RonRolheiser,OMI

Suy nghĩ xấu

Có người từng châm biếm rằng chúng ta dùng nửa đầu đời để vật lộn với giới răn thứ sáu – Chớ ngoại tình, rồi dùng nửa đời sau để vật lộn với giới răn thứ năm – Chớ giết người! Câu này có một sự thật đáng để chúng ta xem xét.

Trong đạo công giáo mà tôi được nuôi dạy, có sự nhấn mạnh rất lớn vào giới răn thứ sáu. Tình dục và các vấn đề liên quan đến tình dục bị cho rất rõ, đó là vấn đề của hành vi phạm tội. Mọi tình dục ngoài hôn nhân đều bị xem là có tội, nhưng ảo tưởng tình dục cũng vậy. Nếu bạn thích thú với bất kỳ ảo tưởng tình dục nào thì bạn phải xưng tội với linh mục. Trong cách nói thời đó, thì chuyện này bị gọi là “có suy nghĩ xấu”. Vì bản tính con người và vì các kích thích tố, chắc chắn gần như ai cũng có “suy nghĩ xấu”.

Khi lớn lên, tôi bắt đầu nghĩ các ảo tưởng tình dục không phải là mối nguy thật sự về mặt suy nghĩ xấu. Khi thêm tuổi, những suy nghĩ xấu chúng ta cần xưng tội nhất lại liên quan nhiều hơn đến giới răn khác, đó là “chớ giết người”. Những suy nghĩ xấu ngăn chúng ta đến với tình yêu, cộng đồng và bàn tiệc thiên quốc nhất, là những suy nghĩ liên quan đến người chúng ta giận, người mà chúng ta không đội trời chung, người chúng ta không muốn ngồi cùng bàn, người chúng ta muốn báo thù, người chúng ta không thể tha thứ và người chúng ta không ủng hộ thái độ sống của họ.

Cha Henri Nouwen từng nói, rất lâu trước khi người nào bị bắn, thì họ đã bị bắn bằng lời lẽ, và rất lâu trước khi họ bị bắn bằng lời thì họ đã bị bắn bằng suy nghĩ. Những suy nghĩ kiểu như: Bà đó quá tự mãn! Tôi ghét bà! Tôi không thể ở cùng phòng với bà nổi! Chúng ta giết nhau trong suy nghĩ, trong xét đoán, trong thù ghét, ghen tị và tránh né nhau. Đây là những suy nghĩ xấu mà chúng ta cần xưng nhất.

Hơn nữa, đó chỉ là những hình thức thô thiển nhất trong những gì chúng ta phạm điều răn chớ giết người. Chúng ta còn có “suy nghĩ xấu” theo những cách tinh vi hơn thế. Chúng ta còn giết nhau mỗi khi chiều theo những ảo tưởng tự đại, ảo tưởng mình là siêu sao, xuất chúng, hơn người, ưu việt, và xem người khác thấp kém hơn mình. Cũng như những ảo tưởng tình dục, những ảo tưởng này đi kèm với sức mạnh chúng ta khó cự lại. Như những ảo tưởng tình dục, chúng bủa vây chúng ta bằng sự ấm áp tự thỏa mãn.

Nhưng tại sao chúng sai trái? Chiều theo những ảo tưởng rằng chúng ta đặc biệt, xuất chúng và anh hùng thì có gì sai?

Ngắn gọn, tự chúng thì không sai về luân lý. Nghĩ mình đặc biệt thì không phải là tội, nhất là khi chúng ta đặc biệt thật! Thiên Chúa tạo nên mỗi một người đều đặc biệt và độc nhất vô nhị, nhận ra mình như thế thì không có gì sai. Hơn nữa, trong phần lớn cuộc đời, như thế lại có thể là lành mạnh. Phải về sau này, vấn đề mới nảy sinh, khi đến lúc chúng ta phải bắt đầu xem lại bản thân một cách dũng cảm và dữ dội hơn, đối diện với những thứ trong nội tâm đang ngăn cản chúng ta nên một với mọi sự. Đừng nghĩ câu “nên một với mọi sự” có vẻ quá phật giáo, hay ấn giáo, kitô hữu chúng ta cũng nghĩ rằng tình trạng cuối cùng của mình trên thiên đàng sẽ như vậy, làm một với mọi sự, với Thiên Chúa, với tha nhân, với vũ trụ và với chính mình.

Dù tự thân những ảo tưởng này không sai, nhưng chúng bồi đắp cho sự tách rời của chúng ta với tha nhân, đặt mình xa cách họ, ưu việt hơn họ, và cuối cùng, nó là vật cản cho sự hiệp nhất trong tình yêu với những gì chúng ta được kêu gọi và tiền định. Chúng cũng là cách để chúng ta giết nhau, dành vị trí chủ bàn tiệc cho chính mình.

