RonRolheiser,OMI

Chúc lành cho người khác là phần tối hậu của tình dục

Dù nhiều người không nhận ra, nhưng phong trào #MeToo về cơ bản là một bênh vực mạnh mẽ cho khiết tịnh. Nếu khiết tịnh có thể được định nghĩa như một điều song hành với tôn kính, tôn trọng và nhẫn nại, thì hầu hết mọi điều trong phong trào #MeToo đều nói lên tầm quan trọng không thể bàn cãi của khiết tịnh và hoàn toàn nói về ý nghĩa tối hậu của tình dục, cụ thể là đem lại phúc lành cho người khác chứ không phải là lợi dụng họ.

Chỉ hai từ, chúc phúc. Điều mà Thiên Chúa và tự nhiên yêu cầu người nắm quyền là phải chúc phúc thay vì lợi dụng, dùng đặc quyền của mình để nâng đỡ thay vì quấy rối, và tạo một không gian an toàn hơn là sợ hãi. Chúng ta hình dung nếu trong mọi vụ việc nổi bật mà trong đó có nhà sản xuất phim Hollywood, nhân vật tầm cỡ của giới truyền hình, ngôi sao thể thao hoặc các nhà lãnh đạo tâm linh bị buộc tội quấy rối, lợi dụng và tấn công phụ nữ, thì những người đàn ông này, với quyền lực và uy thế của mình, nếu họ biết dùng quyền lực đó để giúp những phụ nữ kia có thêm an toàn và thành công thay vì nhảy bổ vào các phụ nữ này thì sẽ tốt như thế nào. Chúng ta hình dung nếu họ dùng quyền lực của mình để đem lại phúc lành cho các phụ nữ đó, đơn thuần là ái mộ vẻ đẹp và sinh lực của các phụ nữ đó, cho họ cảm thấy an toàn hơn, giúp họ thăng tiến trong sự nghiệp thì sẽ như thế nào. Nếu được như thế, thì mọi chuyện sẽ khác hẳn, cho cả hai phía. Cả hai sẽ hạnh phúc hơn, lành mạnh hơn và trân trọng tình dục hơn. Tại sao? Có điều gì liên kết giữa chúc phúc và tình dục?

#MeToo đã giúp vạch trần, tình dục thường bị dùng như một quyền lực, quyền lực để cưỡng ép sự đồng thuận tình dục, quyền lực để cho phép hoặc chặn đứng ai đó thăng tiến trong cuộc sống và sự nghiệp, và quyền lực để làm cho nơi làm việc của ai đó thành nơi an toàn và thoải mái hay thành nơi khó chịu và sợ hãi. Điều này đã có từ ngàn xưa cho đến tận bây giờ, nó vẫn là công cụ tình dục của nhiều người có quyền có thế. Các đạo diễn Hollywood, các nhân vật trong giới truyền hình, giáo sư đại học, vận động viên nổi tiếng, các ông chủ, các nhà lãnh đạo tâm linh, và những người quyền thế đủ mọi kiểu. Những người quyền thế quá thường xuyên (dù có thể là vô thức) để mình bị cuốn theo mẫu của một ông vua cổ đại, với suy nghĩ mọi phụ nữ trong lãnh địa đều thuộc về nhà vua và đặc quyền tình dục của vua là quyền trời ban. Phong trào #MeToo nói lên thời đó đã qua và những người có quyền, có chức, có thế, phải làm gì đó khác. Họ phải làm gì?

Để chúc phúc người khác thì phải làm hai việc. Thứ nhất, là cho người đó một ánh mắt ái mộ nhưng không lạm dụng, ái mộ mà không chút tư lợi nào. Tiếp theo, chúc phúc cho người khác là dùng quyền thế của mình để giúp cuộc sống người khác được an toàn hơn, giúp họ phát triển ước mơ và mục đích của mình. Chúc phúc cho người khác chính là nói với họ: Tôi mừng vì vẻ đẹp và sinh lực của bạn. Giờ tôi có thể làm gì để giúp bạn (mà không vì tư lợi của tôi)? Chúc phúc cho người khác như thế chính là biểu hiện cao nhất của tình dục và khiết tịnh. Vì sao lại thế?

Tình dục đâu chỉ là làm tình và khiết tịnh đâu chỉ là kiêng tình dục. Tình dục là động lực trong chúng ta nhằm hướng đến cộng đồng, tình bạn, sự toàn vẹn, gia đình, sự sáng tạo, vui chơi, ý thức siêu linh, vị tha, vui thú, hân hoan, viên mãn tình dục, bất tử và mọi thứ giúp chúng ta vượt ra khỏi sự cô độc. Nhưng nó có nhiều giai đoạn phát triển. Trong những giai đoạn đầu, nó tập trung vào việc làm tình, vào sự thân mật tình cảm, vào sự sinh sôi. Trong những giai đoạn sau, nó tập trung vào chúc phúc, vào ái mộ, trao đi để người khác có thêm.

Tôi mạn phép nói: Biểu hiện trưởng thành nhất của tình dục trên đời này không phải là một cặp đang làm tình thật hoàn hảo, dù cho nó tuyệt vời và thần thiêng đến mấy. Nói cho đúng, đó phải là ánh mắt người ông người bà nhìn đứa cháu với một tình yêu thương thuần khiết và quên mình hơn bất kỳ tình yêu thương nào họ từng trải nghiệm, một tình yêu không có tư lợi, chỉ có ái mộ, quên mình và vui thích. Trong khoảnh khắc đó, con người này đang phản chiếu cái nhìn của Thiên Chúa trước sự tạo dựng nguyên thủy và thốt lên rằng: Thật tốt đẹp biết bao! Tiếp theo, người này, cũng như Thiên Chúa, sẽ cố mở ra những con đường, thậm chí bằng cái giá là mạng sống, để cho cuộc đời người kia được nở hoa.

Thiên Chúa và tự nhiên cho tình dục nhiều mục đích, đó là thân mật, vui thú, sinh sôi, kết hợp và lạc thú, nhưng nó vốn có nhiều phương thức. Có lẽ biểu hiện tối hậu của nó chính là sự ái mộ đó, là nhìn người khác hoặc nhìn thế giới với ánh mắt ái mộ, với cõi lòng đang kêu lên: “Chà! Thích thú quá! Sinh lực của cháu làm phong phú thế giới này! Ông bà giúp được gì cho cháu đây?” Khi có thể hướng ánh mắt ái mộ về ai đó, thì chúng ta không thể nào xâm hại vẻ đẹp và phẩm giá của người đó.

Sự ái mộ và chúc phúc là phần tối hậu của tình dục. Giá mà những người bị #MeToo cáo buộc biết ái mộ thay vì lợi dụng.

Sự kinh ngạc đã không còn

Trong bài thơ với tiêu đề Is/Not, văn hào Canada Margaret Atwood gợi ý khi tình yêu trở nên tê dại, thì chúng ta sẽ thấy mình như thế này:

Chúng ta kẹt nơi đây
Ở bên này biên giới
trong đất nước của những con đường mòn nát, những tòa nhà nhạt nhẽo
chẳng có gì ngoạn mục để ngắm nhìn
thời tiết thì bình thường
và tình yêu thuần túy
chỉ có trên những thứ đồ lưu niệm rẻ tiền nhất.

Tình yêu có thể trở nên tê dại giữa hai con người, cũng như ở cả trong văn hóa. Và chuyện đó đã xảy ra trong văn hóa chúng ta, ít ra là ở phần lớn văn hóa. Sự háo hức từng một thời hướng dẫn đôi mắt chúng ta đã nhường chỗ cho một tê dại và thoái lui nào đó. Chúng ta không còn tươi mới và sảng khoái trước cuộc đời. Chúng ta đã thấy nó mang lại gì và đã cam chịu chấp nhận một mức độ nào đó. Ở đó chỉ có thế thôi, nó đâu có tuyệt vời đến thế! Tất cả những gì chúng ta có thể nỗ lực bây giờ là có thêm những thứ như cũ, với một hy vọng sai lầm, nếu chúng ta cứ tăng thêm liều thì hiệu quả sẽ tốt hơn.

Họ nói về những người già, nhưng người già thật ra lại trẻ trung trong trái tim. Chúng ta ở mặt chống đối, người trẻ mà không còn trẻ trung trong lòng. Sự kinh ngạc đã không còn.

Căn nguyên của chuyện này là gì? Điều gì tước đi sự kinh ngạc khỏi chúng ta? Sự quen thuộc và hậu duệ của chúng: cầu ký, kiêu hãnh về tri thức, thất vọng, buồn chán và khinh dễ. Sự quen thuộc sản sinh ra khinh dễ và khinh dễ là phản đề của hai điều cần có để kinh ngạc trước thế giới: tôn kính và tôn trọng.

Tác giả G.K. Chesterton từng nói, quen thuộc là thứ ảo tưởng lớn nhất. Thi sĩ Elizabeth Barrett Browning cho chúng ta một diễn đạt thi ca về điều này: Địa cầu đầy dẫy thiên đàng. Bụi cây nào cũng có lửa của Thiên Chúa. Nhưng chỉ có người nào nhìn thấy, họ cởi giây. Số còn lại ngồi quanh nhặt trái và vô thức bôi bẩn mặt mình. Đoạn thơ này mô tả rất đúng ảo tưởng của sự quen thuộc, nhặt trái mâm xôi trong khi bất cẩn bôi bẩn mặt mình, không biết mình đang ở trước sự hiện diện của đấng thánh. Sự quen thuộc biến mọi thứ thành bình thường.

Vậy bài học là gì? Làm sao để chúng ta phục hồi ý thức kinh ngạc? Làm sao để chúng ta lại một lần nữa nhìn thấy ngọn lửa thần thiêng trong đời thường? Chesterton gợi ý, bí quyết để phục hồi sự kinh ngạc và thấy được ngọn lửa thần thiêng trong đời thường chính là nhìn vào những thứ quen mắt cho đến khi chúng lại trở nên không quen mắt. Theo Kinh Thánh, đây là điều mà Thiên Chúa yêu cầu ông Môsê khi ông nhìn thấy một bụi cây bốc cháy giữa hoang mạc và tò mò tiến lại gần ngọn lửa đó. Thiên Chúa phán với ông: “Hãy cởi giày ra, nơi ngươi đang đứng là đất thánh”.

Câu này, lời mời độc nhất này, chính là bí quyết để phục hồi ý thức kinh ngạc của chúng ta mỗi khi chúng ta thấy mình kẹt ở bên này biên giới, trong đất nước của những con đường mòn nát, những tòa nhà nhạt nhẽo, chẳng có gì ngoạn mục để ngắm nhìn, thời tiết thì bình thường và tình yêu thuần túy dường như chỉ có trên những thứ đồ lưu niệm rẻ tiền nhất.

Một trong những giáo sư cao học của tôi thỉnh thoảng khuyên chúng tôi thế này: Nếu hỏi một đứa bé ngây thơ có tin có Ông già Noel không, nó sẽ trả lời có. Nếu hỏi một đứa bé sáng suốt thì nó sẽ trả lời không. Nhưng nếu hỏi một đứa trẻ sáng suốt hơn, nó sẽ mỉm cười và bảo là có.

Ý thức kinh ngạc của chúng ta ban đầu dựa vào sự ngây thơ khi là đứa trẻ, khi chưa quen thuộc một cách không lành mạnh với thế giới này. Đôi mắt chúng ta vẫn mở to để ngạc nhiên trước sự mới mẻ của vạn vật. Dĩ nhiên, điều đó thay đổi khi chúng ta lớn lên, trải nghiệm và học hỏi. Chẳng mấy chốc, chúng ta biết sự thật về Ông già Noel và như thế, rất dễ dàng kèm theo cái chết của sự kinh ngạc, đồng thời sự quen thuộc khai sinh sự khinh dễ. Đây là sự vỡ mộng, một giai đoạn chuyển tiếp bình thường trong đời, chứ không phải là đích đến cuối cùng trong đời. Nhiệm vụ của tuổi trưởng thành là phục hồi lại ý thức kinh ngạc và một lần nữa, vì những lý do rất khác biệt, mà tin vào chuyện Ông già Noel. Chúng ta cần đem sự kinh ngạc này trở lại.

Tôi từng nghe một người khôn ngoan chia sẻ câu chuyện này: Cứ hình dung một đứa bé hai tuổi hỏi bạn, “buổi tối, mặt trời đi đâu ạ?” Với một đứa trẻ ở tuổi đó, đừng lấy quả địa cầu hay quyển sách ra để cố giải thích cách mặt trời điều hành. Cứ trả lời với đứa bé, mặt trời mệt rồi và đang ngủ sau kho thóc. Tuy nhiên, khi đứa bé đã sáu hay bảy tuổi, đừng cố giải thích như thế nữa. Giờ đã đến lúc lấy sách ra và giải thích về hệ mặt trời. Sau đó, khi đứa bé lên cấp ba hay đại học, thì lấy sách của Steve Hawking, Brian Swimme và các nhà vật lý thiên văn để nói về nguồn gốc và sự tạo thành vũ trụ. Cuối cùng, khi người đó 80 tuổi, đủ hợp lý để chúng ta lại nói “mặt trời mệt rồi và đang ngủ sau kho thóc”.

Chúng ta đã quá quen thuộc với buổi hoàng hôn! Nhưng sự kinh ngạc có thể biến cái quen thuộc thành không quen thuộc một lần nữa.

