sản phẩm phát sinh ngẫu nhiên của một tiến hóa mù quáng. Thiên Chúa là đấng tạo ra tiến trình tiến hóa và Thiên Chúa không phạm sai lầm. Ngay từ đầu, Thiên Chúa dự định cho chúng ta xuất hiện. Hơn thế nữa, Thiên Chúa dự định cho chúng ta đóng một vai trò rất đặc biệt trong tiến trình này, cụ thể là ở một vị trí trong tiến trình mà tự nhiên sẽ dần tự ý thức và chủ động giúp Thiên Chúa định hình tiến trình này hướng đến sự yên bình và hợp nhất tối hậu (là vương quốc Thiên Chúa) bao gồm tất cả chúng ta và cả hành tinh này.

Nhân loại không phải là một sai lầm, dù phải thừa nhận rằng chúng ta cai quản địa cầu chủ yếu theo kiểu nghĩ rằng thế giới là thứ mà chúng ta có thể làm bất kỳ việc gì sinh lợi cho mình thay vì nghĩ nó là một khu vườn với tài nguyên có hạn mà chúng ta được yêu cầu phải chăm sóc bằng tình yêu.

Phải lòng yêu

Phải lòng yêu! Chúng ta có thể dùng thành ngữ này để nói về nhiều thứ. Phải lòng một em bé, một đội bóng, một thành phố, một công việc hoặc một người khác. Tuy nhiên, chúng ta thường dành ý nghĩa đầu tiên cho một sự, một say đắm tình cảm, một cảm giác mê mệt chúng ta có lần đầu khi gặp ai đó chúng ta xem như người tri kỷ.

Nữ triết gia Iris Murdoch từng viết, thế giới có thể thay đổi trong 15 giây bởi vì chúng ta có thể phải lòng ai đó trong chừng ấy thời gian. Bà nói đúng, và phải lòng ai đó có thể làm chúng ta thực sự tê liệt, đến mức chúng ta thà chết còn hơn mất người mình đã phải lòng yêu. Vô số những chuyện đau lòng, tan nát trái tim, trầm cảm, sức khỏe suy sụp, tự tử, giết người và giết người rồi tự tử đã làm chứng cho chuyện này. Sự say đắm về tình cảm có thể là một chứng nghiện chết người, lại ma túy cocain mạnh nhất trên đời. Vậy nó phát xuất từ đâu? Thiên đàng hay địa ngục? Và nó có ý nghĩa gì?

Xét tận cùng, Thiên Chúa và tự nhiên tạo nên nó và như vậy, nó là một thứ tốt. Chúng ta được dựng nên để gặp nó. Hơn nữa, nếu hiểu đúng, nó là một thứ lành mạnh, cả về sức mạnh gây u mê của nó và những thất bại nội tại của nó trong việc trụ đỡ tình yêu.

Khi chúng ta phải lòng ai đó quá đỗi, thật sự là chúng ta đang vướng vào chuyện gì? Chúng ta thật sự yêu người đó hay chúng ta yêu việc mình yêu người đó và những cảm xúc mà chuyện này đem lại? Chúng ta có thật sự yêu người đó hay chúng ta yêu hình ảnh người đó trong tâm trí mình, hình ảnh chúng ta phóng chiếu chất thần diệu lên đó?

Cho tôi mạn phép liều lĩnh trả lời chuyện này. Cứ hình dung một người đàn ông yêu sâu đậm một phụ nữ. Ban đầu, những cảm xúc đó có thể quá mạnh mẽ và đã làm anh tê dại cảm xúc. Tuy nhiên, trong toàn bộ chuyện này, có một câu hỏi cần được trả lời: anh thật sự yêu ai hay cái gì? Yêu cảm xúc của mình? Yêu mẫu nữ tính của cô ấy? Yêu hình tượng của cô ấy? Yêu chính bản thân cô ấy?

Trong thực tế, anh chàng yêu hết mọi điều này: anh yêu cảm xúc của chính mình, hình tượng về cô ấy, nữ tính thần diệu trong cô ấy. Tất cả chúng là một phần trong cảm nghiệm của anh. Cũng vậy, tất cả chúng có thể lành mạnh ở giai đoạn đầu của tình yêu.

Thiên Chúa đã tạo ra sự say đắm tình cảm, cũng như Ngài đã tạo ra tuần trăng mật. Chúng ta không lôi cuốn đến với nhau chỉ bằng những phân tích lạnh lùng. Nhưng dạng phải lòng yêu này là giai đoạn ban đầu của tình yêu (cũng là giai đoạn đầy thích thú), và chúng ta cần hiểu nó chính xác là gì, đó chỉ là giai đoạn ban đầu, thế thôi, giai đoạn mời gọi chúng ta đi vào điều gì đó sâu sắc hơn. Sự mê đắm về cảm xúc không phải là giai đoạn trưởng thành của tình yêu. Trừ phi người ta chết ngay trong giai đoạn đó, như Romeo và Juliet, đến một ngày sự mê đắm đó sẽ tan biến và chúng ta sẽ vỡ mộng. Khi bà Iris Murdoch nói, chúng ta có thể phải lòng ai đó trong 15 giây, có lẽ bà cũng có thể nói thêm, chúng ta có thể hết yêu mình ai đó trong 15 giây. Sự mê đắm về cảm xúc có thể rất nhanh chóng, cả khi xuất hiện cũng như lúc tan biến.

Vậy nên, phải lòng yêu theo kiểu cảm xúc này có thể kèm theo một số nguy cơ nào đó. Trước hết, có những khuynh hướng bồng bột xem đó là tình yêu sâu sắc. Hệ quả là, khi những cảm xúc mạnh mẽ, những cảm giác tâm sinh dục qua đi, người đó dễ dàng kết luận mình không còn yêu nữa, và bỏ tình yêu đó. Tiếp theo, là một nguy cơ khó thấy hơn. Khi chúng ta đang ở trong giai đoạn ban đầu này, hình tượng của người kia trong lòng chúng ta có gì đó thần diệu. Thế nghĩa là sao?

Thánh Augutinô đã gói gọn trong câu nói bất hủ: ‘Lạy Chúa, Ngài đã tạo chúng con cho Ngài, và tâm hồn chúng con khắc khoải mãi cho đến khi được nghỉ yên trong Ngài.’ Vì thế trong cuộc đời, không có gì là đủ với chúng ta. Chúng ta luôn mãi khắc khoải, khao khát một điều gì đó cao hơn nữa. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu này của tình yêu, khi rơi vào trong mê đắm cảm xúc, thì trong một thời gian, chỉ cần có người kia là đủ với chúng ta. Chính vì thế mà Romeo và Juliet có thể chết trong hạnh phúc. Ở giai đoạn này của tình yêu, họ chỉ cần có nhau là đủ.

Tuy nhiên, sự thật khó khăn là mê đắm đó không tồn tại mãi. Người kia, dù tuyệt vời đến đâu cũng không phải là Thiên Chúa và không bao giờ có thể đủ với chúng ta (và chúng ta đã bất công với người đó khi trong vô thức, chúng ta cho rằng họ đủ với mình). Trong một thời gian, chúng ta có thể cảm thấy sự thần diệu đó, nhưng ảo tưởng về sự thần diệu đó cuối cùng sẽ tan vỡ và chúng ta nhận ra đây cũng chỉ là một con người, dù tuyệt vời nhưng vẫn hữu hạn, có giới hạn chứ không phải thần thánh. Và khi nhận ra như thế (cũng là nền tảng cho một tình yêu trưởng thành) nhưng nếu chúng ta không hiểu chuyện này, thì nó có thể làm biến chất hoặc hủy hoại mối quan hệ. Thiên Chúa tạo nên phải lòng yêu! Khi phải lòng yêu, chúng ta được nếm trước thiên đàng, dù cho không phải là không có những nguy cơ.

Ngày mai và ngày mai

Trong Tự thú của Thánh Augutinô, ngài mô tả việc trở lại đạo của ngài liên quan đến hai khoảnh khắc ân sủng riêng biệt, khoảnh khắc đầu tiên thuyết phục ngài về mặt trí tuệ, kitô giáo là đúng, và khoảnh khắc thứ hai giúp ngài sống theo những gì ngài tin. Phải mất gần chín năm trôi qua giữa hai lần trở lại này và trong chín năm này, ngài đã có lời cầu nguyện nổi tiếng: Lạy Chúa, xin Chúa làm cho con thành người tín hữu kitô tốt và khiết tịnh – nhưng chưa phải bây giờ.