Chúng ta dành phần lớn đời mình đấu tranh với giới răn thứ sáu. Tuy nhiên, hầu hết chúng ta cuối cùng phải đấu tranh với giới răn thứ năm còn cam go hơn nữa. Dụ ngôn trong phúc âm về người con hoang đàng cho chúng ta thấy rõ vài điều về chuyện này. Người cha (Thiên Chúa) có hai con trai, và ông cố xin cả hai vào nhà (thiên đàng). Người con thứ, người con hoang đàng bỏ nhà đi vì những vấn đề với giới răn thứ sáu. Dù vậy, cuối cùng anh về với người cha và vào nhà. Người anh cả, không hề rời nhà, nhưng lại ở ngoài nhà cha vì anh đang chiến đấu với một thứ khác, là giận dữ, cay đắng, ghen tị và phán xét. Anh đang chiến đấu với những suy nghĩ xấu. Anh đang giết em mình bằng phán xét, ghen tương, bằng những ảo tưởng về sự ưu việt đạo đức của mình.

Cái kết của dụ ngôn này đáng để chúng ta để ý. Chuyện không kết lại với việc ăn mừng người em trở về và đoàn tụ với gia đình. Chuyện kết lại với việc người cha đứng bên ngoài nhà, ân cần vỗ về người con cả ghen tương, cay đắng, phán xét, ân cần dỗ dành anh bỏ đi những suy nghĩ xấu của mình.

Một dạng nghèo khó tinh tế hơn

Có những cách bị loại trừ trong đời khác nhau.

Đầu năm nay, một trong các anh lớn của tôi qua đời. Theo mọi tiêu chuẩn, anh đã sống một cuộc đời gương mẫu, chủ yếu sống vì người khác. Anh chết trong tình yêu thương tha thiết của mọi người quen biết anh. Cuộc đời anh sống vì gia đình, cho Giáo hội, cho cộng đồng và bạn bè.

Khi giảng trong tang lễ của anh, tôi chia sẻ, trong khi anh luôn đem lại nụ cười và sự phúc hậu, nhiều lúc là cả sự hóm hỉnh, nhưng ẩn sâu trong lòng, đôi khi anh phải cố gắng lắm để luôn làm như thế. Vì sao? Vì dù anh đã dành trọn cuộc sống trưởng thành để phục vụ người khác, nhưng phần lớn trong đời, anh không có nhiều lựa chọn trong những chuyện đó. Câu chuyện của anh tôi là thế này.

Anh là một trong số anh lớn trong nhà, thuộc gia đình nhập cư đông con thế hệ thứ hai, vật lộn với nghèo đói ở một vùng nông thôn hẻo lánh tại vùng đồng cỏ Canada, nơi không dễ để đi học vào thời đó. Cho nên, với anh và những người đồng trang lứa, cả nam và nữ, dự tính bình thường là sau khi học xong tiểu học thì nghỉ học và bắt đầu làm việc phụ giúp gia đình. Thêm nữa, khi anh học xong tiểu học, lúc đó cũng không có trường trung học để anh học tiếp. Đáng tiếc hơn, có lẽ anh là người có thiên tư và sáng láng nhất nhà. Không phải anh không muốn tiếp tục học, nhưng vào thời đó, anh làm những gì mà hầu hết những người đồng trang lứa của anh làm, nghỉ học và bắt đầu làm việc, góp hết tiền lương hàng tháng để phụ giúp gia đình. Anh đã làm thế với tâm hồn vui vẻ, biết rằng đây là điều mình được mong chờ để làm.

Suốt thời gian từ lúc bắt đầu đi làm năm 16 tuổi, cho đến khi tiếp quản nông trại của gia đình năm ba mươi mấy tuổi, anh đã làm nông, làm thợ nề, và đủ thứ nghề, từ lái máy xúc cho đến lái xe tải. Hơn thế nữa, khi bố mẹ chúng tôi qua đời và anh tiếp quản nông trại, anh bị áp lực phải giữ nông trại này để nuôi sống gia đình trong nhiều năm trời. Đến lúc anh được ra khỏi trách nhiệm này thì cũng đã quá muộn để anh đi học lại. Những năm trước khi anh nghỉ hưu, anh hăng hái tham gia các chương trình giáo dục và mục vụ giáo dân, giúp anh được hăng hái về cảm xúc và phát triển về tri thức. Một phần hy sinh của anh là anh chưa hề kết hôn, không phải vì anh thích độc thân, mà vì những chuyện đã ràng buộc anh với bổn phận, làm cho anh không bao giờ có đủ cơ hội để kết hôn.

Sau khi chia sẻ câu chuyện của anh trong bài giảng, có vài người đã nói với tôi: Anh tôi cũng thế! Chị tôi cũng thế! Bố tôi cũng thế! Mẹ tôi cũng thế!