Cầu nguyện như một tín hữu kitô

Trong kitô giáo có bốn dạng cầu nguyện khác biệt. Có lời cầu nguyện nhập thế, lời cầu nguyện thần nghiệm, lời cầu nguyện cảm xúc và lời cầu nguyện linh mục. Vậy những lời cầu nguyện này là gì và khác nhau như thế nào?

Lời cầu nguyện nhập thế. Thánh Phaolô mời gọi chúng ta “cầu nguyện luôn mãi”. Làm sao có thể làm được? Chúng ta có thể hay không thể cầu nguyện luôn mãi? Điều mà thánh Phaolô mời gọi chúng ta cũng là điều Chúa Giêsu yêu cầu chúng ta khi Ngài bảo “hãy đọc dấu chỉ của thời đại”. Khi nói thế, Chúa Giêsu không bảo chúng ta hãy đọc mọi phân tích chính trị, kinh tế, xã hội mình tìm được. Đúng hơn, Ngài mời gọi chúng ta hãy tìm kiếm ngón tay của Thiên Chúa trong mọi sự kiện trong đời chúng ta. Thế hệ cha mẹ tôi gọi điều này là hòa hợp với “sự quan phòng tối cao”, nghĩa là nhìn vào mọi sự kiện trong đời mình và những sự kiện chính của thế giới rồi tự vấn: “Thiên Chúa nói gì với chúng ta trong những sự kiện này?” Nhưng khi làm việc này, chúng ta phải cẩn thận. Thiên Chúa không gây ra tai nạn, bệnh tật, thương tâm, chiến tranh, nạn đói, động đất, trái đất nóng lên hay đại dịch, Thiên Chúa cũng không cho trúng số hay cho đội bóng chúng ta yêu thích thành vô địch, nhưng Thiên Chúa nói qua những sự việc này. Chúng ta cầu nguyện nhập thế khi tìm ra tiếng nói đó.

Lời cầu nguyện thần nghiệm. Cầu nguyện thần nghiệm không phải là việc có trải nghiệm thiêng liêng phi thường như thị kiến, xuất thần. Thần nghiệm không phải hướng về những điều này. Trải nghiệm thần nghiệm của tôi đơn giản là được Thiên Chúa chạm đến cách thâm sâu hơn những gì chúng ta có thể nắm bắt và hiểu được bằng trí tuệ và tưởng tượng, một hiểu biết vượt trên cả tâm và trí. Nhận thức thần nghiệm hoạt động như sau: Cái đầu bảo cho chúng ta biết suy nghĩ nào của chúng ta là khôn ngoan để thực hiện, trái tim cho chúng ta biết điều chúng ta muốn và trung tâm thần nghiệm cho chúng ta biết chúng ta phải làm gì. Ví dụ như tác giả C.S. Lewis mô tả trải nghiệm trở lại đạo của ông, ông kể lần đầu tiên ông quỳ gối và công nhận Chúa Kitô, ông đã không nhiệt tâm làm. Thay vào đó, theo lời nổi tiếng của ông, ông đã quỳ gối “trong lần trở lại gượng ép nhất trong lịch sử kitô giáo”. Điều gì đã buộc ông làm điều này? Ông nói: “Sự hà khắc của Chúa thì tốt hơn là sự dịu dàng của con người, và sự ép buộc của Chúa là sự giải phóng chúng ta”. Chúng ta cầu nguyện cầu nguyện thần nghiệm bất cứ khi nào chúng ta lắng nghe và nghe thấy tiếng nói cưỡng bức nhất trong chúng ta, tiếng nói mách bảo cho chúng ta biết điều mà Thiên Chúa và bổn phận kêu gọi chúng ta làm.

Lời cầu nguyện cảm xúc. Đó là mọi lời cầu nguyện sốt mến (chầu Thánh Thể, đọc kinh cầu, kinh mân côi, những lời cầu nguyện xin Đức Mẹ hay các thánh cầu bàu) xét cho cùng, đây là lời cầu nguyện cảm xúc, là những dạng chiêm nghiệm và suy niệm. Chúng đều như nhau về ý chỉ. Đó là gì vậy? Trong Phúc âm thánh Gioan, những lời đầu tiên Chúa Giêsu phán là một câu hỏi. Dân chúng tò mò nhìn Ngài, và Ngài hỏi họ, “Các anh tìm gì?” Câu hỏi đó tồn tại xuyên suốt toàn bộ các phúc âm như một câu nền. Nhiều điều diễn ra trên bề mặt, nhưng bên trong luôn có một câu hỏi day dứt, băn khoăn: “Các anh tìm gì?”

Chúa Giêsu chính xác trả lời cho câu hỏi này vào sáng ngày phục sinh. Khi bà Maria Magđala đi tìm Ngài, đem theo thuốc thơm để xức xác Ngài. Chúa Giêsu gặp bà, nhưng bà không nhận ra. Rồi Ngài lặp lại cùng câu hỏi đã mở đầu Phúc âm: “Bà tìm ai?” và cho chúng ta câu trả lời thực sự. Ngài gọi tên bà đầy yêu thương: “Maria”. Khi làm như thế, Ngài mặc khải điều mà bà và hết thảy chúng ta đều luôn mãi tìm kiếm, đó là tiếng Chúa phán trực diện, với tình yêu thương vô điều kiện đang gọi tên chúng ta. Mọi lời cầu nguyện sốt mến dù cho chúng ta, cho người khác hay cho thế giới, đều có mục đích tối hậu này.

Lời cầu nguyện linh mục. Lời cầu nguyện linh mục là lời cầu nguyện của Chúa Kitô cho thế giới thông qua giáo hội. Kitô giáo tin rằng Chúa Kitô vẫn ở với chúng ta bằng lời của Ngài và bằng phép Thánh Thể. Và chúng ta tin rằng bất cứ khi nào chúng ta tụ họp với nhau, trong nhà thờ hay nơi nào khác, để quây quần quanh Kinh thánh hoặc để cử hành phép Thánh Thể, là chúng ta đang bước vào lời cầu nguyện này. Lời cầu nguyện này thường được gọi là lời cầu nguyện phụng vụ, đó chính là lời cầu nguyện của Chúa Kitô chứ không phải của chúng ta. Hơn nữa, đây không phải là lời cầu nguyện trước hết cho bản thân chúng ta hay cho hội thánh, mà là lời cầu nguyện cho thế giới – “Thịt Ta là của ăn đem lại sự sống cho thế gian”.

Chúng ta đọc lời cầu nguyện phụng vụ, lời cầu nguyện linh mục, bất kỳ lúc nào chúng ta quây quần quanh Kinh thánh, phép Thánh Thể hay bất kỳ bí tích nào. Chúng ta cũng cầu nguyện theo cách này khi cầu nguyện các giờ kinh phụng vụ, riêng tư hay với cộng đoàn. Chúng ta được yêu cầu hãy đều đặn cầu nguyện cho thế giới nhờ thiên chức linh mục được truyền cho chúng ta trong phép rửa.

Một tín hữu kitô lành mạnh về mặt thiêng liêng và trưởng thành cầu nguyện theo bốn cách này, và phân biệt rõ ràng bốn dạng cầu nguyện này có thể hữu ích để chúng ta cầu nguyện luôn mãi và cầu nguyện với Chúa Kitô.

Đừng thủ thế

Trong phần lớn thế giới thế tục, chúng ta sống trong bầu khí phần nào bài Giáo hội và bài giáo sĩ. Ngày nay, khá là hợp thời khi công kích các giáo hội, dù là Giáo hội công giáo la-mã, tin Lành hay phái Phúc âm. Việc này thường được thực hiện nhân danh tư tưởng phóng khoáng và khai sáng, và đó chính là thiên kiến được phê chuẩn về mặt tri thức. Nói xấu gì đó về bất kỳ nhóm nào khác trong xã hội thì ta sẽ phải giải thích, nói gì đó phỉ báng các giáo hội thì không bị hậu quả gì.

Vậy phải phản ứng thế nào mới đúng đắn? Dù chúng ta dễ thấy mình bị xúc phạm bởi việc này, nhưng phải cẩn thận đừng phản ứng thái quá, bởi vì là Giáo hội, chúng ta không nên thấy mình bị đe dọa ghê gớm bởi điều này. Vì sao lại thế?

Trước hết, vì một số chỉ trích là tốt và hữu ích. Phải nói sự thật, chúng ta ai chẳng có những lỗi phạm thật sự. Mọi chủ nghĩa vô thần là ký sinh sống nhờ một tôn giáo tồi. Những lời chỉ trích chúng ta sống nhờ những lỗi phạm của chúng ta và chúng ta chỉ có biết ơn vì họ đã đưa ra những lỗi phạm này, mặc dù đôi khi người ta làm quá hơn mức cần thiết. Những lời chỉ trích Giáo hội giúp chúng ta khiêm tốn một cách lành mạnh và thúc đẩy chúng ta phải can đảm thanh lọc nội bộ hơn nữa. Ngoài ra, chúng ta đã hưởng đặc quyền quá lâu rồi, và đó không bao giờ là một điều tốt cho Giáo hội. Cho dù không thích cho lắm, nhưng thường chúng ta sống trong tư cách là người tín hữu kitô thời thiếu đặc quyền lành mạnh hơn là thời có nhiều đặc quyền. Hơn nữa, có vài điều hệ trọng đang gặp nguy cơ.

Chúng ta phải cẩn thận đừng phản ứng thái quá với bầu khí bài giáo hội đương thời, vì nó có thể dẫn chúng ta đến tâm thức đề phòng quá đáng và đặt chúng ta vào vị trí đối chọi không lành mạnh với một văn hóa, mà Tin Mừng không khuyên chúng ta phải làm như thế. Trách nhiệm của chúng ta đúng ra là phải hấp thụ các lời chỉ trích, đau đớn suy ngẫm về nó, nhẹ nhàng đưa ra điểm bất công trong đó, và chống lại cám dỗ thủ thế. Vì sao? Vì sao không nên gồng mình thủ thế?

Vì chúng ta đủ mạnh để không làm thế, đủ lý trí để không làm thế. Chúng ta có thể chịu đựng điều này mà không trở nên gay gắt và thủ thế hơn. Bất chấp sự chỉ trích đương thời đối với Giáo hội, Giáo hội đâu có sụp đổ hay tan biến ngay. Chúng ta là hai tỷ rưỡi tín hữu kitô trên khắp thế giới, đứng vững với truyền thống hai ngàn năm, có một Kinh Thánh được chấp nhận rộng rãi, có giáo lý được giữ vững và tinh tế điều chỉnh trong hai ngàn năm, có các thể chế lớn hàng trăm năm tuổi, bén rễ sâu trong văn hóa và công nghệ Tây phương, có lẽ là nhóm đa quốc gia lớn nhất thế giới và phát triển về con số mạnh nhất thế giới. Chúng ta đâu phải là cây sậy lay lắt trước gió hay con tàu sắp chìm. Chúng ta mạnh mẽ, vững vàng, được Chúa chúc phúc, là trưởng lão trong nền văn hóa, và vì thế chúng ta phải là hình mẫu chính chắn và thông hiểu cho nền văn hóa.

Ngoài ra, quan trọng hơn nữa, Đức Kitô đã hứa luôn ở bên cạnh chúng ta, và có sự phục sinh để nâng đỡ chúng ta. Với tất cả những điều này, tôi nghĩ thật công bằng khi nói chúng ta có thể tiếp thu khá nhiều lời chỉ trích mà không sợ đánh mất bản sắc của mình. Hơn nữa, chúng ta đừng để những lời chỉ trích làm chúng ta mất đi nhận thức lý do vì sao chúng ta tồn tại ngay từ đầu.

Giáo hội tồn tại không phải vì chính nó hay để bảo đảm sự tồn tại của nó, mà là vì thế giới. Chúng ta có thể dễ dàng quên mất điều này và mất đi ý thức về yêu cầu của Tin Mừng đối với chúng ta. Ví dụ như, hãy so sánh hai phản ứng này: Ở một buổi họp báo, khi được hỏi, nhiệm vụ hàng đầu của giáo hội thời nay là gì, hồng y Basil Hum đơn giản trả lời: “Chúng ta cần nỗ lực cứu hành tinh này.” Cũng câu hỏi này, trong một phỏng vấn đề trên đài gần đây, một hồng y khác trả lời: “Phải bảo vệ đức tin”. Vậy ai mới đúng?

Mọi điều về Chúa Giêsu cho thấy quan điểm của hồng ý Hume gần với Tin Mừng hơn hồng y kia. Khi Chúa Giêsu nói, “Thịt Ta là của ăn hằng sống cho thế gian”, Ngài xác nhận rõ, nhiệm vụ hàng đầu của Giáo hội không phải là bảo vệ mình, bảo đảm sự tiếp diễn của mình hay bảo vệ mình khỏi bị thế giới vùi dập. Giáo hội tồn tại vì thế giới chứ không phải vì chính Giáo hội. Chính vì thế có một biểu tượng phong phú trong chuyện Chúa Giêsu vừa ra đời thì nằm trong máng cỏ, nơi là máng ăn của thú vật, và chính vì thế mà Ngài dâng mình trên bàn tiệc Thánh Thể, để được ăn. Một phần lớn về Chúa Giêsu, Ngài hướng đến việc bị thế giới nuốt chửng, cụ thể là liều để mình yếu đuối còn hơn là an toàn, thà tin tưởng còn hơn là thủ thế. Trọng tâm của Tin Mừng có lời kêu gọi hãy liều mình vượt ra khỏi sự thủ thế và hấp thụ chỉ trích bất công mà không chống cự: “Xin Cha tha thứ cho họ, vì họ không biết việc họ làm”.