Thật lạ lùng, Thánh Ephraim người Syria (306-373), một người cùng thời với ngài cũng viết lời cầu nguyện tương tự: Hỡi người yêu dấu của tôi, mỗi ngày tôi làm sai rồi tôi lại ăn năn. Trong một giờ tôi xây và giờ sau đó tôi phá những gì tôi đã xây. Buổi tối, tôi nói, ngày mai tôi sẽ ăn năn, nhưng khi sáng mai đến, tôi vui vẻ lãng phí một ngày. Rồi đến tối, một lần nữa tôi nói, tôi sẽ thức suốt đêm và tôi sẽ xin Chúa thương xót tội lỗi của tôi. Nhưng khi đêm đến, tôi lại ngủ say.

Điều mà Thánh Augutinô và Thánh Ephraim mô tả là rõ ràng (không phải không có chút hài hước), một trong những khó khăn chúng ta thực sự gặp trong cuộc đấu tranh để lớn lên trong đức tin và trong sự trưởng thành của con người, là thói quen để cuộc đời qua đi khi nói: “Đúng, tôi cần phải làm tốt hơn. Tôi cần phải chịu đựng và cố gắng khắc phục những thói quen xấu của mình, nhưng chưa phải bây giờ!”

Và thật an ủi khi chúng ta biết đã có những thánh đấu tranh vất vả trong nhiều năm với sự tầm thường, lười biếng, với thói hư tật xấu trong nhiều năm, họ cũng nhún vai chịu thua như chúng ta: “Ngày mai, tôi sẽ bắt đầu một khởi đầu mới! ” Trong vài năm, một trong những câu nói của Thánh Augutinô là, “ngày mai và ngày mai!”

“Đúng, phải thay đổi, nhưng chưa!” Điều này nói lên con người của chúng ta như thế nào? Tôi muốn là người tốt, là người tín hữu kitô tốt. Tôi muốn sống theo đức tin nhiều hơn, bớt lười biếng, bớt ích kỷ, độ lượng với người khác hơn, chiêm niệm hơn, bớt giận dữ, bớt cay đắng, hoang tưởng và phán xét người khác. Tôi muốn dừng việc ngồi lê đôi mách và vu khống. Tôi muốn đóng góp nhiều hơn vào công lý. Tôi muốn có một đời sống cầu nguyện tốt hơn. Tôi muốn dành thời gian cho mọi việc, dành nhiều thời gian hơn cho gia đình, thưởng thức hương hoa, lái xe chậm hơn, kiên nhẫn hơn và ít vội vã hơn. Tôi có một số tật xấu cần phải thay đổi, tâm hồn tôi vẫn còn cay đắng, tôi đã lỗi lầm quá nhiều thứ, tôi thật sự cần phải thay đổi, nhưng chưa phải lúc này.

Trước tiên, tôi phải giải quyết một mối quan hệ cụ thể, tôi lớn lên, thay đổi công việc, kết hôn, nghỉ ngơi, có được sức khỏe, học xong, có thì giờ đi nghỉ hè vì rất cần thiết, để một số vết thương lành lại, để con cái tự lập, nghỉ hưu, dọn đến một giáo xứ mới, và thoát khỏi tình trạng này – sau đó tôi sẽ nghiêm túc xem lại việc thay đổi những chuyện xấu này. Lạy Chúa, xin làm cho con trở nên người trưởng thành hơn và là một tín hữu kitô, nhưng chưa phải lúc này!

Cuối cùng, đó không phải là lời cầu nguyện tốt. Thánh Augutinô nói với chúng ta, trong nhiều năm, khi đọc lời cầu nguyện này, ngài đã hợp lý hóa sự tầm thường của mình. Tuy nhiên, một trận đại hồng thủy bắt đầu dấy lên trong tâm hồn ngài. Chúa đã vô cùng kiên nhẫn với chúng ta, nhưng sự kiên nhẫn của chúng ta với chính mình cuối cùng cũng cạn kiệt và đến một lúc nào đó, chúng ta không thể tiếp tục như trước nữa.

Trong quyển 8 của bộ sách Tự thú, Thánh Augutinô kể, một ngày nọ, khi đang ngồi trong vườn, ngài bị choáng vì sự thiếu trưởng thành và tầm thường của mình và “một cơn bão to lớn ập đến trong tôi, tôi bật khóc sướt mướt… Tôi gieo mình xuống gốc cây vả và để cho nước mắt tuôn trào… tôi khóc trong nỗi đau khổ: ‘Cho đến lúc nào tôi vẫn còn nói ngày mai, ngày mai đây. Tại sao không phải bây giờ?’” Khi ngài đứng lên, cuộc đời ngài đã thay đổi; ngài không còn chấm dứt lời cầu nguyện với câu “nhưng chưa” dù là manh nha trong đầu.

Chúng ta tất cả đều có một số thói quen nào đó trong cuộc sống mà chúng ta biết là xấu, nhưng vì nhiều lý do (lười biếng, nghiện ngập, thiếu sức mạnh tinh thần, mệt mỏi, tức giận, hoang tưởng, ghen tuông, bị áp lực của gia đình, của bạn bè) chúng ta không chịu ngưng. Chúng ta cảm nhận sự tầm thường của mình, nhưng tự an ủi, cho rằng mọi người (trừ các thánh) thường tự bào chữa, nói ra hoặc không nói ra trong lời cầu nguyện của họ: “Đúng, thưa Chúa, nhưng chưa phải lúc này!”

Thật vậy, trong lời cầu nguyện này có một an ủi xác đáng, nó nhận ra một điều gì đó quan trọng bên trong sự hiểu biết và lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa. Tôi ngờ rằng Chúa đối phó với những lỗi lầm của chúng ta tốt hơn là chúng ta đối phó với lỗi lầm của mình và những người khác đối phó với chúng ta. Tuy nhiên, giống như Thánh Augutinô, ngay cả khi chúng ta nói, “ngày mai và ngày mai”, một cơn bão vẫn tiếp tục dấy lên trong lòng chúng ta, sớm hay muộn, sự tầm thường của chính chúng ta sẽ làm cho chúng ta phát điên lên để nói: “Tại sao không phải bây giờ?”

Khi tác giả Thánh vịnh viết: “Hãy hát lên một bài ca mới”, chúng ta tự hỏi, bài ca cũ là gì? Đó là lời cầu nguyện kết thúc, Đúng, lạy Chúa, nhưng chưa phải bây giờ!

Tiếng cười có tầm mức nghiêm trọng như thế nào?

Trong một bài giảng, linh mục Dòng Tên, thần học gia người Đức Karl Rahner nhận xét trong Mối Phúc Thật theo Tin Mừng Thánh Luca, Chúa Giêsu đã có một câu ấn tượng: “Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải khóc, vì anh em sẽ được vui cười.” Linh mục Rahner gợi ý Chúa Giêsu dạy trạng thái hạnh phúc cuối cùng của chúng ta trên thiên đàng sẽ không chỉ giúp chúng ta thoát khỏi nỗi buồn và lau khô nước mắt, mà còn mang lại tiếng cười, “niềm vui say sưa” cho chúng ta. Tiếng cười là không thể thiếu cho sự ngất ngây cuối cùng.

Hơn nữa, nếu tiếng cười tạo nên hạnh phúc cuối cùng trên thiên đàng, thì điều đó có nghĩa, bất cứ khi nào chúng ta cười, chúng ta đều có quan hệ tốt với thực tại. Theo linh mục Rahner, tiếng cười là một phần của lời ca ngợi vĩnh cửu về Chúa vào ngày tận thế.

Tuy nhiên, điều này có thể đi quá trớn và gây hiểu lầm. Không phải tất cả tiếng cười đều ca ngợi Chúa và không phải tất cả tiếng cười đều cho thấy chúng ta có quan hệ tốt với thực tế. Tiếng cười cũng có thể rẻ tiền, quá trớn và sai trái. Niềm vui cuối cùng của thiên đàng không phải lúc nào cũng được tìm thấy trong căn phòng nơi mọi người ở đó đang cười phá lên.

Có nhiều kiểu cười và không phải kiểu cười nào cũng tốt cho sức khỏe hay về mặt thiêng liêng. Đó là tiếng cười của say xỉn, của che lấp giác quan, của vứt bỏ la bàn đạo đức và nhạy cảm bình thường. Tiếng cười kiểu này sẽ không được nghe dù ở một góc nhỏ thiên đàng. Sau đó là tiếng cười châm biếm, tiếng cười coi thường người khác, thích thú với những vấn đề của người khác và tự cho mình là cao siêu. Tiếng cười này cũng không được nghe thấy trên thiên đàng. Kế đó là tiếng cười vô cảm và mù quáng trước nỗi đau của người khác, có thể vui cả khi ông Ladarô đang chết đói ngoài cửa. Các sách Phúc âm nói rõ nơi tiếng cười dễ chịu đưa chúng ta đến. Đồng thời, cũng có tiếng cười của đơn thuần hời hợt, chuyện gì cũng cười vì nó thực sự chẳng để ý đến chuyện gì. Tiếng cười như vậy, mặc dù vô hại, nhưng chẳng nói lên được điều gì.