Từ nhỏ đã thấy người anh của mình như vậy, nên ngày nay, hễ thấy ai làm những công việc phục vụ như nấu ăn trong căn-tin, quét dọn nhà cửa, cắt cỏ, làm thợ nề, làm lao công và những công việc tương tự, tôi thường tự hỏi, họ có giống anh mình không? Họ có chọn làm công việc này hay họ làm vì hoàn cảnh bắt buộc? Người này có muốn làm bác sĩ, nhà văn, giáo viên, doanh nhân hay CEO, rồi cuối cùng lại phải làm công việc này vì kinh tế hay vì hoàn cảnh nào đó? Đừng hiểu lầm ý tôi. Những công việc đó không có gì là hạ giá hay kém cao quý cả. Thật sự là làm việc tay chân có lẽ là công việc lương thiện nhất, không như công việc của tôi trong cộng đồng hàn lâm, rất dễ vị kỉ và gần như là không thích đáng. Làm việc tay chân có một phẩm giá cao quý, như anh tôi đã có. Tuy nhiên, dù tầm quan trọng và phẩm giá của công việc đó, hạnh phúc của người làm việc đó đôi khi phụ thuộc vào việc họ có lựa chọn hay không, nghĩa là họ làm việc đó vì họ chọn hay là vì những yếu tố khác nhau, như kinh tế gia đình, thân phận nhập cư, thiếu cơ hội, buộc họ phải làm những việc này.

Khi thấy những người này trong cuộc sống hằng ngày, tôi cố để ý đến họ và trân trọng việc phục vụ của họ cho chúng ta. Đôi khi tôi tự nhủ: Đây có thể là anh mình. Đây có thể là chị mình. Đây có thể là người thông minh nhất nhà nhưng lại không có cơ hội để làm bác sĩ, nhà văn, y tá, giáo viên hay nhân viên xã hội. Nếu như Chúa Giêsu đã hứa rằng trong đời sau, sẽ có sự đảo ngược, người đứng cuối sẽ đứng đầu, thì tôi mong là những người này, như anh tôi, người đã bị lấy đi những cơ hội mà chúng ta có được, sẽ hiểu thấu lòng tôi với một tâm tình đồng cảm hơn cả sự thấu hiểu của tôi dành cho họ trong đời này.

Lối sống của chúng ta và hành tinh đang kiệt quệ

Trong Quyển sách của Hy vọng, đồng tác giả với Jane Goodall, Douglas Abrams đã tuyên bố: Tạo nên nhân loại có lẽ là sai lầm lớn nhất của sự tiến hóa.

Ông nói câu đùa thâm thúy này vì ông công nhận rằng sự xuất hiện của loài người rõ ràng là theo ý định của quá trình tiến hóa và thay vì là một sai lầm khủng khiếp, nó là tột đỉnh của quá trình đó. Dù gì, ngày nay, loài người là mối đe dọa lớn nhất đối với hành tinh trái đất. Nói đơn giản, hiện giờ trên hành tinh này có hơn bảy tỷ người, và chúng ta đang dùng nguồn tài nguyên có hạn nhanh hơn mức mà tự nhiên có thể bù đắp vào. Đến năm 2050, sẽ có khoảng mười tỷ người. Nếu chúng ta cứ làm như lâu nay, hành tinh này sẽ không thể gánh nổi chúng ta, ít nhất là nếu chúng ta cứ tiếp tục lối sống hiện tại.

Và lối sống này không phải là nói đến lối sống xa hoa của người giàu có thể tùy tiện và tiêu thụ nhiều hơn phần của mình. Dĩ nhiên, họ góp phần vào vấn đề và ảnh hưởng lớn đến số còn lại chúng ta về thói quen tiêu thụ, nhưng lối sống mà tôi nói đến ở đây, là điều mà tôi và bạn, những người tiêu thụ có ý thức, đang sống, thậm chí cả trong những lúc chúng ta bảo tồn, tái chế, làm phân, lái xe điện và cố sống đơn giản.

Bản thân tôi là ví dụ. Tôi đang cố nhạy bén về ảnh hưởng từ sự tiêu thụ của tôi với mẹ Trái đất. Khi so với những người có lối sống xa hoa, tôi có thể nói tôi sống rất đơn sơ. Tôi không mua thứ mình không cần, áo quần không có mấy bộ, và rất để ý đến chuyện dùng điện nước. Tôi lái chiếc xe nhỏ second-hand (xe mua lại) và cố gắng chỉ lái khi cần thiết. Tôi bảo đảm máy sưởi trong nhà được chỉnh cố định để tiêu thụ điện năng ít nhất có thể, và tôi sống trong căn nhà tương đối nhỏ, tái chế và cố dùng ít đồ nhựa nhất có thể.