Giáo hội phải trao mình làm của ăn cho thế giới. Như mọi sinh vật sống đôi khi cần phải bảo vệ mình, nhưng không bao giờ đánh đổi điều đó với chính lý do mà nó tồn tại.

Ngôn sứ thầm lặng

Cương vị môn đệ kitô kêu gọi tất cả chúng ta phải mang tính ngôn sứ, là người bênh vực cho công lý, là tiếng nói cho người nghèo và bảo vệ sự thật. Nhưng không phải tất cả chúng ta, theo bản chất hay có ơn gọi đặc biệt để không tuân hành luật dân sự, đi tuần hành biểu tình, dẫn đầu các vụ đình công như các nhân vật Dorothy Day, Martin Luther King, Daniel Berrigan và những nhân vật mang chiều kích ngôn sứ khác. Tất cả chúng ta đều được kêu gọi làm ngôn sứ, nhưng với một số người, điều này chỉ có nghĩa là dùng chậu nước cái khăn để rửa chân cho người khác hơn là giương cao biểu ngữ.

Có một phương thức làm ngôn sứ rất mạnh dù có vẻ lặng lẽ và riêng tư, nhưng không bao giờ cá nhân. Và những quy luật của nó cũng giống như quy luật của những người nhân danh Chúa Giêsu đang giương biểu ngữ và biểu tình. Những luật này, những luật của tinh thần ngôn sứ kitô là gì?

Thứ nhất, ngôn sứ là người khấn đức yêu thương chứ không khấn tha hóa. Có một sự phân biệt then chốt giữa việc khuấy động vấn đề và tiên tri bằng tình yêu, một phân biệt giữa hoạt động vì vị kỉ và hoạt động vì đức tin và đức cậy. Một ngôn sứ chấp nhận bị hiểu lầm, nhưng không bao giờ tạo hiểu lầm, một ngôn sứ luôn đi tìm một trái tim dịu dàng chứ không tìm trái tim giận dữ.

Thứ hai, công lao của người ngôn sứ là từ Chúa Giêsu chứ không từ ý thức hệ. Các ý thức hệ có thể có nhiều sự thật và có thể dùng để bênh vực chân thành cho công lý. Nhưng người dân có thể tránh xa ý thức hệ, khi thấy nó chính xác là ý thức hệ, một kiểu chuẩn mực ăn nói cho hợp lý và từ đó biện hộ cho việc họ bác bỏ sự thật mà ý thức hệ này đưa ra. Những người chân thật thường tránh xa các tổ chức như Hòa bình xanh, Nữ quyền, Thần học giải phóng, Thuyết Chủng tộc phê phán và nhiều ý thức hệ khác vốn thật sự bao gồm nhiều sự thật, lý do chỉ vì các sự thật này bị gom trong một ý thức hệ. Những người chân thật sẽ không rời xa Chúa Giêsu. Trong cuộc đấu tranh vì công lý và sự thật, chúng ta phải luôn cảnh giác một chuyện là sự thật của chúng ta được rút ra từ Phúc âm chứ không từ một ý thức hệ nào.

Thứ ba, ngôn sứ thì cam kết phi bạo lực. Theo linh mục Dòng Tên Daniel Berrigan, một ngôn sứ luôn tìm cách bỏ khí giới của bản thân thay vì dùng vũ khí, để trở thành kẻ tội phạm bất lực ở thời mà quyền lực là tội phạm. Một ngôn sứ xem trọng lời Chúa Giêsu khi họ xin chúng ta, ai tát má này thì chìa má kia. Một ngôn sứ là hiện thân của cách sống theo chân lý cánh chung, trên thiên đàng sẽ không có súng ống.

Thứ tư, ngôn sứ ở phía tiếng nói Thiên Chúa, cho người nghèo và cho địa cầu. Bất kỳ việc giảng dạy hay hành động chính trị nào không đem lại điều tốt cho người nghèo thì không phải là Phúc âm của Chúa Giêsu Kitô. Chúa Giêsu đến để đem tin mừng cho người nghèo, cho “cô nhi, góa phụ và khách lạ” (quy tắc trong Kinh thánh để xác định những người dễ bị tổn thương nhất trong xã hội). Mục sư Forbes đã nói câu nói lừng danh: ‘Không ai lên thiên đàng mà không có thư giới thiệu của người nghèo.’ Chúng ta không buộc phải tương ứng với Giáo hội.

Thứ năm, ngôn sứ không tiên đoán tương lai nhưng gọi tên hiện tại theo tầm nhìn của Thiên Chúa. Một ngôn sứ tìm hiểu xem ngón tay Thiên Chúa chỉ vào đâu trong cuộc sống hàng ngày, để cho thấy sự trung tín hay bất tín của chúng ta với Thiên Chúa, cũng như để cho thấy tương lai của chúng ta trong kế hoạch mà Thiên Chúa dành cho chúng ta. Đó là thách thức của Chúa Giêsu khi Ngài bảo chúng ta hãy đọc dấu chỉ của thời đại.

Thứ sáu, ngôn sứ lên tiếng từ đức cậy. Ngôn sứ không dựa trên tầm nhìn và năng lực từ mơ tưởng hay tinh thần lạc quan, nhưng là từ đức cậy. Đức cậy kitô giáo không dựa trên tình hình thế giới hôm nay tốt hay xấu. Đức cậy kitô giáo dựa trên lời hứa của Thiên Chúa, lời hứa được ứng nghiệm trong sự phục sinh của Chúa Giêsu, bảo đảm với chúng ta, chúng ta có thể phó mình cho đức mến, chân lý và công chính, kể cả khi thế giới giết chúng ta vì thế. Tảng đá chắn ngôi mộ rồi sẽ được lăn ra.

Thứ bảy, tâm hồn và chính nghĩa của ngôn sứ không bao giờ biệt lập. Chúa Giêsu quả quyết với chúng ta: trong nhà Ngài có nhiều chỗ. Tính ngôn sứ kitô giáo phải bảo đảm, không ai hay nhóm nào có thể biến Thiên Chúa thành thượng đế của riêng nhóm mình hay quốc gia mình. Thiên Chúa bình đẳng đối với tất cả mọi dân, mọi nước.

Cuối cùng, ngôn sứ không chỉ lên tiếng hay nói về bất công, mà còn có thể hành động và hành động một cách can trường, dù phải hy sinh mạng sống. Ngôn sứ là người khôn ngoan, những là người hành động, dù phải mất bạn bè, mất danh vọng, mất tự do hay thậm chí mất mạng sống. Một ngôn sứ có đủ tình yêu vị tha, hy vọng và can trường hành động, bất chấp tất cả. Một ngôn sứ không bao giờ cố tìm cách tử đạo, nhưng nếu phải, thì họ chấp nhận.

Tôi nghĩ điểm cuối cùng này là điểm thách thức nhất với các ngôn sứ “thầm lặng”. Những người minh triết không nổi tiếng, không dẫn đầu biểu tình, nhưng đó cũng chính là thách thức. Một ngôn sứ có thể phân định lúc nào bỏ tấm biểu ngữ xuống và lấy chậu nước cái khăn ra để rửa chân, lúc nào bỏ chậu nước cái khăn xuống để cầm tấm biểu ngữ giương lên.

Về sự ngây thơ, thuần khiết và khiết tịnh

Trong nghi thức rửa tội Kitô giáo có một nghi thức nhỏ vừa cảm động vừa siêu thực. Là lúc em bé được mặc áo trắng tượng trưng cho sự ngây thơ và thuần khiết. Linh mục hay thừa tác viên sẽ nói những lời này: “Hãy nhận lấy tấm áo trắng này và giữ nó tinh tuyền trước ngai phán xét của Chúa Giêsu Kitô”.

Dù những lời này thật cảm động, nhưng chúng ta không thể không nghĩ rằng điều này thật bất khả thi, trừ phi đứa bé chết từ khi còn nhỏ. Chắc chắn tấm áo trắng của chúng ta sẽ phải dính vài vết nhơ. Và nó sẽ đến trong tuổi trưởng thành. Chẳng ai đi qua cuộc đời mà không đánh mất sự ngây thơ của một đứa trẻ.

Nhưng dù là thế, sự ngây thơ vẫn là một lý tưởng cần được nuôi dưỡng và phục hồi liên tục. Và điều này càng cần được bảo vệ trong thời nay, vì sự ngây thơ và những phẩm chất đi kèm của nó là sự thuần khiết và khiết tịnh đang gặp khó khăn trong một thế giới có khuynh hướng đánh giá cao sự tinh tế hơn tất cả và thường xem ngây thơ là ngờ nghệch và giả vờ.

Chuyện này có một lịch sử khá dài. Trong nhiều thế kỷ, các giáo hội xem ngây thơ, thuần khiết và khiết tịnh là những nhân đức nổi trội trong nề nếp kitô giáo và cuộc sống. Tuy nhiên, từ thế kỷ 17 trở đi, các nhà tư tưởng lớn đã cố lật ngược điều này, cho rằng những nhân đức này thật ra là phản nhân đức. Với họ, ngây thơ, thuần khiết và khiết tịnh là những lý tưởng đánh tráo, những ảo tượng của sự rụt rè, những triệu chứng của một thù địch vô thức đối với cuộc đời. Chẳng hạn triết gia Nietzsche đã viết: “Giáo hội đấu tranh với những đam mê bằng cách cắt bỏ nó đi, việc thực hành và phép chữa của nó chỉ là một kiểu thiến hoạn”. Freud thì cho rằng trong những quan niệm về ngây thơ, thuần khiết và khiết tịnh có nhiều dấu vết của sự ái kỷ, ngông cuồng và ảo tưởng bất khả chiến bại. Theo những tư tưởng gia thời đại Ánh sáng này, khi lý tưởng hóa sự ngây thơ, thuần khiết và khiết tịnh, nhân loại đồng ý biến mình thành bất hạnh khi phương thuốc thanh tẩy tâm hồn cũng đưa vào những độc chất tinh thần như tự thị, kiêu ngạo, và lãnh đạm, một thứ còn ghê gớm hơn dục vọng xa.

Văn hóa chúng ta, trừ một vài người phê bình gay gắt, về căn bản tin vào lập luận này. Dĩ nhiên có những ngoại lệ nổi bật trong các giáo hội chúng ta, nhưng trong tâm thức của nền văn hóa, sự ngây thơ, thuần khiết và khiết tịnh bị đánh đồng với dè dặt, ngây ngô và trào lưu chính thống.

Như vậy, chuyện sẽ thế nào đây? Thật sự không chắc chắn lắm.

Những người bảo thủ, với những ngụy trang của họ, có khuynh hướng sợ phá vỡ điều cấm kỵ, nhất là những chuyện liên quan đến ngây thơ, thuần khiết và khiết tịnh. Chuyện này có ý định lành mạnh. Đây chính là suy nghĩ của nhà văn J.D. Salinger (Bắt trẻ đồng xanh) khi nhìn vào những đứa trẻ ngây thơ chơi đùa và ước gì chúng không bao giờ trưởng thành mà luôn mãi ngây thơ và vui vẻ. Những người bảo thủ sợ bất kỳ dạng tinh tế nào gây hủy hoại sự ngây thơ. Như thế là có ý tốt, nhưng phi thực tế. Chúng ta cần trưởng thành và trưởng thành đi kèm với sự phức tạp, tinh tế, lộn xộn và những vết nhơ trên chiếc áo trắng rửa tội. Thiên Chúa không định cho chúng ta làm trẻ em ngây thơ chơi đùa trên đồng xanh mãi.

Những người theo chủ nghĩa tự do lại có một lớp ngụy trang khác, nhưng cũng chật vật (tương đương dù theo cách khác) đối với sự ngây thơ, thuần khiết và khiết tịnh. Họ ít sợ phá vỡ điều cấm kỵ hơn. Với họ, các giới hạn là để mở rộng và hầu hết là để phá vỡ, như thế, sự ngây thơ là một giai đoạn mà chúng ta sẽ vượt qua và bỏ lại sau lưng (như tin vào Ông già Noel). Thật vậy, với người theo chủ nghĩa tự do, hiện thực hóa bản thân bắt đầu bằng việc làm chủ sự phức tạp của mình, nhận ra sự thần thánh của nó và chấp nhận rằng mất đi sự ngây thơ và có được sự phức tạp chính là thứ mở ra cho chúng ta một ý nghĩa thâm sâu hơn. Kinh nghiệm đem lại kiến thức. Khi Adam và Eva ăn trái cấm, mắt họ mở ra chứ không đóng lại. Với người theo chủ nghĩa tự do, sự ngây thơ không phải là đức tính, sự tinh tế mới là đức tính. Sự ngây thơ bị xem là phi thực tế, sự thuần khiết bị xem là rụt rè về tình dục và sự khiết tịnh là trào lưu tôn giáo chính thống cực đoan.