Nhưng cũng có những tiếng cười khác nói về sự lành mạnh và về Chúa. Có tiếng cười của năng lượng tự phát thuần khiết, được thấy rõ nhất trong niềm sôi sục vui vẻ tự nhiên của một quy tắc sống nội tâm nơi một người trẻ tuổi, giống như niềm vui chúng ta thấy nơi một em bé chập chững bước những bước đầu tiên. Đó là tiếng cười của niềm vui tuyệt đối, tiếng cười nói lên: Thật đáng quý khi được sống! Khi chúng ta cười như thế này, là chúng ta đang tôn vinh Chúa và tạ ơn Chúa vì món quà sự sống và năng lượng – vì cách tốt nhất để cám ơn người tặng quà là tận hưởng món quà cách trọn vẹn và thích thú với nó.

Loại tiếng cười này tự phát nhất là khi chúng ta còn trẻ và đáng buồn thay, chúng ta thường khó cười hơn khi những vết thương, thất bại, áp lực và lo lắng của tuổi trưởng thành bắt đầu làm suy giảm năng lượng tự phát của chúng ta. Chúng ta vẫn cười dù chúng ta không còn cảm thấy vui vẻ tự nhiên trong cuộc sống, dù tiếng cười lành mạnh đã cạn kiệt, dù chúng ta có khuynh hướng chuyển sang loại cười thiếu lành mạnh để cố gắng thoát trầm cảm. Vì thế tiếng cười ồn ào, huyên náo, quá độ chúng ta nghe thấy trong các bữa tiệc của chúng ta thường chỉ là cố gắng để chúng ta ngăn chặn trầm cảm. Nhìn xem, tôi rất hạnh phúc!

Thần học gia tin lành Peter Berger đã viết, tiếng cười là một trong những bằng chứng cho thấy sự tồn tại của Chúa, vì khả năng cười của chúng ta trong mọi tình huống chứng tỏ, trong sâu thẳm, chúng ta nhận thức được không có tình huống nào cuối cùng trói buộc chúng ta. Khả năng cười của chúng ta trong bất kỳ tình huống nào, bất kể nghiêm trọng hay đe dọa đến mức như thế nào, cho thấy ở một mức độ nào đó, chúng ta ý thức được mình vượt qua hoàn cảnh đó. Đó là lý do vì sao một tù nhân bị dẫn đến nơi hành quyết vẫn có thể đùa với đao phủ của mình và vì sao một người sắp chết lại có thể tận hưởng giây phút trớ trêu này. Tiếng cười lành mạnh không chỉ thần thánh. Nó thể hiện sự siêu việt bên trong chúng ta.

Nhưng không phải tiếng cười nào cũng phát sinh như nhau. Có tiếng cười chỉ đơn thuần là hời hợt, nhẹ nhàng gượng gạo, vô cảm, say xỉn hoặc một thứ ngụy trang trong nỗ lực mong manh chống trầm cảm. Đó không phải là tiếng cười của thiên đàng. Nhưng có một kiểu cười khác, được Chúa Giêsu nói đến trong Các Mối Phúc, đó là tiếng cười đơn sơ vui sướng vì được sống, trong niềm vui sướng cảm nhận được sự siêu việt này bằng trực giác. Loại tiếng cười này là thành phần quan trọng trong tình yêu và thánh thiện. Đó sẽ là một trong những “niềm vui say sưa” mà chúng ta sẽ cảm thấy trên thiên đàng.

Nếu điều này là đúng, thì người thánh thiện nhất mà bạn biết sẽ không phải là người không hài hước, người khắc nghiệt, dễ bị xúc phạm, quá mộ đạo mà bạn cho là nghiêm túc, sâu sắc và tâm linh, người mà bạn không nhất thiết muốn ngồi cùng bàn. Người linh thiêng nhất mà bạn biết có lẽ là người mà bạn muốn ngồi cạnh mình trên bàn ăn.

Khi tôi còn là tập sinh mới vào tu, giám đốc phụ tá nhà tập là người rất nghiêm túc, hay sợ hãi, thường cảnh báo chúng tôi về sự nhẹ nhàng và hài hước, cha nói với chúng tôi không có đoạn nào trong các sách phúc âm nói Chúa Giêsu cười. Bây giờ linh mục đã qua đời, tôi nghi cha đã ở trên thiên đàng. Tôi cũng nghi từ vị trí thuận lợi này, cha sẽ bỏ qua sự thận trọng đó.

Một và Nhiều – Các mối quan hệ đại kết và liên tôn

Một trong những vấn đề cổ xưa nhất trong triết học là câu hỏi về “một và nhiều”, để biết liệu thực tại rốt cuộc là một thể thống nhất hay một thể đa số và những điều này liên hệ với nhau như thế nào. Chúng ta có thể hỏi cùng một câu hỏi liên quan đến sự đa dạng của tín ngưỡng, nhà thờ và các hình thức thờ phượng khác nhau trong thế giới chúng ta. Ở đó, có một đồng nhất cố hữu nào đó hay tất cả chỉ là đa dạng mà không có điều gì ràng buộc chúng ta với nhau, trong một loại cộng đồng nào đó vượt lên sự khác biệt của chúng ta không?

Sẽ có nguy cơ bị hiểu lầm, đây là quan điểm của tôi. Tất cả chúng ta trên thế giới, những người có niềm tin chân thành, chúng ta đều có một đức tin chung vì cuối cùng chúng ta có chung một Chúa. Hơn nữa, vì chúng ta có chung một Chúa nên chúng ta cũng có chung một vấn đề; cụ thể là, chúng ta đấu tranh như nhau khi cố gắng khái niệm hóa Thượng đế không thể khái niệm hóa này. Trong tất cả các tôn giáo xác thực, tín điều đầu tiên về Chúa, đó là Chúa thánh thiện và không thể diễn tả được, nghĩa là Chúa không bao giờ bị giới hạn và nắm bắt trong một khái niệm. Theo định nghĩa, không thể nắm bắt được sự vô hạn trong một khái niệm (chẳng hạn cố gắng có một khái niệm về con số cao nhất có thể đếm được). Vì Chúa là vô hạn nên mọi nỗ lực khái niệm hóa Chúa đều thất bại.

Tất cả các tín ngưỡng xác thực đều có chung vấn đề này, và điều này sẽ giúp chúng ta luôn khiêm tốn trong ngôn ngữ tôn giáo của mình. Hơn nữa, ngoài cuộc đấu tranh chung để có một khái niệm về Chúa, tất cả chúng ta cũng đấu tranh để hiểu Chúa là Đấng thực sự yêu thương phổ quát và vô điều kiện. Tất cả các tôn giáo và tất cả các giáo phái đấu tranh để không làm cho Thiên Chúa trở thành bộ lạc, thiên vị, thiếu tình yêu và không được hiểu biết đầy đủ. Chẳng hạn trong kitô giáo, do thái giáo và hồi giáo, nơi tất cả chúng ta đều tin cùng một Chúa, cùng có khuynh hướng quan niệm rằng Chúa là nam giới, độc thân và luôn nhíu mày khó chịu. Không chính xác, Chúa là Thiên Chúa không tả được, một Thiên Chúa của mạc khải yêu thương vô điều kiện.

Vậy nhiệm vụ của chúng ta là gì? Nhiệm vụ của chúng ta trong tư cách là tín hữu là hướng đến sự đồng cảm ngày càng sâu đậm với nhau qua tất cả các giáo phái và tôn giáo. Đó là con đường đích thực cho cuộc đối thoại đại kết và liên tôn. Có thể bị cho là dị giáo hoặc không trung thành với truyền thống đức tin của riêng tôi, tôi nói điều này. Nhiệm vụ của chúng ta không phải tìm cách hoán cải, cố gắng thuyết phục người khác theo đạo chúng ta. Nhiệm vụ của chúng ta là ngày càng thâm nhập sâu đậm hơn, trung thành và yêu thương vào giáo hội và giáo phái của chính mình, ngay cả khi chúng ta cố gắng đồng cảm sâu đậm hơn với tất cả những ai thờ Chúa theo những cách khác cách chúng ta.

Nhà giáo hội học nổi tiếng Avery Dulles đã dạy, con đường tiến đến chủ nghĩa đại kết kitô giáo và đối thoại liên tôn không phải là con đường cải đạo, cố gắng làm cho người khác theo đạo của mình. Con đường phía trước (theo cách nói của ông) là con đường “tiến bộ từng bước”, nghĩa là mỗi chúng ta ngày càng trung thành với Chúa hơn trong truyền thống của mình để mỗi người chúng ta ngày càng gần Chúa hơn (với tín hữu kitô, đó là Chúa Kitô), chúng ta sẽ ngày càng gần gũi với nhau hơn và với tất cả những người có đức tin chân thành. Sự hiệp nhất mà chúng ta tìm kiếm không nằm ở một nhà thờ hay một cộng đồng đức tin cuối cùng sẽ hoán cải tất cả người khác cùng gia nhập, nhưng nằm ở việc những ai có đức tin chân thành ngày càng trở nên trung thành hơn với Chúa, để sự hiệp nhất chúng ta mong muốn có thể xảy ra một lúc nào đó trong tương lai, tùy thuộc vào chính chúng ta, vào lòng trung thành sâu sắc bên trong truyền thống đức tin của chính chúng ta.