Nhưng mặt khác, tôi có hai máy tính, một máy bàn ở văn phòng và một laptop ở nhà. Tôi có điện thoại di động, dù qua nhiều năm tôi chỉ nâng cấp điện thoại bốn lần, là mua mẫu mới và bỏ cái cũ. Tôi tắm hằng ngày, và tùy hoạt động thể chất, đôi khi tôi tắm hai lần. Tôi lái xe. Tôi đi máy bay ít nhất mỗi tháng một lần để dự các hội nghị và hội họp, và mỗi năm vài lần, tôi bay quốc tế để thăm gia đình. Tôi không có nhiều áo quần, nhưng việc mục vụ và công việc của tôi yêu cầu tôi có y phục tiêu chuẩn (và tôi đáp ứng được mức tối thiểu).

Với nơi tôi sống và công việc tôi làm, tôi nghĩ có thể nói rằng mình có lối sống đơn sơ. Tuy nhiên, một cách thực tế, nếu bảy tỷ người trên thế giới đều sống như tôi, thì sẽ không đủ tài nguyên để nuôi dưỡng chúng ta. Rốt cuộc là gì, thế giới không thể chu cấp nổi cho tám tỷ người, nếu ai cũng sống như tôi, và như hầu hết chúng ta đang sống ở những vùng thịnh vượng của thế giới. Vậy giải pháp là gì?

Chúng ta có thể trách tội mình hoặc người khác, cho dù việc đó không hẳn là có ích gì. Vậy điều gì mới có ích? Không có câu trả lời dễ dàng cho chuyện này. Những người sống ở những vùng thịnh vượng của thế giới như chúng ta có thể tạo ra thay đổi, nhưng chúng ta có thể ngừng sử dụng máy tính và điện thoại hay không? Chúng ta có thể hạn chế sử dụng nước, chúng ta có thể bỏ các tiêu chuẩn vệ sinh hiện tại của mình không? Chúng ta có thể hạn chế sử dụng điện, nhưng chúng ta có thể không lái xe và để các tòa nhà thành phố của mình tối om ban đêm không? Chúng ta ta có thể bớt mức độ di chuyển bằng máy bay, nhưng chúng ta có thể sống thiếu du lịch đường hàng không? Chúng ta có thể cắt giảm những gì chúng ta mua mà bị xem là ăn uống, ăn mặc quá mức, xa hoa và giải trí quá mức. Chúng ta có thể tái chế, phân hủy, và không dùng túi nhựa – tất cả những chuyện này gộp lại sẽ tạo nên khác biệt. Thật vậy, cần phải làm tất cả mọi chuyện này. Tuy nhiên, dù chúng hữu ích, nhưng nếu chỉ có chúng thì không giải quyết được vấn đề.

Với Jane Goodall, vượt ngoài những chuyện cá nhân này, chúng ta cần làm những chuyện tập thể để giải quyết mối đe dọa hiện hữu với trái đất. Goodall nêu ra ba điều: Trước hết, phải giảm nghèo đói. Nếu có người sống trong nghèo đói đến mức tê liệt cuộc sống, thì cũng dễ hiểu khi họ chặt cái cây cuối cùng hoặc bắt con cá cuối cùng, vì họ quá tuyệt vọng kiếm miếng ăn cho gia đình. Thứ hai, chúng ta phải loại bỏ sự tham nhũng của chính phủ và sự tham lam của các công ty. Không có chính phủ tốt và không có công ty biết quan tâm đến công ích, thì không thể nào giải quyết được các vấn đề môi trường và xã hội khổng lồ. Hơn nữa, những người vì tư lợi mà không chịu đối diện với vấn đề sẽ không cảm thấy có thách thức nào đặt ra cho họ. Cuối cùng, như một tập thể, chúng ta phải thực tế đối diện với sự căng thẳng giữa lối sống của chúng ta và dân số đang ngày một tăng trên trái đất. Những người tiêu thụ bất cần suy nghĩ là một phần vấn đề, nhưng số còn lại chúng ta cũng vậy, bao gồm cả tôi, những người tự xem mình là sống đơn sơ.

Nỗi cô đơn sâu thẳm nhất

Nhà tâm lý học Robert Coles ở trường đại học Harvard, khi mô tả triết gia thần nghiệm người Pháp, Simone Weil, ông cho rằng điều mà bà thật sự chịu đựng và cũng là động lực cho cuộc đời của bà, chính là sự cô đơn về tinh thần. Cô đơn tinh thần là gì?

Cô đơn tinh thần là điều mà chúng ta trải nghiệm khi khắc khoải về ái lực tinh thần, nghĩa là khao khát một tri kỷ, một người gặp chúng ta, hiểu chúng ta và tôn trọng những gì thâm sâu nhất, quý báu nhất trong chúng ta.

Chúng ta cô đơn theo nhiều cách. Chúng ta cảm thấy khắc khoải dù đang trải nghiệm sự thân mật, chúng ta thấy hoài niệm về một mái ấm mà chúng ta không bao giờ thật sự tìm được. Có sự cô đơn, thao thức, một khắc khoải, khao khát, thiết tha, yêu thích, bất an, hoài niệm và vô tận trong chúng ta và chúng không bao giờ cảm thấy trọn vẹn.