Cả hai quan điểm bảo thủ và tự do, đều đưa ra những cảnh báo lành mạnh. Lời cảnh báo của bảo thủ có thể giúp chúng ta tránh những hành vi tự hoại, còn lời cảnh báo của tự do thì mời gọi chúng ta đừng sợ hãi, cứu chúng ta khỏi sự dè dặt và ngây ngô không lành mạnh. Tuy nhiên, chúng ta phải học hỏi lẫn nhau. Những người bảo thủ cần học biết rằng Thiên Chúa không dự định cho chúng ta tôn sùng sự ngây thơ và ngây ngô của một đứa trẻ. Chúng ta phải học hỏi, phải trưởng thành, phải tinh tế hóa. Nhưng những người theo chủ nghĩa tự do cần biết rằng sự tinh vi, cũng như sự ngây thơ, tự nó không phải là cùng đích, mà là một giai đoạn để con người vượt qua.

Triết gia lừng danh Paul Ricoeur có nói một điều, sự trưởng thành cuối cùng phải trải qua các giai đoạn. Chúng ta phải đi từ sự ngây ngô của đứa bé, rồi mất đi sự ngây thơ, trở nên rối rắm và thường là tinh tế yếm thế của tuổi trưởng thành, và hướng đến “sự ngây ngô thứ hai”, sự hậu-tinh tế, sự ngây thơ lần nữa, trở nên như con trẻ chứ không phải ấu trĩ, đơn thuần chứ không phải là đơn giản.

Trong sự ngây ngô lần nữa này, chiếc áo trắng rửa tội của chúng ta sẽ lại không tì vết, được giặt sạch trong máu của sự ngây thơ mới.

Chính thống quảng đại

Có một câu nói được cho là của Attila the Hun, nhà cai trị khét tiếng vì sự tàn bạo vào thế kỷ thứ 5, nó như thế này: Để tôi được hạnh phúc, thành công hay không không quan trọng, quan trọng là tất cả mọi người khác thất bại. Tôi không dám chắc Attila the Hun là người nói câu này, nhưng dù sao đi nữa, câu này có một bài học để chúng ta rút ra.

Các sách Phúc âm nói rằng lòng thương xót của Thiên Chúa là vô hạn và không điều kiện, rằng Thiên Chúa không thiên vị, Ngài mong muốn cho tất cả mọi người đều được hạnh phúc và ơn cứu rỗi, và Thiên Chúa không phân phát ơn Thánh Linh theo khẩu phần. Nếu đúng là thế, thì chúng ta cần tự hỏi mình tại sao chúng ta lại quá thường xuyên có khuynh hướng ngăn giữ Thánh Linh Thiên Chúa đến với người khác trong những phán xét của mình, nhất là những phán xét về mặt tôn giáo. Chúng ta không thấy được sự thật rằng trong chúng ta có chút gì đó của Attila the Hun.

Ví dụ như, chúng ta thiên về lối nghĩ này đến mức nào? Để tôn giáo của tôi xác thực, điều quan trọng là các tôn giáo khác phải không xác thực! Để giáo phái kitô giáo của tôi trung thành với Đức Kitô, điều quan trọng là mọi phái khác phải ít trung thành hơn. Để Phép Thánh Thể trong phái của tôi có giá trị, điều quan trọng là Phép Thánh Thể trong các phái khác vô giá trị hoặc ít giá trị hơn. Và vì tôi sống với một tinh thần thành tín liên tục trong đức tin và đời sống đạo đức, điều quan trọng là mọi người khác không sống thành tín như tôi thì không được lên thiên đàng hoặc phải ở hàng kém hơn trong thiên đàng.

Chúng ta không phải là những môn đệ đầu tiên của Chúa nghĩ theo cách này và bị Chúa Giêsu chất vấn về tâm thức theo kiểu Attila the Hun này. Thật sự, đây là phần chính trong bài học của dụ ngôn người chủ vườn quá sức rộng rãi đã trả công cho mọi người như nhau dù họ làm ít hay nhiều.

Chúng ta tất cả đều biết câu chuyện này. Một sáng nọ, người chủ vườn ra chợ và thuê người về làm vườn cho mình. Sáng sớm, ông thuê vài người, đến trưa, ông thuê vài người, khoảng giữa giờ chiều, ông thuê vài người chỉ đến làm mấy tiếng. Rồi ông trả công cho họ hậu hĩnh như nhau. Có thể hiểu được khi những người làm việc cả ngày phẫn uất, buồn bực (mặc dù họ đã được trả công hậu hĩnh), họ cảm thấy thật bất công khi những người làm ít hơn nhiều cũng nhận được thù lao hậu hĩnh như họ. Ông chủ trả lời những người phàn nàn này, “Bạn à, tôi đâu có bất công với bạn. Bạn thấy khoản lương này không ổn sao? Vì sao bạn ghen tị vì tôi hào phóng?” (Matthew 20, 1-16)

Hãy để ý rằng Chúa Giêsu gọi người phàn nàn là “bạn”. Câu trả lời đó hướng đến chúng ta, những người trung thành làm việc cả ngày dài. Hãy để ý đến tông giọng nồng ấm và dịu dàng đó. Nhưng lời thách thức thì không nồng ấm và dịu dàng như vậy: Tại sao bạn ghen tị vì Thiên Chúa quá đỗi hào phóng? Tại sao với chúng ta, điều quá quan trọng là khi chúng ta làm đúng thì Thiên Chúa phải gay gắt với những người không như chúng ta? Nói thật, đôi khi tôi hình dung mình, sau khi sống cuộc đời độc thân khiết tịnh, vào thiên đàng và gặp những dân chơi khét tiếng nhất đời, rồi tôi hỏi Chúa, “Làm sao anh ta vào đây được?” và Chúa trả lời, “Bạn à, thiên đàng không tuyệt diệu sao! Bạn ghen tị vì tôi hào phóng sao?” Ai mà biết được, có khi chúng ta gặp Attila the Hun ở đó cũng nên.

Một trong những giá trị cốt lõi của một nhóm Quakers là đôi khi gọi mình là chính thống quảng đại. Tôi thích sự kết hợp của hai từ này. Quảng đại nghĩa là cởi mở, hiếu khách, cảm thương, bao dung, và hy sinh phần nào của mình cho người khác. Còn chính thống là những chân lý bất di bất dịch, là giữ những giới hạn chuẩn mực, là trung tín với những gì mình tin, và không thỏa hiệp chân lý để tỏ ra tử tế. Hai điều này thường bị xem là đối lập nhau, nhưng chúng đáng ra phải đứng cạnh nhau. Giữ lập trường chân lý của mình, giữ các giới hạn chuẩn mực của mình, và không chịu thỏa hiệp bất kỳ nguy cơ nào tỏ ra mình không tử tế lắm, đó là một nửa công thức, nhưng công thức trọn vẹn đòi hỏi chúng ta cũng cần phải tôn trọng và tử tế với đức tin, niềm tin và giới hạn của người khác.

Và nó không phải là thuyết hổ lốn không lành mạnh, nếu như người kia nắm giữ chân lý không mâu thuẫn với chân lý mà chúng ta nắm giữ, dù cho nó có thể khác biệt và có lẽ không trọn vẹn theo cách nghĩ của chúng ta.

Do đó, bạn có thể là một tín hữu kitô xác tín rằng kitô giáo là biểu đạt tôn giáo xác thực nhất trên thế giới mà không phán xét rằng các tôn giáo khác là sai. Bạn có thể là người công giáo la mã, tin chắc rằng công giáo la mã là biểu đạt chân thực và trọn vẹn nhất của kitô giáo, tin Phép Thánh Thể của bạn là sự hiện diện đích thực của Chúa Giêsu mà không phán xét rằng các giáo phái kitô giáo khác không phải là biểu đạt giá trị của Chúa Kitô và không có Phép Thánh Thể có giá trị. Chuyện đó không có gì mâu thuẫn cả.

Bạn có thể đúng, mà không cần tùy thuộc vào chuyện mọi người khác đều sai!

Tuyệt vọng thật sự là gì?

Trong vở nhạc kịch Những người khốn khổ, có một bài hát làm ám ảnh được nhân vật Fantine, người phụ nữ hấp hối hát lên, cô bị vùi dập bởi gần như mọi thứ bất công có thể có trên đời. Bị chồng bỏ rơi, bị chủ quấy rối, rơi vào cảnh bần cùng, bệnh tật và hấp hối, thế mà chuyện làm cô lo lắng nhất là số phận của con gái sau khi cô qua đời. Cô hát lên bài hát ai oán này. Và tôi nghĩ rằng, lời hát này khá quen thuộc với nhiều người trong chúng ta.

Nhưng có những giấc mơ không thể thành
Có những cơn bão không thể vượt qua
Tôi có một giấc mơ về đời mình
Nó quá khác với địa ngục tôi đang sống
Nó quá khác bây giờ
Cuộc đời đã giết đi
Giấc mơ tôi từng mơ

Gần đây, khi thực hiện bài phỏng vấn về chuyện tự tử, có người hỏi tôi, rằng liệu tôi có xem tự tử là hành động của tuyệt vọng không. Tôi trả lời rằng không, ít nhất là với hầu hết vụ tự tử, rồi nêu ngược lại câu hỏi này: Tuyệt vọng thật sự là gì? Tuyệt vọng nghĩa là gì?

Từ tuyệt vọng có gốc từ la-tinh nghĩa là “không có hy vọng”. Từ điển thường định nghĩa tuyệt vọng là động từ, nghĩa là hành động từ bỏ hy vọng hoặc nản lòng trước hoàn cảnh khó khăn. Tôi không có vấn đề gì với định nghĩa đó. Nhưng cái mà tôi thấy có vấn đề và cần được xem xét triệt để là cách hiểu chuyện này trong cả Giáo hội và xã hội, cụ thể là xem nó như thất bại tận cùng về đạo đức và tôn giáo, là tội tận cùng chống lại Thiên Chúa và bản thân. Tuyệt vọng thường được hiểu là tội không thể tha thứ, là tình trạng chết tồi tệ nhất. Nói tóm lại, tuyệt vọng được hiểu là việc tệ nhất mà người ta có thể làm.

Tôi tin chúng ta cần xem lại chuyện này, cả về cách hiểu tình trạng con người chúng ta và nhất là cách chúng ta hiểu Thiên Chúa. Khi có người bị tan nát tinh thần do hoàn cảnh, sự bất công, tàn bạo, bệnh tật, đau đớn, tai nạn, hoặc bởi tội lỗi của người khác đến nỗi họ không thể nào tìm ra bất kỳ hạt giống hy vọng nào trong bản thân, vậy đó có phải là lựa chọn đạo đức không? Đây có phải là thất bại đạo đức không? Đây có thật sự là tội tồi tệ nhất, sự phạm thượng không thể tha thứ nhất hay không? Đáng buồn thay, chúng ta thường nghĩ như vậy.

Có một câu ngạn ngữ rằng, Chúa không bao giờ cho chúng ta điều chúng ta không chịu đựng nổi. Tôi đồng ý thế. Chúa không bao giờ cho chúng ta điều chúng ta không chịu nổi, nhưng hoàn cảnh, tai nạn, áp bức và tự nhiên đôi khi lại làm thế. Có một đoạn đả phá quan niệm sai lầm trong quyển sách của bà Kate Bowler, Mọi chuyện đều có lý do: Lại một lời dối trá tôi thích (Everything Happens For a Reason: And Other Lies I’ve Loved). Chúng ta phải cẩn thận về cách hiểu những diễn đạt mộ đạo chẳng hạn như “Chúa không bao giờ cho chúng ta điều chúng ta không chịu nổi”.

Thánh vịnh nói rằng Thiên Chúa đặc biệt gần gũi với những ai có tâm hồn tan nát và Ngài sẽ cứu rỗi họ. Chúa Giêsu đã đưa điều này thành tâm điểm trong giáo huấn và mục vụ của Ngài. Chúa Giêsu không chỉ đặc biệt yêu thương những ai có tâm hồn tan nát, mà Ngài còn đồng nhất với sự tan nát của họ (Thánh Mátthêu) và cam đoan với chúng ta rằng họ sẽ vào nước trời trước những người giàu, người quyền thế. Với Chúa, người tan nát là những người mà Thiên Chúa đặc biệt yêu thương.

Với sự thật đó, chúng ta thật sự tin rằng Thiên Chúa sẽ đẩy những người chết với tấm lòng tan nát và dường như không còn chút hy vọng, vào địa ngục sao? Chúng ta thật sự tin rằng Thiên Chúa sẽ đẩy Fantine vào địa ngục sao? Thiên Chúa nào lại làm như thế? Thiên Chúa nào lại nhìn một con người quá tan nát đến nỗi mất hết mọi hy vọng rồi xem đó là sự xúc phạm tận cùng với tình yêu và lòng thương xót của Ngài? Thiên Chúa nào lại nhìn một người tan nát tâm hồn rồi xem đó là sự xúc phạm đến tình trạng con người? Chắc chắn đó không phải là Thiên Chúa mà Chúa Giêsu dạy chúng ta tin.

Và cũng như thế, khi chúng ta nhìn điều này từ góc nhìn của sự thông hiểu và cảm thương nhân văn. Con người nào lại nhìn sự tan nát của người khác và xem đó là tội lỗi nặng nề, là sự phạm thượng chứ? Con người nào lại chê trách về đạo đức một người đã gặp phải vô số hoàn cảnh bi thương, chết chìm giữa biển thất vọng, đau đớn và những giấc mơ tan vỡ chứ? Con người nào xem Những người khốn khổ mà lại nghĩ có thể Fantine sẽ vào địa ngục chứ?