Như thế nhiệm vụ chúng ta không phải là cố gắng làm cho người khác vào giáo hội của mình, nhưng là đi sâu hơn vào chính giáo hội của mình, dù chúng ta cố gắng có một đồng cảm ngày càng sâu sắc hơn với các giáo hội khác và các tín ngưỡng khác. Chúng ta cần là anh chị em của nhau, nhận ra chúng ta đã có chung một Thiên Chúa, một nhân loại chung và nỗi đau chung.

Tôi làm việc trong chương trình tiến sĩ về linh đạo, có nhiều sinh viên từ nhiều giáo phái kitô giáo khác nhau đến học. Trong suốt chương trình 5 năm, các sinh viên này học tập, giao lưu, chia sẻ và cầu nguyện chung với nhau (dù chỉ thỉnh thoảng trong một buổi lễ chính thức ở nhà thờ). Thật hạnh phúc, chúng tôi đã có chương trình này mười năm và chúng tôi chưa có một ai cải từ đạo này qua đạo kia. Thay vào đó, mỗi học viên tốt nghiệp của chúng tôi rời chương trình với một tình yêu và sự hiểu biết sâu sắc hơn về truyền thống của mình – và một tình yêu và hiểu biết sâu sắc hơn về các truyền thống tín ngưỡng khác.

Điều này không ngụ ý tất cả các tôn giáo đều ngang nhau, nhưng đúng hơn là không ai trong chúng ta sống theo sự thật trọn vẹn và con đường phía trước, là con đường hoán cải sâu đậm hơn của cá nhân trong chính đức tin của mình và mối quan hệ đồng cảm hơn với các đức tin khác.

Tôi xin gởi quý độc giả bài thơ của tôi – Một và nhiều

Các dân tộc khác nhau, một trái đất
Các niềm tin khác nhau, một Thiên Chúa
Các ngôn ngữ khác nhau, một trái tim
Các cách rơi ngã khác nhau, một định luật trọng lực
Các năng lượng khác nhau, một Thần khí
Các sách thánh khác nhau, một Lời
Các hình thức thờ phượng khác nhau, một khao khát
Các cuộc đời khác nhau, một số phận
Các sức mạnh khác nhau, một mong manh
Các ngành học khác nhau, một mục tiêu
Các cách tiếp cận khác nhau, một con đường
Các tín ngưỡng khác nhau – một Cha, một Mẹ, một trái đất, một bầu trời, một khởi đầu, một kết thúc.

Chức năng nhân học của tin đồn

Trong tiểu thuyết Oscar và Lucinda, tác giả Peter Carey cho chúng ta hình ảnh sống động về ngồi lê đôi mách. Bối cảnh là một thị trấn nhỏ với tin đồn về vị linh mục và một cô gái trẻ. Tác giả mô tả: “Linh mục quản xứ Woolahra đưa cô đi mua sắm và xã giao, luôn thấy việc mua sắm là hoạt động thân thiết nhất, sẵn sàng nhận áp lực khi thấy chuyện này đã thành tai tiếng ra trò, những tiếng xầm xì, những lời cường điệu cứ văng vẳng qua các bức tường nhà. Họ tưởng tượng ông trả tiền cho áo quần sang trọng của cô. Khi họ nghe chuyện không phải vậy, biết là cô có tiền, nhiều tiền đủ để tmua khuy măng-sét mã não cho linh mục, thì những lời đàm tiếu vẫn không lắng xuống, mà cứ còn mãi, cho đến khi nó không còn ém được nữa và bắt đầu bung ra, dù vẫn theo kiểu sôi sục, theo kiểu tiếng xì xèo của máy sưởi hay tiếng gầm gừ cứ nghẽn lại nơi họng một chú chó nhỏ”.

Một hình ảnh thật sinh động! Đàm tiếu như tiếng xì xèo của máy sưởi hay tiếng gầm gừ cứ nghẽn lại nơi họng một con chó nhỏ, thế mà nó lại quan trọng. Chúng ta hình thành cộng đồng chung quanh nó. Làm sao lại thế?

Cứ hình dung chúng ta đi ăn tối với một nhóm đồng nghiệp. Dù giữa chúng ta không có gì thù địch rõ ràng, nhưng vẫn có sự khác biệt và căng thẳng rõ ràng. Bạn không tự nhiên mà quyết định đi ăn tối cùng nhau, đúng ra, bạn đều bị hoàn cảnh đẩy đưa và cố tận dụng tối đa hoàn cảnh đó.

Chúng ta đi ăn tối với nhau, và mọi chuyện khá thoải mái. Có sự hòa hợp, có câu đùa, cười nói bên bàn ăn. Làm sao chúng ta có thể thân thiết với nhau như vậy bất chấp những khác biệt? Bằng cách nói về ai đó khác. Hầu hết thời gian, chúng ta nói về người khác, về những lỗi lầm, lập dị và thiếu sót của người đó mà chúng ta đều nhất trí. Có thể nói, chúng ta nói về những căm phẫn chung. Cuối cùng, chúng ta có thời gian hòa hợp với nhau vì chúng ta nói về người khác, về chuyện khác, với những khác biệt còn lớn hơn khác biệt giữa chúng ta. Dĩ nhiên, chúng ta sợ phải rời bàn vì chúng ta vốn đã nghi ngại họ sẽ nói về mình! Nỗi sợ đó có căn cứ.

Cho đến khi đạt được một mức độ chín chắn nào đó, chúng ta chủ yếu tạo cộng đồng bằng cách đẩy ai đó ra chịu tội, và chúng ta vượt qua những khác biệt và căng thẳng trong nhóm của mình bằng cách tập trung vào ai đó hay chuyện gì đó mà chúng ta có cùng sự ghẻ lạnh, căm phẫn, nhạo báng, giận dữ hay ghen tị. Đó chính là chức năng nhân học của đàm tiếu, một chức năng rất quan trọng. Chúng ta vượt qua những khác biệt và căng thẳng của mình bằng cách đem ai đó hay việc gì đó ra chịu tội thay. Chính vì thế mà chúng ta dễ dàng tạo lập cộng đồng đối đầu với thứ gì đó hơn là xoay quanh thứ gì đó, và cũng chính vì thế mà chúng ta thấy dễ định hình bản thân theo thứ mà ta chống lại hơn là thứ mà ta hướng đến.

Các nền văn hóa cổ biết như thế và đã thiết kế những nghi thức nhất định để loại bỏ căng thẳng trong cộng đồng bằng cách dùng con dê gánh tội, dùng một kẻ giơ đầu chịu báng. Ví dụ vào thời Chúa Giêsu, cộng đồng Do Thái có một nghi thức như thế này: Vào một thời điểm ấn định đều đặn, cộng đồng sẽ lấy một con dê và trang trí cho nó bằng những thứ tượng trưng cho những căng thẳng và chia rẽ trong cộng đồng. Một trong những thứ đó là tấm vải màu tím quấn quanh mình dê để tượng trưng cho bản thân họ, và một vòng gai đội trên đầu để con dê cảm nhận được nỗi đau từ những căng thẳng của họ. (Hãy để ý Chúa Giêsu cũng được quấn vải như thế khi Philatô đưa ngài ra trước dân chúng, trước khi đem đi đóng đinh. Ecce homo… Này là con dê gánh tội của các người!) Rồi sau đó, con dê bị đuổi vào hoang địa. Nó rời cộng đồng và đem theo tội lỗi cũng như căng thẳng của họ đi.

Chúa Giêsu là con dê gánh tội chúng ta. Ngài cất đi tội lỗi và chia rẽ của chúng ta, không phải bằng cách bị đuổi khỏi cộng đồng. Ngài cất đi tội lỗi của chúng ta bằng cách nhận lấy, mang lấy và biến đổi nó để không lấy oán báo oán. Có thể hình dung cách Chúa Giêsu lấy đi tội lỗi chúng ta cũng như máy lọc nước, máy giữ lại những ô uế và trả lại cho chúng ta thứ nước tinh khiết.