Hơn nữa, sự bất tịnh này nằm ở trọng tâm chứ không phải ở bên rìa trải nghiệm của chúng ta. Chúng ta không phải là những người yên nhàn đôi lúc cảm thấy thao thức, không phải là những người thanh bình đôi lúc cảm thấy bất an, không phải là những người viên mãn đôi lúc cảm thấy chán nản. Đúng hơn, chúng ta là những sinh vật bồn chồn đôi lúc tìm được nghỉ ngơi, những con người bất an đôi lúc tìm được sự thanh tĩnh, những con người bất mãn đôi lúc tìm được sự thỏa mãn.

Và trong nhiều khao khát này, có một khao khát thâm sâu hơn những khao khát khác. Điều mà chúng ta khao khát tối hậu, điều ẩn dưới mọi sự khác, chính là ái lực tinh thần, một tri kỷ, một người gặp gỡ chúng ta ở nơi thâm sâu trong tâm hồn chúng ta, một người tôn trọng mọi sự quý báu nơi chúng ta. Hơn cả khao khát tìm được ai đó ngủ cùng mình về mặt tình dục, chúng ta khao khát ai đó ngủ cùng mình về mặt tinh thần.

Như vậy có nghĩa là gì?

Có thể diễn đạt như thế này: Mỗi một người chúng ta nuôi dưỡng một ký ức mơ hồ về một thời từng được chạm đến và âu yếm bởi những bàn tay trìu mến hơn hẳn bàn tay chúng ta. Sự âu yếm đó để lại một dấu tích không phai, một ghi dấu tình yêu quá dịu dàng, quá tốt đẹp và thuần khiết đến nỗi ký ức đó trở thành lăng kính để chúng ta nhìn mọi sự khác. Các thần thoại cổ xưa diễn tả chuyện này rất hay khi bảo với chúng ta, trước khi chúng ta được sinh ra, Thiên Chúa đã hôn linh hồn chúng ta, và chúng ta bước vào cuộc đời luôn ghi nhớ nụ hôn đó một cách trực giác, đánh giá mọi sự khác bằng cách đối chiếu với nụ hôn đó, với sự thuần khiết, dịu dàng và vô điều kiện ban đầu của nụ hôn đó.

Ký ức vô thức về một thời được Thiên Chúa chạm đến và âu yếm tạo trong chúng ta một nơi thâm sâu nhất, nơi chúng ta giữ những chuyện quý báu nhất và thiêng liêng nhất của mình. Khi chúng ta nói chuyện gì đó “nghe rất đúng”, thì thật ra chúng ta đang nói, nó tôn trọng chốn thâm sâu đó trong lòng mình, nó tương hợp với chân lý, với dịu dàng và thuần khiết sâu sắc mà chúng ta đã từng trải nghiệm.

Từ nơi này xuất phát tất cả những gì là sâu sắc nhất, chân thực nhất trong chúng ta, cả những nụ hôn và giọt nước mắt. Nghịch lý thay, đây là nơi chúng ta canh giữ đề phòng người khác, dù cho đó là nơi chúng ta muốn người khác bước vào nhất, với điều kiện là người bước vào tôn trọng sự thuần khiết, dịu dàng, vô điều kiện của sự âu yếm ban đầu mà Thiên Chúa đã tạo thành chốn dịu dàng đó.

Đây là nơi của thân mật sâu thẳm và cô đơn sâu sắc, nơi chúng ta ngây thơ vô tội, nơi chúng ta bị xâm phạm, nơi chúng ta thánh thiện, là đền thờ của Thiên Chúa, là đền thiêng tôn kính và là nơi chúng ta băng hoại khi hành động trái với chân lý. Đây là trung tâm tinh thần của chúng ta, và cơn khắc khoải chúng ta cảm thấy có thể được gọi là cô đơn tinh thần. Chúng ta khao khát tri kỷ là vì nó.

Và trong khao khát này, trong khắc khoải khôn nguôi này, chúng ta được thôi thúc hướng ra ngoài, như người nữ trong sách Diễm ca, chúng ta khắc khoải tìm kiếm một người ngủ cùng mình về mặt tinh thần.

Đôi khi khao khát đó dán chặt vào một người nào đó, và sự cố định đó có thể ám ảnh đến nỗi chúng ta đánh mất tự do về cảm xúc. Như nền văn hóa của chúng ta, chúng ta cũng có thể kết luận, về căn nguyên nó là khao khát sự giao hợp tình dục. Nói như thế có phần nào đúng, mặc dù có khiếm diện. Sự giao hợp tình dục, trong dạng chân thực của có, thật sự đúng là gắn kết “thành một xác thịt” được Đấng Tạo Hóa tuyên bố sau khi lên án sự cô đơn “con người ở một mình không tốt”. Ngoài giao hợp tình dục, cuối cùng, người ta luôn phần nào cô đơn, độc thân, tách biệt, một kẻ thiểu số.