Trong phúc âm theo thánh Mác-cô, ngay trước khi trút hơi thở cuối cùng trên thập giá, Chúa Giêsu đã kêu lên, “Lạy Chúa, sao Chúa bỏ con?” Rồi Ngài trút linh hồn vào tay Chúa Cha. Trong hiểu biết kinh điển về đoạn này, chúng ta thường diễn giải: Chúa Giêsu bị cám dỗ rơi vào tuyệt vọng, nhưng Ngài đã chiến đấu để chống cự, và thay vào đó, với lòng hy vọng, Ngài phó mình cho lòng thương xót Thiên Chúa. Tôi nghĩ rằng, xét tận cùng đây chính là điều mà hầu hết những người mà chúng ta nghĩ là chết khi họ đã từ bỏ hy vọng, cụ thể là họ bị tan nát tinh thần, họ quy phục trước điều họ không rõ, là vòng ôm của Thiên Chúa.

Chúng ta cần thông hiểu hơn nhiều khi phán xét về sự tuyệt vọng. Bởi vì có những cơn bão không thể vượt qua!

Đấu tranh để khai sinh hy vọng

Sau khi sống lại, Chúa Giêsu hiện ra đầu tiên với các phụ nữ. Tại sao lại thế? Một lý do rõ ràng có lẽ là vì chính những phụ nữ này đã đi theo Ngài trong hành trình thương khó ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, trong khi đa phần những người đàn ông khác lại bỏ rơi Ngài. Còn nữa, những phụ nữ này lên đường đến mộ Chúa vào tảng sáng ngày Phục Sinh với ý định xức dầu thơm cho xác chết, nên họ là những người ở trong vườn đầu tiên khi Ngài xuất hiện. Nhưng tôi tin rằng, còn có một lý do mang tính biểu tượng và sâu sắc hơn nữa. Những phụ nữ này là các bà đỡ. Thường thì phụ nữ góp phần trong việc sinh hạ và là những người tinh thông nhất về việc dưỡng nuôi sinh linh mới.

Bà đỡ là sự giúp đỡ thiết thực trong bất kỳ việc sinh hạ nào. Khi một đứa trẻ ra đời, thường là đầu sẽ ra trước, mở đường cho cơ thể ra sau. Trong thời điểm này, rất cần một bà đỡ giỏi, giúp thuận tiện hóa việc sinh nở và bảo đảm đứa bé bắt đầu thở, đồng thời giúp bà mẹ bắt đầu cung cấp dưỡng chất cho sinh linh mới ngay lập tức. Đôi khi, bà đỡ là mấu chốt định đoạt giữa sống và chết, và bà luôn giúp cho việc sinh nở thuận tiện hơn và lành mạnh hơn.

Sự tái sinh của Chúa Giêsu khai sinh ra sự sống mới cho thế gian, và trong thời điểm ban đầu đó, sự sống này phải được hỗ trợ nhờ các bà đỡ, cả về tính khẩn cấp của tình huống lẫn những hơi thở đầu tiên trong thế gian này. Sự tái sinh đã khai sinh nhiều thứ, và chúng cần có bà đỡ, ban đầu là nhờ những phụ nữ được Chúa Giêsu hiện ra đầu tiên, rồi đến các tông đồ đã kể lại cho chúng ta lời chứng thấy tận mắt của họ, rồi đến giáo hội tiên khởi, nhờ các bậc tử đạo, nhờ đời sống đức tin của vô số người qua nhiều thế kỷ và đôi khi là nhờ các thần học gia và ngòi bút thiêng liêng. Và hiện giờ, chúng ta vẫn cần làm bà đỡ cho điều khai sinh ra từ sự phục sinh.

Và biến cố phục sinh đã khai sinh ra nhiều điều, một biến cố tận căn không khác gì sự tạo dựng nguyên thủy. Sự phục sinh của Chúa Giêsu chính là “ngày đầu tiên” thứ hai, là lần thứ hai ánh sáng chia tách với bóng tối. Thật vậy, thế giới xác định thời gian theo biến cố phục sinh. Chúng ta đang ở năm thứ 2023 kể từ biến cố đó. (Kitô giáo được khai sinh từ biến cố đó. Thời đại mới bắt đầu từ đó. Nhưng các học giả đã tính toán rằng Chúa Giêsu đã 33 tuổi khi Ngài chết, nên họ thêm 33 năm để thời gian được tính từ khi ngài ra đời).

Trong những gì mà sự phục sinh đã khai sinh, một điều nổi bật và vẫn cần được chúng ta làm bà đỡ, chính là hy vọng. Sự phục sinh khai sinh hy vọng. Các phụ nữ lần đầu tiên gặp Chúa Giêsu phục sinh chính là những người đầu tiên được trao cho lý do đích thực để hy vọng và họ là những người đầu tiên làm bà đỡ cho sự khai sinh mới này. Chúng ta cũng phải như thế. Chúng ta cần trở thành bà đỡ cho hy vọng. Nhưng hy vọng là gì, và nó được khai sinh thế nào trong sự phục sinh?

Hy vọng đích thực không bao giờ lẫn lộn với kiểu ý nghĩ mơ tưởng hay kiểu lạc quan nông nổi. Không như hy vọng, ý nghĩ mơ tưởng chẳng hề có căn cứ gì. Nó chỉ là mơ tưởng mà thôi. Còn sự lạc quan thì bắt nguồn từ sự nông nổi tự nhiên (kiểu “Tôi luôn thấy mặt tốt của vấn đề”) hoặc theo bản tin tối mỗi ngày, nhưng chúng ta biết tình hình đó có thể thay đổi hàng ngày. Hy vọng lại có một căn cứ khác hẳn.

Tôi xin đưa ra một ví dụ: Pierre Teilhard de Chardin, nhà khoa học gia đầy đức tin, có một lần trình bày với ý định thể hiện rằng câu chuyện lịch sử cứu độ khớp hoàn toàn với những thấu suốt của khoa học về nguồn gốc vũ trụ và sự tiến hóa. Cha Teilhard lấy ý từ câu 3-10, chương 1, thư gửi Tín hữu Êphêsô mà gợi ý rằng cái kết của toàn bộ tiến trình tiến hóa sẽ là sự hiệp nhất mọi sự trong một bản hòa âm tận cùng trong Đức Kitô. Một đồng nghiệp vô thần đã thách thức cha rằng: Những gì cha đưa ra là một giản đồ lạc quan tuyệt vời. Nhưng nếu như chúng thổi bay thế giới bằng bom nguyên tử thì sao. Lúc đó thì giản đồ lạc quan của cha sẽ thế nào? Cha Teilhard trả lời thế này: Nếu chúng ta thổi bay thế giới bằng bom nguyên tử, thì đó sẽ là một bước lùi, có khi là lùi hàng triệu năm. Nhưng điều mà tôi đưa ra sẽ thành sự, không phải vì tôi ước mơ nó hay vì tôi lạc quan. Nó sẽ thành sự vì Thiên Chúa đã hứa như thế, và trong biến cố phục sinh, Thiên Chúa cho thấy rằng Thiên Chúa có quyền năng để thực hiện lời hứa đó.

Điều mà những phụ nữ gặp Chúa Giêsu đầu tiên đã trải nghiệm chính là hy vọng, dạng hy vọng dựa trên lời hứa của Thiên Chúa sẽ đứng về phía sự thiện trước sự ác, sự sống trước sự chết, bất kể hoàn cảnh, bất chấp chướng ngại, bất kể tình hình, bất chấp cả cái chết và bất chấp chúng ta lạc quan hay bi quan. Họ là những bà đỡ đầu tiên đã giúp khai sinh hy vọng đó. Và bây giờ đó cũng là nhiệm vụ của chính chúng ta.

Ánh sáng Phục Sinh

Địa cầu hai lần chìm trong tối tăm. Một lần là trước thuở tạo dựng, trước khi Thiên Chúa tạo nên ánh sáng. Nhưng sau đó, có một lần còn tối tăm u ám hơn nữa, là vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, giữa giờ sáu và giờ chín, khi con người đóng đinh Thiên Chúa, khi Chúa Giêsu ở trên thập giá kêu lên “Lạy Chúa, lạy Chúa con, sao Ngài bỏ con!” Đó chính là bóng tối tột cùng. Để đáp lại bóng tối đó, Thiên Chúa tạo nên ánh sáng chói lòa hơn hết thảy, là sự phục sinh.

Có điều đáng chú trong cách Kinh Thánh mô tả về sự tạo dựng ánh sáng thuở ban đầu. Kinh Thánh mở đầu thế này: “Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất Đất còn trống rỗng, chưa có hình dạng, bóng tối bao trùm vực thẳm, và thần khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước. Thiên Chúa phán: “Phải có ánh sáng.” Liền có ánh sáng”. Sự kết hợp của hơi thở và lời của Thiên Chúa đã tạo nên ánh sáng đầu tiên. Người cổ đại đồng nhất sự hiện diện của Thiên Chúa với ánh sáng. Với họ, Thiên Chúa là đối lập với mọi sự tối tăm, và biểu tượng cho sự trung tín của Thiên Chúa là cầu vồng, cụ thể là ánh sáng khúc xạ, ánh sáng mở ra để bày tỏ vẻ đẹp siêu phàm nội tại của nó.

Nhưng sự tối tăm đã xuất hiện lần thứ hai. Các Phúc âm nói rằng khi Chúa Giêsu bị treo trên thập giá, dù đang giữa ban ngày, bóng tối bỗng bao trùm khắp mặt đất suốt ba giờ. Chúng ta không biết chính xác đã xảy ra chuyện gì về mặt lịch sử. Cả địa cầu chìm vào bóng tối sao? Có lẽ. Xét tận cùng, địa cầu đã đóng đinh Thiên Chúa, mà Thiên Chúa là sự sáng! Bất chấp chúng ta nghĩ về chuyện này theo nghĩa đen hay không, thì những gì xảy ra vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh đó đã khơi dậy một dạng tối tăm, một sự tối tăm về tinh thần, sự tối tăm của thiếu vắng Thiên Chúa, sự tối tăm của thù hận, hoang tưởng, sợ hãi, tôn giáo lầm lạc, bạo tàn, ngẫu tượng, hệ tư tưởng và bạo lực. Đây là sự tối tăm tột cùng.

Thiên Chúa đã phản ứng thế nào với nó? Phản ứng của Thiên Chúa trước sự tối tăm trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh là Ngài phán một lần nữa, “Hãy có ánh sáng!” Sự phục sinh của Chúa Giêsu chính là ánh sáng mới đó, ánh sáng đến cuối cùng sẽ che mờ mọi ánh sáng khác.

Có một điều đáng chú ý khi so sánh cách Kinh Thánh mô tả việc Thiên Chúa tạo nên ánh sáng phục sinh mới và ánh sáng thuở tạo dựng ban đầu. Phúc âm theo thánh Gioan đã có một đoạn rất khai mở tuyệt vời mô tả lần đầu tiên Chúa Giêsu xuất hiện với mọi người sau khi Ngài sống lại. Vào đêm ngày phục sinh, các môn đệ (đại diện cho Giáo hội) đang tụ họp trong căn phòng đóng kín cửa vì họ sợ. Chúa Giêsu đến với họ, đi xuyên qua những cánh cửa bị khóa và đứng giữa những con người đang co lại vì sợ hãi mà nói với họ, “Bình an cho các con!” Rồi Ngài thổi hơi vào họ mà nói: “Hãy nhận lấy Thần Khí”.

Chúng ta có thể thấy sự tương đồng với sự tạo nên ánh sáng thuở ban đầu. Với tác giả Phúc âm, sự lẩn trốn sợ hãi sau những cánh cửa khóa chặt chính là bóng tối của Thứ Sáu Tuần Thánh, một dạng “trống rỗng vô hình vô dạng” về tinh thần. Và Chúa Giêsu đem lại ánh sáng cho sự tối tăm đó, cũng hệt như cách ánh sáng xuất hiện vào thuở ban đầu, qua lời và hơi thở của Thiên Chúa. Những lời của Chúa Giêsu “Bình an cho các con!” chính là cách Chúa Giêsu nói “Hãy có ánh sáng!” Rồi, cũng như trong sự tạo dựng thuở ban đầu, hơi thở của Thiên Chúa bắt đầu đưa sự hỗn mang vào trật tự, thì hơi thở của Chúa Giêsu, Thần Khí, bắt đầu đem lại trật tự cho sự hỗn loạn tinh thần, liên tục biến bóng tối thành ánh sáng, thù hận thành yêu thương, cay đắng thành trìu mến, sợ hãi thành tin tưởng, tôn giáo lầm lạc thành sự tôn thờ đích thực, hệ tư tưởng thành chân lý, và sự báo thù thành sự tha thứ.

Ánh sáng chói lòa mới mà Chúa Giêsu đem đến cho thế gian trong biến cố phục sinh cũng là một trong những điều mà lời tuyên tín Kitô giáo nhắc đến rằng “xuống ngục tổ tông”. Điều này nghĩa là gì? Ngài xuống ngục nào? Nói đơn giản, ánh sáng mới của sự phục sinh (không như ánh sáng tự nhiên có thể bị chặn lại) có thể đi xuyên qua mọi cánh cửa khóa chặt, mọi lối đi bị đóng kín, mọi căn phòng không thể xuyên thấu, mọi nhóm người thù hận, mọi trầm cảm tự tử, mọi giận giữ làm tê liệt, mọi dạng tối tăm của tâm hồn và thậm chí là xuyên qua cả tội lỗi, và phả luồng hơi của sự bình an. Ánh sáng này có thể xuyên thấu cả địa ngục.

Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh là một chuyện không hay trong tâm thức nhiều người trong một thời gian dài. Chúng ta đã đóng đinh Thiên Chúa và đẩy thế giới vào tối tăm ngay giữa chính ngọ. Nhưng Thiên Chúa đã lần thứ hai tạo nên ánh sáng, một ánh sáng không thể bị dập tắt kể cả khi chúng ta đóng đinh Thiên Chúa, mà thật sự chúng ta vẫn chưa hề ngừng việc đó! Thứ Sáu Tuần Thánh vẫn đang diễn ra hằng ngày. Nhưng trên cả kiểu ý nghĩ mơ ước và sự lạc quan tự nhiên, chúng ta đang sống trong hy vọng vì bây giờ chúng ta biết phản ứng của Thiên Chúa với bất kỳ dạng tối tăm tinh thần nào, Thiên Chúa có thể tạo nên sự phục sinh, ánh sáng mới, sự sống sau khi chết.

Nhà thần nghiệm Julian thành Norwich gói gọn tất cả trong câu này: “Đến cuối cùng, tất cả sẽ tốt đẹp, và tất cả sẽ tốt đẹp, và mọi hiện sinh sẽ tốt đẹp”. Và nhà văn Oscar Wilde thêm rằng, “Nếu chưa tốt đẹp, thì chưa phải là cuối cùng”. Sự phục sinh của Chúa Giêsu đã đem lại ánh sáng mới vào thế gian, một ánh sáng công bố rằng ánh sáng vẫn chiến thắng bóng tối, tình yêu chiến thắng thù hận, trật tự chiến thắng hỗn loạn và thiên đàng chiến thắng địa ngục.

Chọn lựa cơn bão cho mình

“Chúng ta chỉ sống, chỉ ngạc nhiên, bị nuốt trọn trong ngọn lửa hoặc ngọn lửa”.

T.S. Eliot đã viết dòng này, và gợi ý rằng lựa chọn của chúng ta trong đời này không phải là giữa bình yên và cơn bão, mà là cơn bão này hay cơn bão kia.

Dĩ nhiên ông nói đúng, nhưng đôi khi cần thay đổi phép ẩn dụ này: Chúng ta sống trong một thế giới kẹt giữa hai vị thần rất mạnh và rất khác biệt, là hỗn loạn và trật tự.

Hỗn loạn là thần của lửa, sinh sôi, liều lĩnh, sáng tạo, đổi mới hoặc buông bỏ. Hỗn loạn là thần của sự hoang dại, đem đến sự hỗn loạn và rối ren. Hầu hết nghệ sĩ thờ phụng thần này. Hỗn loạn còn là thần của sự thao thức, bồn chồn và tan rã. Thật vậy, hỗn loạn hoạt động bằng sự tan rã những gì ổn định. Hỗn loạn thường được những người người có tâm thức tự do tôn thờ.

Trật tự là thần của nước, của sự thận trọng, thanh tẩy, thường thức, ổn định và bám víu. Trật tự là thần của quy tắc, thích hệ thống và một mái nhà không dột. Trật tự thường được những người có tâm thức bảo thủ tôn thờ. Ít nghệ sĩ hướng về trật tự, nhưng thế giới kinh doanh và giáo hội đã bù đắp quá đủ cho phần này. Nhìn chung, trật tự là thần của họ. Trật tự cũng có thể là thần của sự tẻ nhạt, dè dặt và khắt khe. Với trật tự, ta không bao giờ bị tan rã, nhưng có lẽ sẽ thấy ngột ngạt. Tuy nhiên, dù không đem lại nhiều sự phấn khích, thần trật tự giữ cho nhiều người được tỉnh trí và sống.

Hỗn loạn và trật tự, lửa và nước, không ưa nhau lắm. Tuy nhiên, cả hai đều yêu cầu ta phải tôn thờ. Thật không may, như mọi thần linh phiến diện, cả hai đều muốn chiếm lấy tất cả chúng ta, nhưng nếu chúng ta chịu quy phục như thế thì rất nguy hiểm.

Trung thành với một trong hai một cách tuyệt đối, thường dẫn đến sự tự diệt. Khi hỗn loạn nắm quyền và không có trật tự kiểm soát, thì sự tan rã về tinh thần và tình cảm sớm bao trùm lên ta một bóng tối thường không thể nào vượt qua nổi. Và đó chính là ý nghĩa của tan rã. Ngược lại, khi trật tự hoàn toàn triệt tiêu hỗn loạn, trở nên một nhân đức tự diệt đóng giả làm Thượng đế, thì nó hút cạn sức sống của hân hoan và khả thể.

Tôn thờ chỉ một trong hai là rất nguy hiểm. Cả hai đều cần thiết. Linh hồn, giáo hội, đời sống thực tế, cơ cấu xã hội và cả tình yêu đều đến sự hòa trộn của cả hai, cả lửa và nước, cả hỗn loạn và trật tự. Quá nhiều lửa thì sẽ cháy, sẽ tan rã. Quá nhiều nước và chẳng có gì đổi thay, thì sự nhẫn tâm ngự trị. Quá nhiều buông bỏ thì sự siêu phàm của tình yêu trở nên rẻ rúng, quá nhiều dè dặt thì tình yêu chỉ còn là thứ khô khan héo hắt. Không, cả hai đều cần thiết, cả trong đời sống thực tế, trong đời sống tình yêu, trong giáo hội, luân lý, kinh doanh và chính phủ. Liều lĩnh và thận trọng, nhạc rock và nhạc bình ca, cả hai đều chứa đựng tiếng thì thầm của Thiên Chúa. Không phải tình cờ mà chúng ta kẹt giữa hai thứ này.

Và đây cũng không có gì là bất ngờ, vì Thiên Chúa, Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô, là Thiên Chúa của cả hai, cả lửa và nước, cả hỗn loạn và trật tự, cả tự do và bảo thủ, cả tình yêu trong trắng và hoang đàng. Thiên Chúa là điểm quy chiếu và cũng là nguyên tắc cho sự đổi mới, tươi mới và hồi sinh.

Thánh Tôma Aquinô từng định nghĩa tâm hồn con người là cấu thành từ hai nguyên tắc, nguyên tắc của sinh lựcvà nguyên tắc của sự dung hợp. Một nguyên tắc giữ cho chúng ta sống và nguyên tắc kia giữ chúng ta cố kết. Hai nguyên tắc này, dù có căng thẳng với nhau, nhưng vô cùng cần đến nhau. Một tâm hồn lành mạnh giữ cho cho chúng ta có sinh lực, háo hức sống, nhưng một linh hồn lành mạnh cũng giữ cho chúng ta cố kết, biết mình là ai. Tâm hồn chúng ta cần đem lại cho chúng ta sinh lực và sự toàn vẹn, lửa và keo.

Thiên Chúa là tình yêu, và tình yêu muốn và cần cả trật tự lẫn hỗn loạn. Tình yêu luôn muốn xây dựng mái ấm, yên ổn, tạo một nơi yên bình, vững vàng và thanh sạch. Trong chúng ta có khát khao thiên đàng, do đó tình yêu hướng về trật tự. Nó muốn tránh sự tan rã về tình cảm và tinh thần. Nhưng tình yêu cũng hướng về sự hỗn loạn. Trong tình yêu có gì đó muốn buông bỏ, muốn bị chiếm lấy, muốn bỏ đi những giới hạn, muốn cái mới, cái lạ và muốn buông bỏ con người cũ. Đó là một nguyên tắc mang tính sinh sôi trong tình yêu đã giúp duy trì nhân loại này!

Thiên Chúa của chúng ta tôn vinh cả hỗn loạn và trật tự, chính vì thế, giữ cho cả hai trong thế căng thằng là một điều lành mạnh. Để được lành mạnh, chúng ta cần đưa cả hai lại với nhau trong lòng mình, và không phải là kiểu đưa hai đảng đến bàn đàm phán, mà là theo kiểu hệ thống cao áp-thấp áp tạo nên một cơn bão. Sau cơn bão, trời lại sáng.

Trong giông tố, có sự sống và có Thiên Chúa. Trong giông tố, chúng ta khởi đầu, sự khởi đầu thông việc chìm vào ngọn lửa dữ dội của dục vọng và làn nước ngất ngây của sự quy phục.

Trói buộc và tháo cởi

Dưới đất, anh em cầm buộc những điều gì, trên trời cũng cầm buộc như vậy; dưới đất, anh em tháo cởi những điều gì, trên trời cũng tháo cởi như vậy. Những lời này của Chúa Giêsu không chỉ áp dụng cho những ai được phong chức thánh và ban bí tích hòa giải, mà còn cho bất kỳ ai ở trong thân thể Chúa Kitô. Tất cả chúng ta đều có năng lực trói buộc và tháo cởi.

Năng lực này là gì? Chúng ta trói buộc và tháo cởi cho nhau trên đời này theo cách hướng đến thiên đàng như thế nào?

Một phần của chuyện này khá dễ giải thích. Tôi xin đưa ra một ví dụ: Nếu bạn là một phần trong Thân thể Chúa Kitô và bạn tha thứ cho ai đó thì Chúa Kitô tha thứ cho người đó và người đó được giải phóng khỏi tội. Như thế, nếu bạn, như một phần của Thân thể Chúa Kitô, tha thứ cho ai đó và vẫn liên kết với người đó, thì người đó được liên kết với Thân thể Chúa Kitô và qua bạn, người đó được chạm đến vạt áo Chúa Kitô, dù cho người đó có thể hiện rõ ràng như vậy hay không. Và đó là một trong những tặng vật vô giá được ban cho chúng ta trong sự nhập thể.

Nhưng còn ngược lại thì sao? Cứ cho là tôi từ chối tha thứ cho ai đó đã làm tổn thương tôi, cứ cho là tôi ôm mối thù và không chịu quên đi việc sai trái mà người đó làm với tôi, vậy là tôi trói buộc người đó vào tội lỗi sao? Thiên Chúa cũng từ chối tha thứ và quên đi, vì tôi từ chối tha thứ và quên đi sao? Thân thể Chúa Kitô hoạt động như thế nào về phần “trói buộc” trong năng lực mà Chúa Giêsu ban cho chúng ta?

Đây là một câu hỏi khó, dù cho một vài điểm phân biệt sơ bộ có thể soi rọi vấn đề này thêm đôi chút.

Đầu tiên, lôgic của ân sủng, vốn cũng là lôgic của tình yêu – chỉ hoạt động một chiều. Trong ân sủng, cũng như trong tình yêu, chúng ta có thể được trao tặng nhiều hơn những gì chúng ta xứng đáng, nhưng ngược lại thì không. Phép tính về ân sủng không xứng đáng chỉ hoạt động một chiều. Tình yêu có thể cho bạn nhiều hơn những gì bạn xứng đáng, nhưng tình yêu không thể trừng phạt bạn nhiều hơn những gì bạn đáng nhận. Thiên Chúa cho chúng ta năng lực giải thoát cho nhau, nhưng không phải tương đương với năng lực trói buộc nhau.

Thứ hai, như tác giả C.S. Lewis nói, trong đời này, địa ngục có thể uy hiếp thiên đàng, nhưng trong đời sau thì không. Do đó, dù chúng ta có thể trói buộc nhau về mặt tâm lý và tình cảm ở đời này, nhưng Thiên Chúa không phê chuẩn những hành động này.

Khi trói buộc nhau ở đời này bằng cách từ chối tha thứ cho nhau, thì sự từ chối tha thứ đó không ràng buộc Thiên Chúa phải hành động như thế. Đơn giản là khi tôi ôm mối hận với ai đó đã xử tệ với tôi, liên tục làm cho người đó biết, họ đã làm sai, là tôi đang trói buộc người đó với tội của họ, nhưng Thiên Chúa không tán thành việc đó. Thiên đàng sẽ không đi theo sự uy hiếp về mặt tình cảm của tôi.

Nhưng những sự phân biệt này chỉ đem lại một nền tảng để hiểu vấn đề này. Vậy trói buộc một người nghĩa là gì?

Năng lực trói buộc và tháo cởi của người tín hữu kitô là năng lực trói buộc và tháo cởi trong lương tâm, trong chân lý, trong sự tốt lành và trong yêu thương. Khi tôi từ chối tha thứ cho người khác, khi tôi ôm mối hận, là tôi không hành động như Thân thể Chúa Kitô hay tác nhân của ân sủng, mà như vòng xoáy trong móc xích tội lỗi và bất lực mà Chúa Kitô cố gắng phá bỏ. Khi hành động như thế thì chính tôi mới cần được tháo cởi khỏi tội lỗi, vì tôi đang hành động đối nghịch với ân sủng. Việc tôi không tha thứ có lẽ trói buộc người kia về mặt tình cảm, giữ chặt người đó với tội của mình, nhưng nó cũng là phản đề với năng lực mà Chúa Kitô đã ban cho chúng ta.

Theo Kinh Thánh, chúng ta trói buộc nhau, khi trong tình yêu, chúng ta từ chối thỏa hiệp về sự thật và khi chúng ta từ chối cho người kia sự tự do giả tạo để đưa ra những lựa chọn sai lầm. Ví dụ như, cha mẹ trói buộc con cái, khi vì tình yêu mà để con cái lờ đi các giáo huấn của Chúa Kitô về hôn nhân và tình dục. Chúng ta trói buộc bạn khi từ chối tán thành người đó gian lận trong kinh doanh để kiếm thêm tiền. Một người bạn trói buộc chúng ta khi từ chối ủng hộ những thỏa hiệp đạo đức của ta.