Khi nói Chúa Giêsu chịu chết vì tội chúng ta, thì chúng ta cần hiểu như sau: Ngài đã nhận lấy hận thù và trả lại tình yêu, nhận lấy nguyền rủa và trả lại phúc lành, nhận lấy cay đắng và trả lại tử tế, nhận lấy ghen tị và trả lại tuyên dương, nhận lấy sát nhân và trả lại tha thứ. Khi hấp thụ tội lỗi, những khác biệt, và sự ghen tị của chúng ta, Ngài làm cho chúng ta điều mà chúng ta cũng làm theo một cách kém chín chắn và kém hiệu quả khi đóng đinh nhau bằng đàm tiếu.

Và đó chính là lời mời của Chúa Giêsu cho chúng ta. Là người trưởng thành, chúng ta được mời gọi hãy bước lên và làm như Chúa Giêsu đã làm, nhận lấy những khác biệt và ghen tị quanh mình, giữ lấy chúng và biến đổi chúng, để đừng lấy oán báo oán. Như thế, chúng ta sẽ không cần những con dê gánh tội nữa, và tiếng rì rầm của đàm tiếu sẽ ngưng, tiếng gầm gừ nơi họng con chó nhỏ trong chúng ta cuối cùng sẽ im bặt.

Mười quyển sách hàng đầu của tôi năm 2022

Những quyển sách chúng ta cần đọc tìm đến chúng ta, và tìm đến đúng vào lúc mình cần đọc nó. Tôi tin câu ngạn ngữ cổ xưa này, và xin dùng nó làm lời giải thích cho các sách tôi chọn trong năm 2022. Văn học và nghệ thuật luôn có yếu tố khách quan, một chiều sâu và tính thẩm mỹ không phụ thuộc vào con mắt người thưởng thức, nhưng có một câu ngạn ngữ cổ cũng khẳng định bất kỳ điều gì được hấp thụ thì đều chiếu theo trạng thái của người hấp thụ. Vì thế luôn có yếu tố chủ quan trong cách chúng ta xem xét và đánh giá bất kỳ điều gì. Tôi nói trước như thế là để nói mười quyển sách này là những quyển đi sâu vào lòng tôi nhất trong năm qua. Chúng nằm trong danh sách top 10 của tôi là vì chúng đã tìm đến tôi và đi vào lòng tôi.

Về lĩnh vực linh đạo, cả về phạm vi rộng và và phạm vi giới hạn, đây là những quyển sách đặc biệt có ý nghĩa với tôi:

  1. Jim Forest, Vui chơi ở hang sư tử, tiểu sử về Daniel Berrigan (At Play in the Lion’s Den, A Biography of Daniel Berrigan). Một tiểu sử viết rất đẹp về linh mục Daniel Berrigan, của một người biết rõ cha, ủng hộ chính nghĩa của cha, đã đi tù cùng cha nhưng vẫn giữ một khoảng cách đủ với cha.
  2. Robert Ellsberg, Sơ Wendy yêu dấu, Một câu chuyện ngạc nhiên về đức tin và tình bạn (Dearest Sister Wendy, A Surprising Story of Faith and Friendship). Một quyển sách gần gũi, cảm động và ấm áp, chia sẻ một số thư từ giữa nhà phê bình nghệ thuật nổi danh Wendy Beckett (qua đời năm 2018) và Robert Ellsberg, nhà xuất bản Orbis Press. Những trao đổi của họ nói đến mọi chủ đề về tôn giáo.
  3. Maria Ruiz Scaperlanda, Mục tử không chạy trốn, Chân phước Stanley Rother, bậc tử đạo gốc Oklahoma (The Shepherd Who Didn’t Run, Blessed Stanley Rother, Martyr from Oklahoma). Một tiểu sử rất hay về con đường cha Stanley Rother trở nên ngôn sứ và tử đạo vì người nghèo. Một hạnh các thánh cho thời nay.
  4. Sherry Turkle, Nhật ký cảm thông (The Empathy Diaries). Sherry Turkle là nhà khoa học hàng đầu và là ngòi bút sâu sắc về tâm hồn. Về căn bản, đây là tự truyện, nhưng khi họa nên con người mình, bà giúp chúng ta cũng làm như thế. Tiêu đề quyển sách, tự nó đã nói lên luận đề của mình rồi.
  5. Amia Srinivasan, Quyền tình dục – Nữ quyền trong thế kỷ 20 (The Right to Sex – Feminism in the Twenty-First Century). Một quyển sách mạnh không hạn chế bất kỳ điều gì. Tôi không đồng ý với một vài điểm chính, nhưng Amia đã nêu ra những câu hỏi đúng và đem lại nhiều câu trả lời trung dung giữa các ý thức hữu khuynh và tả khuynh.
  6. Jane Goodall & Douglas Abrams, Quyển sách Hy vọng, Hướng dẫn sống còn cho thời buổi khó khăn (The Book of Hope, A Survival Guide for Trying Times). Nội cái tên Jane Goodall là đủ đáng đọc. Abrams thêm chất của mình cho quyển sách, khẳng định việc tạo nên các giống người có lẽ là sai lầm lớn nhất của tiến hóa.
  7. Roosevelt Montas, Giải cứu Socrates – Cách những quyển sách hay thay đổi đời tôi và vì sao nó quan trọng cho thế hệ mới (Rescuing Socrates – How The Great Books Changed My Life and Why They Matter For A New Generation). Đây là một biện giải mạnh mẽ cho giáo dục tư tưởng, cũng gần như quyển Ý tưởng về Đại học (The Idea of a University) của John Henry Nouwen, trừ việc Nouwen không phải đương đầu với nhiều chỉ trích nặng về cảm tính dành cho các nhà tư tưởng kinh điển Tây phương.

Trong số các tiểu thuyết đã đọc, tôi yêu thích những quyển sau:

Sally Rooney, Thế giới tươi đẹp, ngươi ở đâu (Beautiful World, Where Are You). Được đặt trong bối cảnh Ireland thời hậu Công giáo La Mã và hậu hiện đại, tiểu thuyết ghi lại những trò chuyện (email và tin nhắn) giữa hai phụ nữ trẻ đầy cảm xúc. Họ đang cố tìm ý nghĩa cho đời mình và thời đại, khi đối chiếu kitô giáo truyền thống vẫn giúp họ xác định bản thân với nhóm bạn và nơi làm việc đang định hình họ theo cách khác. Khi một người từ bỏ việc sống đạo rõ ràng nhưng vẫn vật lộn với đức tin còn thai nghén, thì sẽ thế nào?

Valerie Perrin, Nước trong lành cho hoa (Fresh Water for Flowers). Một bản dịch từ tiếng Pháp, một kiệt tác, một bức tranh thật đẹp. Trong câu chuyện này, không có gì nhiều, trừ nhiều cái rất đẹp.

Jeanine Cummins, Bùn đất Mỹ (American Dirt). Cummins đã chịu nhiều phê bình tiêu cực về quyển sách này, không phải vì viết không hay và không đánh động nhưng vì tác giả không phải người gốc Tây Ban Nha nên việc cô viết “câu chuyện của người khác” bị xem là tâm thế kẻ cả và trộm cắp văn hóa. Nhưng dù có thế, đây vẫn là một câu chuyện cảm động về một người mẹ và con trai mình bị đe dọa tính mạng ở Trung Mỹ và chạy trốn đến biên giới Hoa Kỳ.

Vậy là đủ 10 quyển, nhưng còn một quyển đáng vinh danh nữa.

Joyce Aitken, Chân thành phân ưu – Lời để nói khi không biết nói gì (Sincere Condolences – What to Say When You Don’t Know What to Say). Chồng Aitken tự vẫn, và cô thấy nhiều người ngại ngùng khi nói chuyện này với cô, dù cho đó lại chính là điều cô cần khi thương tiếc chồng. Quyển sách thấu suốt và thực tế. Chúng ta, ai cũng đã gặp tình huống ngại ngùng, không biết nói gì? Còn nữa, khi nói về sự bất lực của mình trong việc ngăn cản chồng tự tử, cô cũng thêm một câu mà những ai từng mất người thân về tự tử nên nghe: Ý muốn cứu mạng ai đó đâu có cấu thành sức mạnh để ngăn chặn cái chết.

Và đó là mười quyển sách yêu thích của tôi năm 2022, tôi xin gởi đến quý độc giả.

Đánh bại bóng tối bằng ánh sáng Giáng Sinh

Trong thời chế độ phân biệt chủng tộc (apartheid) ở Nam Phi, một trong những cách mà người dân bày tỏ sự phản đối và nói lên niềm tin vào một ngày mai tươi sáng, là thắp lên ngọn nến và đặt ở bệ cửa sổ, nơi những ai qua lại đều có thể nhìn thấy. Một ngọn nến thắp lên, đặt ở nơi công cộng, là lời tuyên bố mang tính ngôn sứ. Chính phủ nước này liền có hành động đàn áp ngay. Việc đặt nến ở bệ cửa sổ bị xem là tội hình sự, tương đương với tội mang vũ khí trái phép. Trẻ em không bỏ qua chuyện mỉa mai này. Chúng đùa với nhau, “Chính quyền chúng ta sợ những ngọn nến cháy!”