Nhưng xét tận cùng, chúng ta cô đơn ở một mức độ mà chỉ tình dục thì không đủ để thỏa mãn. Thâm sâu hơn cả khao khát bạn tình, chúng ta khao khát một ái lực tinh thần. Khao khát thâm sâu nhất của chúng ta là khao khát một người để ngủ cùng về mặt tinh thần, một tinh thần đồng điệu, một tri kỷ.

Những tình bạn và tình vợ chồng tuyệt vời nhất luôn có điều này, cụ thể là ái lực tinh thần. Những người đó là những “tình nhân” theo nghĩa sâu xa của nó, bởi vì họ ngủ với nhau ở mức độ thâm sâu, bất chấp có sự giao hợp tình dục hay không. Ở mức độ cảm giác đó, dạng tình yêu này được trải nghiệm như đi “về nhà”.

Thánh Têrêxa Hài đồng Giêsu từng nói, là con người, chúng ta là “kẻ lưu đày của tâm hồn”, và chúng ta chỉ có thể thắng vượt chuyện này bằng sự giao hợp tinh thần với người khác, nghĩa là ngủ với ngời khác trong tình thiện lành, hân hoan, an bình, nhẫn nại, tốt lành, chịu đựng và đức tin.

Nỗi cô đơn sâu thẳm nhất

2023-10-02

Nhà tâm lý học Robert Coles ở trường đại học Harvard, khi mô tả triết gia thần nghiệm người Pháp, Simone Weil, ông cho rằng điều mà bà thật sự chịu đựng và cũng là động lực cho cuộc đời của bà, chính là sự cô đơn về tinh thần. Cô đơn tinh thần là gì?

Cô đơn tinh thần là điều mà chúng ta trải nghiệm khi khắc khoải về ái lực tinh thần, nghĩa là khao khát một tri kỷ, một người gặp chúng ta, hiểu chúng ta và tôn trọng những gì thâm sâu nhất, quý báu nhất trong chúng ta.

Chúng ta cô đơn theo nhiều cách. Chúng ta cảm thấy khắc khoải dù đang trải nghiệm sự thân mật, chúng ta thấy hoài niệm về một mái ấm mà chúng ta không bao giờ thật sự tìm được. Có sự cô đơn, thao thức, một khắc khoải, khao khát, thiết tha, yêu thích, bất an, hoài niệm và vô tận trong chúng ta và chúng không bao giờ cảm thấy trọn vẹn.

Hơn nữa, sự bất tịnh này nằm ở trọng tâm chứ không phải ở bên rìa trải nghiệm của chúng ta. Chúng ta không phải là những người yên nhàn đôi lúc cảm thấy thao thức, không phải là những người thanh bình đôi lúc cảm thấy bất an, không phải là những người viên mãn đôi lúc cảm thấy chán nản. Đúng hơn, chúng ta là những sinh vật bồn chồn đôi lúc tìm được nghỉ ngơi, những con người bất an đôi lúc tìm được sự thanh tĩnh, những con người bất mãn đôi lúc tìm được sự thỏa mãn.

Và trong nhiều khao khát này, có một khao khát thâm sâu hơn những khao khát khác. Điều mà chúng ta khao khát tối hậu, điều ẩn dưới mọi sự khác, chính là ái lực tinh thần, một tri kỷ, một người gặp gỡ chúng ta ở nơi thâm sâu trong tâm hồn chúng ta, một người tôn trọng mọi sự quý báu nơi chúng ta. Hơn cả khao khát tìm được ai đó ngủ cùng mình về mặt tình dục, chúng ta khao khát ai đó ngủ cùng mình về mặt tinh thần.

Như vậy có nghĩa là gì?

Có thể diễn đạt như thế này: Mỗi một người chúng ta nuôi dưỡng một ký ức mơ hồ về một thời từng được chạm đến và âu yếm bởi những bàn tay trìu mến hơn hẳn bàn tay chúng ta. Sự âu yếm đó để lại một dấu tích không phai, một ghi dấu tình yêu quá dịu dàng, quá tốt đẹp và thuần khiết đến nỗi ký ức đó trở thành lăng kính để chúng ta nhìn mọi sự khác. Các thần thoại cổ xưa diễn tả chuyện này rất hay khi bảo với chúng ta, trước khi chúng ta được sinh ra, Thiên Chúa đã hôn linh hồn chúng ta, và chúng ta bước vào cuộc đời luôn ghi nhớ nụ hôn đó một cách trực giác, đánh giá mọi sự khác bằng cách đối chiếu với nụ hôn đó, với sự thuần khiết, dịu dàng và vô điều kiện ban đầu của nụ hôn đó.