Trong vở kịch Người của mọi thời (A Man for All Seasons) của Robert Bolt, vua Henry VIII đã nài xin thánh Thomas More chúc phúc cho cuộc hôn nhân của ông với bà Anne Boleyn. Henry đã viện đến tình bạn giữa hai người, viện đến tình người và cố ép Thomas khi nói rằng, việc ngài từ chối tán thành chính là hành động nhỏ nhen và kiêu ngạo. Nhưng Thomas vẫn từ chối tán thành. Ngài đã trói buộc Henry vào lương tâm và Henry biết mình bị trói buộc. Cuối cùng, ông đã giết Thánh Thomas vì từ chối thỏa hiệp và không chịu chấp thuận tháo cởi cho ông.

Từ khi Thiên Chúa mặc lấy xác phạm cụ thể, ân sủng đã có một chiều kích con người hữu hình. Thiên đàng đang quan sát thế gian, và đang nhận lấy những gì tốt đẹp nhất mà chúng ta làm ở đây, nhưng không bị trói buộc bởi những gì xấu xa mà chúng ta làm ở đây.

Mất một người thân yêu vì tự tử

Nhà báo David Brooks của tờ New York Times từng viết một bài về một người bạn lâu năm đã chết vì tự tử. Trong phần mô tả bạn mình và sự suy sụp chìm vào chứng bệnh tự tử, Brooks đã cho chúng ta thấy một vài điều về cách chúng ta vẫn còn rất lâu mới hiểu được về tự tử. (New York Times, 09-2-2023)

Bạn của ông, Peter, không có vẻ gì là một người sẽ tự tử. Ông có một hôn nhân tuyệt vời, hai người con trai yêu thương, bạn bè nồng hậu, và sự nghiệp bác sĩ mãn nguyện, vừa giúp ông được vui, vừa có thể giúp người khác. Ông khỏe mạnh về thể chất, năng động và thích thể thao. Nhưng đến một lúc, ông bắt đầu chìm vào trầm cảm, chứng bệnh tàn phá đến mức mọi yêu thương trên đời này đều bó tay. Cuối cùng, ông tự tước đi mạng sống mình.

Điều mà Brooks nêu bật khi thuật lại hành trình cuộc đời của bạn mình, là một điều mà tất cả mọi người cần phải đọc. Ông nêu bật chuyện gì?

Trước hết, trong hầu hết trường hợp, tự tử là một chứng bệnh. Người ta không chọn chìm vào dạng trầm cảm này, và nó ập đến cũng không khác gì chứng ung thư, tiểu đường hay đau tim. Họ gặp một căn bệnh và họ không thể tự mình thoát khỏi nó, cũng như những người mắc bệnh nặng không thể nào tự chữa lành bằng sức mạnh ý chí và thái độ sống. Đâu thể cứ muốn là thoát khỏi sự trầm cảm tự tử. Hơn thế nữa, trầm cảm tự tử không phải là thứ mà bất kỳ ai trong chúng ta, những người ngoài cuộc, có thể hiểu được.

Thứ hai, sự trầm cảm này rất kinh khủng, là cơn ác mộng kinh hoàng nhất. Tác giả William Styron đã mô tả trong hồi ký của mình, Bóng tối hữu hình (Darkness Visible) rằng, “Tôi cảm nghiệm một chấn động nội tâm đáng chú ý mà tôi chỉ có thể mô tả là một nỗi tuyệt vọng hơn bất kỳ nỗi tuyệt vọng nào. Nó phát xuất từ màn đêm lạnh lẽo, tôi đã không nghĩ có tồn tại một nỗi thống khổ đến như thế”. Rồi sự đau khổ đó còn kết hợp với sự thật rằng một phần của chứng bệnh (hầu hết) là người đó cảm thấy không thể nào xác định rõ nỗi đau này chính xác là do điều gì. Do đó, họ đơn độc với nó, cảm thấy mình lạc loài, và sự cô độc đó đến từ một cảm giác quá mạnh rằng sẽ tốt hơn cho mọi người nếu loại bỏ mình khỏi gia đình và bạn bè bằng cách tự tử.

Hơn nữa, khi đối diện với trầm cảm tự tử, thuốc thang và trị liệu tâm lý có thể phần nào hữu ích, nhưng chúng cũng có giới hạn.

Chúng ta phải làm gì khi gặp một người đang chịu trầm cảm gây tê liệt này? Để cố trả lời câu hỏi đó, chúng ta có thể mở đầu với việc gì chúng ta không nên làm.

Tác giả Brooks chia sẻ một vài nỗ lực, dù chân thành nhưng xét tận cùng là sai lầm, khi cố giúp đỡ bạn mình. Ví dụ ông nhắc Peter nhớ lại những phúc phần tuyệt vời và cuộc đời diễm phúc của Peter. Rồi sau này, ông mới nhận ra “làm thế có thể làm cho đương sự đau khổ, cảm thấy tệ hơn vì không thể tận hưởng những thứ rõ ràng có thể tận hưởng”. Cũng vậy, chúng ta không nên hỏi người đó có suy nghĩ tự hại mình không. Người đó vốn đã hại mình quá nhiều đến mức độ thâm tâm của họ chỉ muốn chặn đứng nỗi đau, và tự tử được xem là phương thế duy nhất để làm vậy.

Vậy chúng ta nên làm gì? Brooks nói rõ: “Các chuyên gia nói rằng nếu biết ai đó đang bị trầm cảm, thì được phép nói thẳng về chuyện tự sát. Các chuyên gia nhấn mạnh bạn sẽ không gieo suy nghĩ đó vào đầu họ đâu. Vì nó vốn có sẵn trong đầu họ rồi. Và nếu là thế, người đó cần đến sự giúp đỡ chuyên môn”. Các chuyên gia cũng đồng ý rằng chúng ta nên thử liều hỏi thẳng xem người đó có ý nghĩ tự tử không. Nếu người đó không nghĩ đến chuyện tự tử, thì sẽ tha thứ cho bạn vì đã hỏi câu đó, nhưng nếu người đó đã nghĩ đến chuyện tự tử mà bạn lại quá ngại không dám hỏi, thì sự ngập ngừng của bạn có thể cản trở việc cứu lấy người đó.

Brooks chỉ ra rằng mặc dù trong những năm qua, thuốc men và tâm lý học đã có nhiều phát triển, nhưng tỷ lệ tự tử ngày nay lại cao hơn 30% so với 20 năm trước, và một phần năm người trưởng thành ở Mỹ đang bị các bệnh về tâm thần.

Cuộc đời của tôi đã gánh chịu nhiều về tự tử, từ bà con, bạn bè, hàng xóm, đồng nghiệp, bạn học, học trò cũ và những bậc đàn anh. Theo kinh nghiệm của tôi, trong mỗi một cái chết đó, người chết là một người tốt lành, chân thật, ân cần, nhạy cảm, quá nhạy cảm đến độ vào một thời điểm nào đó trong đời, họ quá bầm dập, quá đau đớn, quá bất lực trước chứng bệnh này đến nỗi không thể tiếp tục sống nữa. Mỗi một cái chết đó để lại một nỗi đau buồn thương tâm ghê gớm mà một phần lớn là do chúng ta không hiểu được điều gì gây nên cái chết của họ.

Khi nghĩ về việc bạn mình tự tử, Brooks kết lại rằng, “con quái vật đó lớn hơn Peter, lớn hơn bất kỳ ai trong chúng ta”. Và đến giờ nó vẫn vậy. Nói đơn giản, chúng ta vẫn còn lâu mới hiểu được sự khỏe tâm thần và sự mỏng manh của nó.

Chờ đợi thiên thần đến

Vào đêm trước khi chịu nạn, Chúa Giêsu đã đấu tranh dữ dội để chấp nhận thánh ý Chúa Cha. Các Phúc âm trình thuật Ngài sấp mình trên mặt đất ở vườn Giếtsêmani, “đổ mồ hôi máu” và nài xin Chúa Cha cứu Ngài khỏi cái chết thảm khốc đang chờ. Và khi cuối cùng Ngài vâng theo Chúa Cha, một thiên thần đến và tăng sức cho Ngài.

Điều này gợi lên một câu hỏi: thiên thần đó ở đâu khi mà chỉ xuất hiện khi Ngài cần đến nhất? Vì sao thiên thần không xuất hiện sớm hơn để tăng sức cho Ngài?

Tôi nghĩ có hai câu chuyện sau có thể giúp giải thích điều này:

Câu chuyện đầu tiên là về mục sư Martin Luther King. Trong những ngày trước khi bị ám sát, ông bị chống đối dữ dội và bị nhiều người dọa giết. Tuy rất can đảm, nhưng ông cũng là con người. Có lúc, những lời đe dọa làm ông vô cùng sợ hãi. Một đoạn nhật ký của ông viết như sau:

“Một tối cuối tháng 1, tôi đi ngủ trễ sau một ngày vất vả. Coretta đã ngủ say, và khi tôi chuẩn bị chìm vào giấc ngủ thì chuông điện thoại reo. Một giọng giận dữ nói, ‘Nghe này, thằng đen, bọn tao chịu hết nổi mày rồi, nội tuần này mày sẽ phải hối tiếc vì mày đã đặt chân đến Montgomery’. Tôi gác máy, nhưng không thể nào ngủ được. Có vẻ mọi nỗi sợ của tôi cùng lúc dâng lên. Tôi đã đến điểm bão hòa.

Tôi ra khỏi giường và đi lui đi tới trong nhà. Cuối cùng, tôi xuống bếp, nấu một ấm cà phê. Tôi đã sẵn sàng từ bỏ. Với ly cà phê chưa hề động đến trước mặt, tôi cố nghĩ cách để thoát khỏi chuyện này mà không bị mang tiếng là kẻ hèn nhát.

Trong tình trạng kiệt quệ này, khi mọi can đảm của tôi đều tan biến, tôi quyết định thưa vấn đề này lên Chúa. Hai tay ôm đầu, tôi cúi mình trên bàn ăn và cầu nguyện thành tiếng. Tôi vẫn nhớ rõ như in những lời tôi thưa với Chúa tối hôm đó.

‘Con ở đây để đứng ra bảo vệ những gì con tin là đúng đắn. Giờ con đang sợ hãi. Người dân đến với con để nhờ con lãnh đạo, và nếu con đứng lên dẫn đầu họ mà trong con chẳng có sức mạnh và dũng cảm, thì họ cũng sẽ nao núng. Con đã cạn kiệt sức lực rồi. Con chẳng còn gì nữa. Con đã đến độ không thể một mình đương đầu nữa’. Chính lúc đó, tôi cảm nghiệm được sự hiện diện của Đấng Tối cao hơn bao giờ hết”. (Sải bước đến Tự do, Strive Toward Freedom)

Chúng ta thấy thiên thần xuất hiện ở thời điểm nào trong cuộc đấu tranh của ông.

Và trong tự thuật của mình, Sự cô độc lâu dài (The Long Loneliness), bà Dorothy Day đã chia sẻ câu chuyện này. Thời trẻ, cùng với người đàn ông bà yêu, bà là chiến binh không tín ngưỡng. Thật sự, việc họ ngần ngại tiến đến hôn nhân cũng là lời tuyên bố họ không chấp nhận các giá trị kitô giáo truyền thống. Rồi bà mang thai và đứa con ra đời, khởi đầu cho một hoán cải triệt để. Niềm vui khi bồng đứa con trên tay làm bà tin chắc có một Thiên Chúa và sự sống có một mục đích yêu thương. Bà trở lại đạo công giáo la mã, bất chấp sự bực mình của người yêu, người cha của con mình. Ông bắt bà chọn lựa, nếu bà rửa tội cho đứa bé thì hai người cắt đứt. Bà đã rửa tội cho con và mất mối tình này, dù họ vẫn tiếp tục là bạn bè của nhau. Tuy nhiên, lúc đó, bà là bà mẹ đơn thân không có công việc, không hình dung hay dự tính gì cho cuộc đời của mình.

Có lúc bà đã tuyệt vọng. Bà để con lại cho người khác chăm sóc và lên tàu đi New York đến Đền thánh Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên tội ở Washington. Trong tự thuật, bà kể lời cầu nguyện của bà ngày hôm đó, một lời cầu nguyện quá đỗi khẩn thiết. Như Chúa Giêsu trong vườn Giếtsêmani và mục sư Martin Luther King ở Montgomery, lời cầu nguyện của bà nói lên sự cùng quẫn và bất lực cùng cực, một thừa nhận bà không còn đủ sức để đi tiếp. Bà đã cầu nguyện như sau: Con đã từ bỏ mọi sự vì Ngài và giờ con cô độc, sợ hãi. Con không biết phải làm gì và con thiếu sức mạnh để tiếp tục sự dấn thân này.

Bà dâng lên lời nguyện bất lực này, rồi lên tàu về lại New York, và không lâu sau, ông Peter Maurin, thần học gia công giáo tìm đến nhà bà, ông nói ông đã nghe người ta nói về bà và hình dung được bà nên làm gì lúc này, đó là thành lập hội Công nhân Công giáo, Catholic Worker. Và chính hội này đã mở ra một con đường cho quãng đời còn lại của bà. Thiên thần đã đến và tiếp sức cho bà.