Nhưng đúng là phải sợ! Thắp một ngọn nến vì một lý do luân lý hay tôn giáo (dù là để phản kháng, để mừng lễ Hanukkah, để cho mùa Vọng, để mừng lễ Giáng Sinh), chính là lời tuyên bố mang tính ngôn sứ về đức tin, và về căn bản, đó là lời cầu nguyện chung.

Nhưng chúng ta phải thừa nhận, hàng triệu ánh đèn trên cây thông Noel chúng ta thấy khắp nơi lại không có được điều này. Tại sao chúng ta thắp biết bao nhiêu đèn như vậy vào dịp Giáng Sinh? Câu trả lời yếm thế sẽ là, việc này chỉ có mục đích thuần thương mại. Và với nhiều người trong chúng ta, những ánh đèn đó đơn giản là chuyện thẩm mỹ, màu sắc và ăn mừng, hầu như chẳng có ý nghĩa tôn giáo nào. Tuy nhiên, kể cả như vậy, sâu bên trong, việc này vẫn có một ý nghĩa. Tại sao chúng ta thắp đèn vào dịp Giáng Sinh? Tại sao chúng ta giăng đèn màu rực rỡ trên ngôi nhà và ngoài đường phố vào dịp này trong năm?

Chắc chắn là chúng ta làm thế vì nó lung linh màu sắc, vì để ăn mừng, vì lý do thương mại, nhưng sâu hơn, chúng ta cũng làm thế vì nó thể hiện đức tin, dù có thoáng qua đến thế nào đi nữa, rằng Đức Kitô đã chiến thắng, và ánh sáng đã chinh phục bóng tối mãi mãi. “Ánh sáng chiếu rọi trong bóng tối, và bóng tối không thể thắng ánh sáng”.

Những ánh đèn Giáng Sinh, xét tận cùng, là biểu hiện của đức tin và về căn bản là lời cầu nguyện chung. Dù vậy, chúng ta vẫn tự hỏi, nó để làm gì? Việc này có thể tạo nên sự khác biệt nào? Thắp lên một ánh sáng như biểu tượng đức tin có vẻ là một việc ngây thơ và vô nghĩa khi đối diện với bóng tối dường như bao trùm thế giới. Chúng ta nhìn vào thế giới, thấy hàng triệu người chịu đau khổ vì chiến tranh, hàng triệu người tị nạn đang vất vưởng ở các đường biên giới, hàng trăm triệu người khổ sở vì thiếu ăn. Khi biết mỗi ngày có hàng ngàn người chết vì bạo hành gia đình, vì ma túy, vì bạo lực băng đảng, khi nhìn vào những căng thẳng trong chính phủ, hội thánh, khu phố và gia đình chúng ta, chúng ta phải tự hỏi, liệu một chút ánh sáng chúng ta thắp lên, hay có thể nói là mọi ánh sáng Giáng Sinh này, có tạo nên sự khác biệt gì không?

Theo lời của cố linh mục Dòng Tên Michael Buckley, khi cầu nguyện bị xem là vô dụng nhất, thì đó lại là lúc cần đến lời cầu nguyện nhất. Những lời này đáng để chúng ta suy ngẫm. Với mức độ vấn đề của thế giới chúng ta, với mức độ bóng tối đang đe dọa chúng ta, bây giờ, hơn bao giờ hết, chúng ta buộc phải thể hiện đức tin một cách công khai, thể hiện như một lời cầu nguyện. Bây giờ, hơn bao giờ hết, chúng ta cần thể hiện công khai, chúng ta vẫn tin vào hành động của đức tin, vẫn tin vào sức mạnh của lời cầu nguyện, và vẫn tin rằng nơi Chúa Kitô, sức mạnh của bóng tối sẽ bị đè bẹp.

Điều này được thể hiện rất hay trong bài thơ tác giả John Shea viết trên thiệp Giáng Sinh năm nay của ông.

Cây thông Giáng Sinh muốn nói với ta
Bóng tối lớn lao của tháng chạp có thể hành hạ và ngày càng làm khổ chúng ta.
Nhưng cây thông Giáng Sinh lại khác thế. Những cành lá rung rinh đầy ánh sáng.
Sự sáng không dễ khuất phục
Chúng ta muốn một thế giới hoàn hảo
Nhưng không phải khi nào cũng được thế
Có thể chúng ta gặp phải thời tiết thảm họa, đại dịch, sức khỏe suy giảm, công việc quá sức, tài chính lung lay, tình cảm khó khăn, và xã hội cũng như thế giới đang điên lên lúc nhẹ lúc nặng.
Cây Giáng Sinh của chúng ta tỏa sáng
Ánh sáng đó thì thầm
“Hãy chịu đựng những thứ hành hạ chúng ta, nhưng đừng để nó chiếm lĩnh linh hồn chúng ta.
Chúng ta cao hơn bóng tối quanh mình”.

Khi cố gắng thắng chủ nghĩa phân biệt chủng tộc ở Nam Phi, tổng giám mục Desmond Tutu nhiều lần bị các sĩ quan quân đội tìm đến nhà thờ khi cha đang giảng, chĩa súng để dọa dẫm cha. Cha cười với họ và nói, “Tôi mừng vì các ông đã về phe thắng cuộc!” Khi nói thế, cha không nói về việc chủ nghĩa này đang lung lay, mà cha nói về chiến thắng vĩnh viễn mà Chúa Kitô đã giành lấy cho chúng ta. Ngài đã thắng trận chiến quan trọng nhất, và với đức tin, chúng ta đứng về phe thắng cuộc. Ánh sáng Giáng Sinh của chúng ta thể hiện điều này, dù chúng ta có ý thức hay không.

Thần học gia Karl Rahner từng viết, vào Giáng Sinh, Thiên Chúa cho phép chúng ta hạnh phúc. Giáng Sinh cũng cam đoan với chúng ta, chúng ta có quá đủ nền tảng để hạnh phúc, bất chấp những chuyện vẫn đang diễn ra trong cuộc đời và thế giới chung quanh chúng ta. Chúng ta có thể kiên cường bất khuất trước bất kỳ điều gì đòi chúng ta phải cúi đầu. Và ánh sáng Giáng Sinh thể hiện sự kiên cường bất khuất đó.

Đôi mắt đăm đăm nhìn ánh sáng

Trong quyển sách Sự khôn ngoan nơi bàn bếp – Những câu chuyện chữa lành (Kitchen Table Wisdom, Stories That Heal), bác sĩ kiêm nhà văn Rachel Naomi Remen đã chia sẻ câu chuyện sau.

Năm 14 tuổi, bà nhận việc làm thêm mùa hè tình nguyện viên ở nhà dưỡng lão. Việc này không mấy dễ dàng với bà. Bà còn nhỏ tuổi, ngại ngùng và gần như sợ người người lớn tuổi. Một hôm, bà được phân công ngồi một giờ với một bà 96 tuổi, suốt cả năm chưa nói câu nào và đang bị mất trí nhớ nặng. Rachel cầm theo một túi hạt thủy tinh, dự định có thể cùng bà xâu chuỗi hạt với mình. Nhưng chẳng được thế.

Rachel gõ cửa, không ai trả lời, cô vào và thấy bà cụ đang ngồi trên ghế, mắt nhìn đăm đăm qua cửa sổ. Rachel kéo ghế ngồi cạnh bà, và suốt một tiếng cô cố kéo ánh mắt bà ra khỏi khung cửa. Nhưng chẳng thành công. Theo lời kể của bà thì “căn phòng thinh lặng một cách tuyệt đối”. Bà cụ chưa một lần nhận thấy sự hiện diện của Rachel, cũng chưa hề nhìn cô, mà cứ liên tục nhìn chăm chăm ra cửa sổ.

Khi chuông reo báo hiệu đã qua một tiếng, Rachel đứng dậy, cô hỏi bà: “Nãy giờ bà nhìn gì vậy ạ?” Bà cụ trả lời: “Sao con lại hỏi thế, bà nhìn vào ánh sáng mà”. Rachel sửng sốt, không phải bởi sự lạ thường nơi lời nói, nhưng do một diễn xúc lạ thường, một say mê trên gương mặt bà cụ. Cô bé Rachel 14 tuổi chẳng biết sau biểu cảm lạ thường đó là gì. Phải mất nhiều năm, Rachel mới hiểu ra.

Rachel đã là bác sĩ sản khoa, nhi khoa. Khi bà đỡ đẻ lần đầu tiên, đứa bé ra đời đã mở mắt, bà nhìn thấy trong gương mặt đứa bé biểu cảm mà nhiều năm về trước bà đã thấy nơi bà cụ. Đứa bé cũng nhìn vào ánh sáng, vô thức, im lặng, rạng rỡ, đôi mắt dán chặt vào ánh sáng mà nó chưa từng thấy.