Ký ức vô thức về một thời được Thiên Chúa chạm đến và âu yếm tạo trong chúng ta một nơi thâm sâu nhất, nơi chúng ta giữ những chuyện quý báu nhất và thiêng liêng nhất của mình. Khi chúng ta nói chuyện gì đó “nghe rất đúng”, thì thật ra chúng ta đang nói, nó tôn trọng chốn thâm sâu đó trong lòng mình, nó tương hợp với chân lý, với dịu dàng và thuần khiết sâu sắc mà chúng ta đã từng trải nghiệm.

Từ nơi này xuất phát tất cả những gì là sâu sắc nhất, chân thực nhất trong chúng ta, cả những nụ hôn và giọt nước mắt. Nghịch lý thay, đây là nơi chúng ta canh giữ đề phòng người khác, dù cho đó là nơi chúng ta muốn người khác bước vào nhất, với điều kiện là người bước vào tôn trọng sự thuần khiết, dịu dàng, vô điều kiện của sự âu yếm ban đầu mà Thiên Chúa đã tạo thành chốn dịu dàng đó.

Đây là nơi của thân mật sâu thẳm và cô đơn sâu sắc, nơi chúng ta ngây thơ vô tội, nơi chúng ta bị xâm phạm, nơi chúng ta thánh thiện, là đền thờ của Thiên Chúa, là đền thiêng tôn kính và là nơi chúng ta băng hoại khi hành động trái với chân lý. Đây là trung tâm tinh thần của chúng ta, và cơn khắc khoải chúng ta cảm thấy có thể được gọi là cô đơn tinh thần. Chúng ta khao khát tri kỷ là vì nó.

Và trong khao khát này, trong khắc khoải khôn nguôi này, chúng ta được thôi thúc hướng ra ngoài, như người nữ trong sách Diễm ca, chúng ta khắc khoải tìm kiếm một người ngủ cùng mình về mặt tinh thần.

Đôi khi khao khát đó dán chặt vào một người nào đó, và sự cố định đó có thể ám ảnh đến nỗi chúng ta đánh mất tự do về cảm xúc. Như nền văn hóa của chúng ta, chúng ta cũng có thể kết luận, về căn nguyên nó là khao khát sự giao hợp tình dục. Nói như thế có phần nào đúng, mặc dù có khiếm diện. Sự giao hợp tình dục, trong dạng chân thực của có, thật sự đúng là gắn kết “thành một xác thịt” được Đấng Tạo Hóa tuyên bố sau khi lên án sự cô đơn “con người ở một mình không tốt”. Ngoài giao hợp tình dục, cuối cùng, người ta luôn phần nào cô đơn, độc thân, tách biệt, một kẻ thiểu số.

Nhưng xét tận cùng, chúng ta cô đơn ở một mức độ mà chỉ tình dục thì không đủ để thỏa mãn. Thâm sâu hơn cả khao khát bạn tình, chúng ta khao khát một ái lực tinh thần. Khao khát thâm sâu nhất của chúng ta là khao khát một người để ngủ cùng về mặt tinh thần, một tinh thần đồng điệu, một tri kỷ.

Những tình bạn và tình vợ chồng tuyệt vời nhất luôn có điều này, cụ thể là ái lực tinh thần. Những người đó là những “tình nhân” theo nghĩa sâu xa của nó, bởi vì họ ngủ với nhau ở mức độ thâm sâu, bất chấp có sự giao hợp tình dục hay không. Ở mức độ cảm giác đó, dạng tình yêu này được trải nghiệm như đi “về nhà”.

Thánh Têrêxa Hài đồng Giêsu từng nói, là con người, chúng ta là “kẻ lưu đày của tâm hồn”, và chúng ta chỉ có thể thắng vượt chuyện này bằng sự giao hợp tinh thần với người khác, nghĩa là ngủ với ngời khác trong tình thiện lành, hân hoan, an bình, nhẫn nại, tốt lành, chịu đựng và đức tin.

Quy phục tình yêu

Có lẽ mọi lời mời gọi của Chúa Giêsu với chúng ta có thể gói gọn trong một từ: quy phục. Chúng ta cần quy phục tình yêu.

Nhưng vì sao quy phục lại khó khăn đến thế? Chẳng phải đó là điều tự nhiên nhất trên đời sao? Chẳng phải khát khao sâu thẳm nhất của chúng ta là tìm được tình yêu và quy phục tình yêu đó sao?

Đúng là vậy, khát khao sâu thẳm nhất của chúng ta là quy phục tình yêu, nhưng chúng ta có những kháng cự bẩm tại trong việc để cho bản thân quy phục. Có một vài ví dụ như thế này:

Ở bữa tiệc ly trong Phúc âm Thánh Gioan, khi Chúa Giêsu cố rửa chân cho ông Phêrô, Ngài đã gặp phải sự chống cự kiên quyết – “Không đời nào! Không đời nào con để cho thầy rửa chân cho con!” Nhưng oái oăm thay, có lẽ chính ông Phêrô lại mong mỏi có một thân thiết như thế với Chúa Giêsu hơn bất kỳ điều gì. Nhưng khi Chúa Giêsu muốn làm thì ông lại kháng cự.