Hãy để ý thời điểm thiên thần xuất hiện trong những câu chuyện này, là khi sức mạnh của con người đã cạn kiệt. Tại sao lại không phải trước đó? Vì trước khi kiệt quệ, chúng ta không thật sự để thiên thần ra tay, thay vào đó, chúng ta dựa vào sức mình. Nhưng như nhà văn, nhà hoạt động Canada Trevor Herriot nói, “Chỉ sau khi chúng ta để hoang mạc làm hết phần việc của nó trên mình, thì thiên thần mới đến và nâng đỡ chúng ta”.

Tưởng niệm anh George của tôi

Vài tuần trước, anh George của tôi qua đời. Cái chết của anh phần nào làm chúng tôi sốc vì một tuần trước khi mất, sức khỏe của anh khá tốt. Cuộc đời của anh nên được kể lại. Triết gia giáo sư Mircea Eliade từng nói, không một cộng đồng nào nên làm xấu người đã khuất.

Dù rất thông minh và đầy động lực, anh George chưa hề có cơ hội được học lên cao. Gia đình chúng tôi đông con, sống ở một nông trại nhỏ không đủ chu cấp nhiều cho cả nhà. Cũng như các anh chị lớn trong nhà, anh nghỉ học sớm để làm việc giúp gia đình. Và chuyện này cũng không lạ gì. Trong cộng đồng nhập cư thế hệ thứ hai nơi chúng tôi sinh trưởng, phần lớn thế hệ các anh chị lớn đều như vậy. Cũng như nhiều người khác như anh, câu chuyện của anh là câu chuyện từ bỏ ước mơ của mình để đem lợi ích đến cho người khác.

Cuộc đời của anh là câu chuyện tận tụy vì đức tin, vì gia đình, Giáo hội và cộng đồng. Đa phần anh buộc phải làm thế vì hoàn cảnh. Dù anh rất thông minh, có lẽ anh là người thông minh nhất nhà, nhưng hoàn cảnh buộc anh phải nghỉ học từ năm lớp 8 để phụ giúp gia đình. Kết quả, anh chưa thật sự có cơ hội làm việc mà anh mong muốn trong đời, cả về sự nghiệp lẫn chuyện hôn nhân và có gia đình; và với anh, hy sinh lớn nhất không phải là sự nghiệp mà là hôn nhân.

Anh George chưa hề muốn là người độc thân cả đời, nhưng cuộc sống và những cam kết của anh không cho phép anh kết hôn, anh sống cuộc đời độc thân (gần giống với linh mục và tu sĩ). Dù vậy, cũng như người sống độc thân theo lời khấn, cuối cùng thì cũng đem lại nhiều phúc phần cho anh. Anh có một gia đình rất lớn, với nhiều người trên khắp thế giới xem anh là anh em, là người chỉ dẫn, là người bạn tin cẩn. Từ khi anh qua đời, hàng loạt thư từ, e-mail, tin nhắn, điện thoại từ khắp nơi gởi về chứng tỏ địa vị của anh trong cuộc đời họ. Anh chết trong độc thân, nhưng anh chết như một người được yêu thương.
Tuy nhiên, mọi chuyện này đều có cái giá của nó. Những người được anh tâm tình về những chán nản của anh, họ biết cái giá mà tâm hồn anh phải trả cho đời sống độc thân này. Nhiều lúc, anh chỉ cần tìm một nơi riêng tư và an toàn để trút nỗi chán nản và căng thẳng trong lòng, nhiều lúc anh không thể theo gương kiên nhẫn và quên mình của Chúa Giêsu. Tuy nhiên, anh luôn bày tỏ nỗi chán nản của mình nơi an toàn, để không làm tổn thương bất kỳ ai. Anh luôn vượt lên nỗi chán nản của anh. Phần sâu thẳm nhất trong anh luôn thân ái và hóm hỉnh. Anh đi đâu là đem tiếng cười đến đó.

Hơn nữa, anh còn là con người của đức tin và của Giáo hội. Giáo hội là phần cốt yếu, anh xem như gia đình, và anh đã dốc hết mình, cho cả Giáo hội địa phương vùng nông thôn nơi anh sống và cho cả Giáo hội ở tầm vóc lớn hơn. Hơn 20 năm, anh giúp dẫn dắt chương trình Đào tạo Giáo dân và hỗ trợ mục vụ giới trẻ ở giáo phận quê nhà. Sự tận tụy và năng lực của anh đem lại cho chương trình đã được nhiều người công nhận. Thật vậy, có lần, giám mục địa phương đã nói với anh: “George, tôi có một câu hỏi cho anh, anh muốn tôi phong chức cho anh ngay giờ, hay anh muốn vào chủng viện vài năm”. Mục vụ trong tư cách linh mục hẳn là ước mơ thành hiện thực với anh, nhưng những người hiểu anh cũng biết lý do vì sao anh từ chối lời mời đó. Anh vẫn còn nhiều nghĩa vụ với gia đình và cộng đoàn mà anh cảm thấy mình không thể từ bỏ. Có thể đặt câu hỏi về lựa chọn đó, nhưng đó là lựa chọn từ sự tận tụy và quên mình, đặt nhu cầu của người khác lên trước bản thân.

Trong Tin Mừng, thánh Gioan đã mô tả chuyện sau khi Chúa Giêsu chết, binh lính đâm vào cạnh sườn Ngài và “lập tức máu và nước chảy ra” từ thân xác đã chết của Ngài. Một hình ảnh đáng để chúng ta chú ý! Sự sống tuôn trào từ xác chết! Sau khi Chúa Giêsu chết, các môn đệ cảm thấy mình được Ngài nuôi dưỡng một cách sâu sắc hơn cả khi Ngài còn sống. Từ tinh thần mà Chúa Giêsu để lại, họ cảm nhận được sự sống và sự thanh tẩy tuôn tràn.

George cũng để lại tinh thần như thế. Mọi người quen biết anh sẽ tiếp tục nhận lấy tinh thần ấy, quên mình, hy sinh ước mơ của mình vì gia đình và Giáo hội, sẵn sàng gánh lấy nản lòng và căng thẳng vì người khác. Và chúng ta còn được nuôi dưỡng bằng sự hài hước và vui vẻ anh mang lại, một phẩm chất thể hiện cả trí thông minh và niềm vui sống của anh.

Anh đã sống một cuộc đời tốt lành. Anh đã chết như một người được yêu thương. Anh sẽ được cả gia đình rộng lớn tưởng nhớ, gia đình mà anh đã hy sinh hôn nhân và có con cái riêng cho mình.

Mất đi tính ngây thơ

Câu chuyện Cựu Ước về ông Sa-un là một trong những tấn bi kịch lớn nhất lịch sử văn học. So với câu chuyện của Sa-un, Hamlet chỉ là nhân vật của Disney. Ít ra, Hamlet có lý do hợp lý cho sự cay đắng chiếm lấy mình. Còn vua Sa-un, với khởi đầu của ông, đáng ra ông phải tốt đẹp và thuận lợi hơn nhiều, rất nhiều.

Câu chuyện của ông bắt đầu với tuyên bố, trong toàn dân Israel, không một ai so sánh được với ông về chiều cao, sức mạnh, sự tốt lành hay sự tán thành. Một lãnh đạo bẩm sinh, một quân vương giữa toàn dân, tính cách phi thường của ông được toàn dân công nhận và tán dương. Họ đã biến ông thành vua. Khởi đầu câu chuyện của ông không khác gì cổ tích, và nó tiếp diễn như thế trong một thời gian.

Tuy nhiên, đến một lúc, mọi chuyện bắt đầu trở nên xấu. Lúc đó là lúc Đavid xuất hiện, một người trẻ hơn, đẹp hơn, tài năng hơn và được ca ngợi hơn ông. Sự ghen tị xuất hiện và bắt đầu đầu độc tâm hồn Sa-un. Khi nhìn Đavid, ông chỉ thấy sự ái mộ lấn át ông, chứ không thấy sự tốt lành của người khác và càng không thấy sự tốt lành đó đem lại gì cho người khác. Thay vào đó, ông ngày càng cay đắng, nhỏ nhen, thù địch, cố giết Đavid, và cuối cùng chết bởi chính tay mình, một con người giận dữ đã xa rời sự ngây thơ và tốt lành thời trẻ của mình.

Vậy chuyện gì đã xảy ra? Làm sao một người có quá nhiều thứ như ông, tốt lành, tài năng, được ca ngợi, quyền lực, phúc lành, làm sao một người như thế lại có thể trở thành một kẻ cay đắng và nhỏ nhen, rồi cuối cùng tự sát? Sao chuyện lại xảy ra như thế được? Cố tác giả Margaret Laurence, trong tiểu thuyết xuất sắc và tăm tối Thiên thần đá (The Stone Angel), đã cho chúng ta một mô tả rất hay về cách câu chuyện này xảy ra, và nó xảy ra cách kín đáo không cho người đó nhận ra mình đang biến đổi.

Nhân vật chính của bà là Hagar Shipley, kiểu người như vua Sa-un. Câu chuyện của Hagar cũng bắt đầu như thế. Cô trẻ trung, ngây thơ và đầy tiềm năng. Và cô gái trẻ trung, tài năng, sáng láng, xinh đẹp này sẽ trở nên nhân vật thế nào? Đáng buồn là, lại chẳng đi đến đâu. Cô vật vờ trôi dạt vào mọi thứ: tuổi trưởng thành, hôn nhân không hạnh phúc, một nỗi thất vọng sâu sắc không thể nhận ra, không diễn tả được, đến nỗi cuối cùng làm cho cô thành nhếch nhác, lạnh lẽo, cay đắng, không còn sinh lực hay chí khí gì nữa. Điều đáng buồn nhất là bản thân cô lại chẳng thấy được chuyện này. Trong đầu cô, cô nghĩ cô vẫn là cô gái trẻ trung, ngây thơ, dễ thương, quyến rũ, nổi bật như thời trung học. Cô không để ý thấy thế giới của mình đã trở nên nhỏ bé đến thế nào, số bạn bè thật sự chẳng còn bao nhiêu, cô không còn ngưỡng mộ điều gì hay ngưỡng mộ ai, cô đã trở nên nhếch nhác như thế nào cô cũng không biết.

Và cô đã thức tỉnh một cách đột ngột, tàn khốc. Một ngày mùa đông nọ, luộm thuộm trong bộ áo trùm đầu, cô bấm chuông cửa nhà nọ để giao trứng. Một đứa bé sáng sủa ra mở cửa, và Hagar nghe cậu bé nói nói với mẹ: Cái bà già giao trứng gớm ghiếc đang đứng ở cửa!

Quá choáng váng, cô rời ngôi nhà và tìm đường đến nhà vệ sinh công cộng, mở hết đèn lên và soi mình trong gương. Trước mắt cô là một gương mặt mà cô còn nhận không ra, một người quá đỗi thảm hại trái ngược với những gì cô hình dung về mình. Cô thấy trước mắt đúng là bà già giao trứng gớm ghiếc mà đứa bé thấy, chứ không phải là cô gái trẻ trung, nhân hậu, dễ thương, hấp dẫn mà cô nghĩ mình vẫn là. Cô tự hỏi, “làm sao có thể như thế này được?”. Làm sao mà chúng ta lại trở thành một người mà chúng ta không quen, không thích và chẳng hề nhận ra chuyện này?

Có thể nói, đây là chuyện của tất cả chúng ta. Không dễ để già đi, để chấp nhận chúng ta đã xa rời giấc mơ về mình, để nhìn người trẻ tiếp nối sự nổi tiếng và ca ngợi mà chúng ta từng có. Như Sa-un, chúng ta có thể đầy ghen tị mà không biết, và như Hagar, chúng ta có thể cay đắng và xấu xí mà không biết. Nhưng người khác lại nhận ra.

Và trong chuyện này, không phải chúng ta không đạt được điều gì. Thường thì chúng ta trở nên khôn ngoan hơn theo kiểu của thế gian mà vẫn là người tốt tính, rộng lượng. Tuy nhiên, chúng ta có khuynh hướng xấu tính hơn trước, than vãn quá nhiều, thương thân quá nhiều, và chiều theo thói nguyền rủa thay vì chúc phúc khi thấy người khác thế chỗ mình, những người trẻ, người được ái mộ, người được ca ngợi.

Còn nữa, nhiệm vụ về nhân bản và thiêng liêng của nửa sau cuộc đời là từ bỏ ghen tị và xấu xí này để một lần nữa quay lại với tình yêu, sự ngây thơ và tốt lành của tuổi trẻ, để lấy lại sự thuần khiết, hướng đến một sự ngây thơ lần thứ hai và bắt đầu có lòng ngưỡng mộ lần nữa.

Mở đầu sách Khải Huyền, Thánh Gioan, với ngụ ý thay lời Thiên Chúa, đã khuyên chúng ta, ít ra là với những ai đã qua thời tuổi trẻ: “Ta đã thấy con làm việc chăm chỉ đến thế nào. Ta công nhận sự độ lượng và mọi việc lành con làm, nhưng có điều này Ta có điều này không hài lòng về con – là con ít yêu thương hơn thời trẻ! Hãy quay lại và xem con đã ngã ở đâu!”

Có lẽ chúng ta muốn nghe điều này từ Kinh Thánh trước khi vô tình nghe một cô bé bảo mẹ, có một người già cay đắng khó chịu đang đứng trước cửa nhà.