Có gì tương đồng giữa biểu cảm của một đứa bé lần đầu tiên mở mắt nhìn đời và của một bà cụ chăm chăm nhìn về phía ánh sáng? Rachel Remen có một hình ảnh lột tả được điều này.

Về căn bản, nếu ta sống đủ lâu, sẽ có lúc những phương thức nhận thức cũ của chúng ta sẽ không còn hữu ích nữa, lòng chúng ta sẽ buộc phải hướng về những thứ vượt trên những vết thương của chúng ta, những bất an của chúng ta sẽ tan biến cả và chúng ta sẽ chăm chăm hướng mắt về một ánh sáng khác. Điều này sẽ thay đổi triệt để cái nhìn của chúng ta, xóa bỏ hết mọi thứ từng có lý, cho chúng ta trở nên trẻ sơ sinh, câm lặng chăm chăm nhìn vào điều chưa biết, vào ánh sáng mời gọi đó. Tại sao lại thế? Chuyện là thế nào?

Khi trẻ mới sinh, nó rời một nơi nhỏ bé, hạn chế và tối tăm, nhưng lại bảo bọc, nuôi dưỡng và an toàn. Nó cũng rời nơi duy nhất nó từng biết, và có thể nó chẳng biết điều gì đang chờ mình khi sinh ra. Thật sự là, nếu đứa trẻ biết suy nghĩ một cách ý thức, chắc chắn nó sẽ khó lòng tin nổi có bất kỳ thứ gì, kể cả người mẹ mà nó chưa hề thấy, có tồn tại bên ngoài cung lòng này. Do đó, biểu cảm gương mặt của đứa trẻ khi lần đầu mở mắt nhìn ánh sáng sẽ là hoang mang, kinh sợ, mê ly.

Chúng ta sinh ra từ cung lòng này sang cung lòng khác. Chúng ta sống trong một cung lòng thứ hai, là thế giới của chúng ta, rộng lớn hơn, bớt hạn chế hơn, bớt tối tăm hơn, và cũng đem lại bảo vệ, nuôi dưỡng và an toàn như trong cung lòng mẹ. Gần như cả đời chúng ta, cung lòng thứ hai này tốt với ta, cho những thứ chúng a cần. Khi còn trẻ, khỏe, dường như chẳng có mấy lý do để chúng ta hướng ánh nhìn đến một ánh sáng khác. Cung lòng mà chúng ta đang sống cho chúng ta đủ ánh sáng rồi. Hơn nữa, nó cũng là nơi duy nhất chúng ta biết. Thật sự là, theo tự nhiên và chính mình, thì chúng ta không có gì chắc chắn rằng có một nơi nào khác ngoài nơi này.

Hơn nữa, chúng ta giống những đứa trẻ trong bụng mẹ ở điểm này. Từ thời điểm thụ thai, tiền định cho đứa trẻ là nó sẽ phải sinh ra. Sẽ đến lúc nó phải bước vào một thế giới rộng lớn hơn. Và chúng ta cũng thế. Chúng ta cũng được tiền định sẽ phải sinh ra, ra khỏi cung lòng hiện thời của mình. Do đó, như đứa trẻ trong bụng mẹ, chúng ta cũng có sự “điên rồ” đối với một ánh sáng lớn lao hơn.

Trong bài thơ Khao khát linh thánh (The Holy Longing), Johann Wolfgang von Goethe đã diễn tả điều này một cách thi vị như sau:

Bây giờ ta đã hết chìm sâu
Ngập trong ám ảnh với bóng tối
Khao khát ân ái cao bội phần
Đang đẩy ta lên, lên thật cao
Xa xôi không làm ta nản chí,
Vì giờ diệu kỳ ta đang bay,
Cuối cùng cuồng điên vì ánh sáng
Hóa thân thành bướm bay đi xa.

Dòng dõi kỳ lạ của Chúa Giêsu

Câu chuyện trọn vẹn về cách Chúa Giêsu Kitô ra đời có những yếu tố mà chúng ta thường không dễ hình dung ra khi hát những bài thánh ca Giáng Sinh. Phả hệ của Chúa Giêsu khó hoàn hảo, và theo học giả kinh thánh lừng danh Raymond Brown, thì chúng ta cần nhớ đến điều này khi muốn tin vào Chúa Giêsu nhưng muốn chối bỏ Giáo hội vì những bất toàn, tai tiếng và lịch sử tồi tệ. Chúa Giêsu được thụ thai vô nhiễm nguyên tội. Tuy nhiên, như các phúc âm đã làm rõ, gốc gác của Ngài cũng khủng khiếp không kém gì các tai tiếng của Giáo hội hiện thời.

Ví dụ như, khi cho chúng ta phả hệ của Chúa Giêsu, các thánh sử cho thấy có nhiều tội nhân, kẻ dối trá và âm mưu nằm trong dòng dõi huyết thống và lịch sử của Ngài, cùng với những thánh nhân, người lương thiện và đầy đức tin.

Ví dụ như, trong phả hệ của Chúa Giêsu có những người không hẳn là hiện thân cho yêu thương, công chính và thuần khiết của Chúa Giêsu. Abraham đã bất công ruồng rẫy Ismael và bà Hagar, mẹ của ông, viện dẫn Chúa ưu ái người này hơn người kia, ông Giacóp thì âm mưu và gian xảo, đã lấy quyền trưởng nam của Ê-sau; Đavid, người thường được liên hệ trực tiếp đến Chúa Giêsu, thì phạm tội ngoại tình rồi còn cho giết chồng của bà để che đậy cái thai ngoài ý muốn hòng cưới được bà.

Hơn thế nữa, những phụ nữ xuất hiện trong phả hệ của Chúa Giêsu không mấy tốt đẹp hơn. Một điều đáng chú ý, như tác giả Raymond Brown đưa ra, là những phụ nữ nào không được nhắc đến khi nói về nguồn gốc của Chúa Giêsu. Phúc âm không nhắc đến Sarah, Rebekah, hay Rachel, đều là những phụ nữ thánh thiện. Họ nhắc đến ai?

Họ nhắc đến Tamar, một phụ nữ Canaan, không thuộc Do Thái giáo, đã quyến rũ cha chồng của mình là Judah, với mục đích có con. Họ nhắc đến Rahab, cũng là người Canaan, người ngoại, và thật ra là một gái điếm. Tiếp theo, họ nhắc đến Ruth, một phụ nữ Moab, cũng không mang đức tin chính thức của thời đó. Rồi họ nhắc đến Bathsheba, một phụ nữ Hittite, một người ngoại, đã phạm tội ngoại tình với Đavid rồi âm mưu bảo đảm cho con mình được nối ngôi.

Tất cả những phụ nữ này đều có cuộc hôn nhân hoặc có thai, trong tình trạng tai tiếng hoặc bị ghẻ lạnh, nhưng mỗi người đều là một khí cụ thần thiêng để bảo tồn di sản tôn giáo đã cho chúng ta Chúa Giêsu. Không phải ngẫu nhiên khi các phúc âm liên kết những phụ nữ này với Đức Mẹ, mẹ Chúa Giêsu, vì Mẹ cũng có thai trong hoàn cảnh cấm kị và một cuộc hôn nhân khác thường.

Hơn nữa, ngoài những nhân vật kém thánh thiện trong phả hệ của Chúa Giêsu, chúng ta cũng thấy một vài tổ chức cấu thành do thái giáo cũng kém thánh thiện. Tôn giáo thể chế thời đó chịu nhiều vấn đề như thời nay, bao gồm lạm dụng quyền lực. Thật sự là, dân Israel (có lẽ họ biện minh cho hành động này bằng cái cớ trong việc ông Giacóp đã đối xử với ông Ê-sau) đã chiếm lấy đất của người Canaan, những người đã ở đó trước, và khẳng định rằng quyền sở hữu của họ là đặc quyền thần thiêng.

Cuối cùng, và không kém quan trọng, chúng ta cũng thấy rằng phả hệ đã cho chúng ta Chúa Giêsu, không chỉ dựng nên trên những người vĩ đại và tài năng, mà còn trên những người nghèo khổ và hèn kém. Trong danh sách tổ tiên của Chúa Giêsu, có một số người nổi danh, nhưng còn những người khác thì chẳng có gì đặc biệt hay quan trọng. Dòng dõi huyết thống của Chúa Giêsu được sinh ra từ những người vĩ đại và bé nhỏ, tài năng và bình thường, một cách cân bằng.

Chúng ta có thể nghiệm ra được gì từ điều này? Có lẽ tác giả Raymond Brown nói rõ ràng nhất. Ông nói, điều này nói lên rằng Thiên Chúa vẽ đường thẳng bằng những đường cong, và chúng ta không nên tiếp nhận một Chúa Kitô bị lý tưởng hóa quá mức, đồng thời, cuộc sống của chúng ta, nếu có yếu đuối và tầm thường, thì cũng quan trọng trong việc tiếp diễn câu chuyện nhập thể.

Như Brown nói: “Thiên Chúa viết ra khởi đầu bằng những đường cong và viết tiếp bằng những đường cong, một vài đường trong đó là cuộc đời và chứng tá của chúng ta. Thiên Chúa không ngần ngại dùng kẻ gian manh lẫn người cao thượng, kẻ ô uế lẫn người thuần khiết, kẻ bị thế giới khinh chê lẫn người được thế giới hướng về, Thiên Chúa vẫn hoạt động qua những người đó ngang nhau. Nếu việc nhận ra phần cuối trong phả hệ ở Phúc âm Thánh Mattêô với những người vô danh tiểu tốt chính là một phần lịch sử của Chúa Giêsu Kitô vốn đã khó, thì có lẽ việc nhận ra những nhân vật vô danh ngày nay thật ra là một phần thiết yếu của câu chuyện lại càng khó hơn nữa”.

Kitô giáo không chỉ dành cho người thuần khiết, tài năng, tốt đẹp, khiêm nhượng và lương thiện. Câu chuyện của Chúa Giêsu Kitô cũng được viết nên bởi những người ô uế, tội lỗi, mưu đồ, kiêu ngạo, bất lương và những người chẳng có tài năng gì. Chẳng ai là quá tệ, quá tầm thường, quá bất tài hoặc nằm ngoài đức tin đến nỗi phải nằm ngoài câu chuyện của Chúa Kitô.

Cơn giận của Thiên Chúa và cảm giác tội lỗi, hổ thẹn của chúng ta

Các giáo dục tôn giáo đầu đời của tôi, ngoài những điểm mạnh của nó, thường quá nhấn mạnh về nỗi sợ Thiên Chúa, sợ phán xét, sợ không bao giờ đủ tốt để Thiên Chúa hài lòng. Cung cách đó làm chúng tôi đọc theo nghĩa đen những đoạn Kinh thánh về Thiên Chúa giận dữ và phật lòng. Mặt tiêu cực của cách này là làm cho nhiều người trong chúng ta mang cảm giác tội lỗi, hổ thẹn và ghét mình, hiểu những cảm giác đó theo kiểu tôn giáo mà không biết rằng chúng có nguồn gốc tâm lý hơn là tôn giáo. Nếu bạn có cảm giác tội lỗi, hổ thẹn, ghét mình, thì đó là dấu hiệu cho thấy bạn không sống chuẩn, rằng bạn nên thấy hổ thẹn và Thiên Chúa không hài lòng về bạn.

Như triết gia Hegel từng nói, mọi chính đề cuối cùng đều sinh ra những phản đề của chính nó. Cả trong văn hóa và nhiều nhóm tôn giáo hiện nay, cung cách đó đã gây ra một phản ứng cay đắng. Đặc tính của Giáo hội và văn hóa hiện tại đã nhiệt tình tiếp nhận những thấu suốt của tâm lý học đương thời về mặc cảm tội lỗi, sự hổ thẹn và ghét mình. Chúng ta học từ Freud và nhiều người khác rằng, phần lớn những cảm giác tội lỗi, hổ thẹn và ghét mình của chúng ta thật ra là một rối loạn tâm lý, chứ không phải dấu hiệu cho thấy chúng ta đã làm gì sai. Cảm giác tội lỗi, hổ thẹn và ghét mình tự chúng không biểu lộ chúng ta không lành mạnh về mặt tôn giáo hay đạo đức, cũng không có nghĩa là Thiên Chúa không hài lòng về chúng ta.

Với thấu suốt này, ngày càng nhiều người bắt đầu quy trách nhiệm cho giáo dục tôn giáo về bất kỳ cảm giác tội lỗi, hổ thẹn và ghét mình nào của mình. Họ đã chế ra từ “rối loạn thần kinh kitô hữu” và đã bắt đầu nói về việc “phục hồi” từ các nhà thờ của họ.

Vậy thì chúng ta nói được gì về điều này? Về căn bản, một phần chuyện này lành mạnh, một chỉnh đốn cần thiết, dù một phần lại do sự ngây thơ của chính nó. Và nó đã dẫn chúng ta đến tình trạng ngày nay. Hôm nay, giới bảo thủ tôn giáo có khuynh hướng bác bỏ ý tưởng rằng cảm giác tội lỗi, hổ thẹn và ghét mình chủ yếu là một rối loạn thần kinh (và là do giáo dục tôn giáo), trong khi giới tự do tôn giáo lại ủng hộ quan niệm này. Ai nói đúng đây?

Tôi tin rằng một linh đạo cân bằng hơn kết hợp sự thật của cả hai lập trường sẽ đem lại một nhận thức sâu sắc hơn. Rút ra từ những gì tốt nhất của học thuật kinh thánh hiện thời và những gì tốt nhất trong tâm lý học đương đại, một linh đạo cân bằng hơn sẽ có những khẳng định này.

Trước hết, khi ngôn ngữ Kinh thánh bảo chúng ta rằng Thiên Chúa nổi giận và trút cơn thịnh nộ, thì đó là hiểu theo thuyết nhân hóa. Thiên Chúa vốn không giận dữ với chúng ta khi chúng ta làm sai. Đúng hơn là chúng ta giận chính bản thân mình và cảm thấy cơn giận đó là “sự thịnh nộ của Thiên Chúa”. Tiếp theo, hầu hết các nhà tâm lý học thời nay nói rằng nhiều cảm giác tội lỗi, hổ thẹn và ghét mình của chúng ta thật ra là không lành mạnh, là một rối loạn tâm lý, chứ không phải dấu hiệu cho thấy chúng ta đã làm gì sai. Những cảm giác này chỉ cho thấy cách chúng ta cảm nhận về mình, chứ không phải cách Thiên Chúa cảm nhận về chúng ta.

Tuy nhiên, phải thừa nhận, nếu xem những cảm giác tội lỗi, hổ thẹn và ghét mình là rối loạn thần kinh đơn thuần, thì đúng là quá đơn giản. Tại sao thế? Bởi vì nếu những cảm giác này hoàn toàn hay phần lớn là không đáng có, nhưng chúng vẫn là một tiếng nói quan trọng trong chúng ta, nghĩa là dù chúng không ngụ ý Thiên Chúa nổi giận hoặc không hài lòng chúng ta, nhưng chúng vẫn là một tiếng nói trong lòng chúng ta và sẽ không nguôi cho đến khi chúng ta tự hỏi tại sao mình lại không hài lòng và giận dữ với bản thân.

Tôi xin đưa ra một ví dụ: Trong bộ phim City Slickers của thập niên 1990, có cuộc trao đổi thú vị này. Ba người đàn ông đang nói chuyện về vấn đề đạo đức trong chuyện ngoại tình. Một người hỏi, “Nếu có thể ngoại tình và không bị sao cả, anh có làm không?” Người kia trả lời, “Không, tôi vẫn không làm”. “Tại sao không, đâu có ai biết”. Câu trả lời tiếp theo chứa đựng một thấu suốt thường bị bỏ qua về vấn để cảm giác tội lỗi, hổ thẹn và ghét mình. “Tôi biết, và tôi ghét mình vì chuyện đó”.

Có thứ gọi là “rối loạn thần kinh mặc cảm tội lỗi” của kitô giáo (và không chỉ giới hạn nơi người theo kitô giáo, do thái giáo, hồi giáo và các tôn giáo khác, mà còn có nơi tất cả những ai nhạy cảm về mặt luân lý). Tuy nhiên, không phải cảm giác tội lỗi, hổ thẹn và ghét mình nào cũng là rối loạn thần kinh. Một số người cố dạy chúng ta một chân lý tôn giáo và đạo đức sâu sắc rằng: dù chúng ta không bao giờ làm gì để Thiên Chúa nổi giận dù chỉ trong một phút, nhưng chúng ta có thể làm nhiều điều mà chúng ta giận chính bản thân mình. Và dù chúng ta không làm gì để khiến Thiên Chúa không tha thứ cho chúng ta, nhưng chúng ta có thể làm những việc mà chúng ta khó tha thứ cho bản thân mình. Vấn đề không bao giờ ở Thiên Chúa. Mà là chính chúng ta.

Những cảm giác tội lỗi, hổ thẹn và ghét mình tự chúng không ngụ ý rằng chúng ta đã làm gì sai, nhưng chúng ngụ ý cách chúng ta cảm nhận về việc mình đã làm, và đó có thể là tiếng nói tôn giáo và đạo đức quan trọng trong chúng ta.

Không phải cái gì làm chúng ta thấy phiền đều là bệnh.