Một ví dụ khác ở trong những đấu tranh của cố linh mục Henri Nouwen. Ngài là một trong những ngòi bút thiêng liêng nhiều thiên tư nhất của thế hệ chúng ta và được mến mộ rộng khắp. Ngài đã xuất bản hơn 50 quyển sách, một giáo sư được nhiều người theo học (với biên chế ở cả đại học Harvard và Yale), ngày nào cũng có người mời ngài đi diễn thuyết khắp thế giới, và ngài có rất nhiều bạn thân.

Nhưng giữa sự nổi tiếng và ngưỡng mộ, giữa nhiều bạn bè yêu mến, ngài lại không thể để cho mình thật sự cảm nhận tình yêu này, rằng mình được yêu hay đáng được yêu. Thay vào đó, trong suốt cuộc đời ngài, ngài đấu tranh với nỗi lo âu sâu sắc làm cho ngài nghĩ rằng mình không đáng được yêu. Có lần cảm nhận này làm cho ngài bị trầm cảm. Và suốt cuộc đời trưởng thành của ngài, dù được chung quanh bao phủ tình thương, nhưng ngài lại bị ám ảnh mình không được yêu, không xứng đáng được yêu. Hơn nữa, ngài là người vô cùng nhạy cảm, muốn quy phục tình yêu hơn bất kỳ điều gì. Điều gì đã kìm hãm ngài?

Theo lời ngài, thì ngài bị khiếm khuyết do một vết thương sâu xa mà ngài không thể gọi tên và không thể buông bỏ. Trong hầu hết cuộc đời trưởng thành của ngài, chuyện đúng là như thế. Cuối cùng, ngài cũng đã giải phóng mình khỏi vết thương sâu xa này và quy phục tình yêu. Tuy nhiên, ngài phải trải qua một trải nghiệm cận tử đầy đau đớn mới được như vậy. Một sáng nọ khi đứng quá gần đường cao tốc ở trạm xe buýt, ngài bị kính chiếu hậu của một chiếc xe van chạy qua đụng phải và văng ra xa. Được đưa đến bệnh viện cấp cứu, ngài đã trải qua mấy tiếng đồng hồ để giành giật sự sống. Khi ở trong tình trạng này, ngài có một trải nghiệm rất sâu sắc về tình yêu mà Thiên Chúa dành cho mình. Khi hồi tỉnh và trở lại cuộc sống bình thường, ngài đã thay đổi hoàn toàn. Sau trải nghiệm tình yêu Thiên Chúa dành cho mình, cuối cùng ngài đầu hàng trước tình yêu của con người theo cách mà trước trải nghiệm cận tử đó ngài không thể làm. Mọi quyển sách ngài viết sau đó đều ghi dấu sự biến đổi này về tình yêu.

Tại sao chúng ta đấu tranh với tình yêu? Tại sao chúng ta không quy phục tình yêu dễ dàng hơn? Mỗi người có một lý do độc nhất vô nhị riêng của mình. Đôi khi, chúng ta có một tổn thương sâu xa làm chúng ta cảm thấy mình không đáng được yêu. Nhưng đôi khi sự chống cự của chúng ta không liên quan đến tổn thương cho bằng do chúng ta vô thức đấu tranh với tình yêu mà chúng ta khắc khoải kiếm tìm. Và đôi khi, cũng như ông Giacóp trong Thánh Kinh, chúng ta vô thức vật lộn với Thiên Chúa (là Tình yêu) và do đó vô thức đấu tranh với tình yêu.

Trong câu chuyện ông Giacóp vật lộn cả đêm với một người, chúng ta thấy trong cuộc giao tranh này, ông không ý thức được mình đang đánh nhau với Thiên Chúa và tình yêu. Trong đầu ông nghĩ mình đang vật nhau với một kẻ địch mà ông cần chinh phục. Cuối cùng, khi màn đêm nhường chỗ cho ánh sáng, ông thấy được mình đang vật nhau với ai, và đã làm cho ông kinh ngạc bàng hoàng. Ông nhận ra mình đã vật nhau với tình yêu. Nhận ra như thế, ông không đấu tranh nữa, mà ôm lấy người ông đã giao đấu, nài nỉ: “Tôi sẽ không để ngài đi, nếu ngài chưa chúc phúc cho tôi!”

Đây là bài học cuối cùng mà chúng ta cần học trong tình yêu: Chúng ta vật lộn vì tình yêu bằng hết tài năng, trí khôn và sức mạnh của mình. Cuối cùng, nếu may mắn, chúng ta sẽ thức tỉnh. Một ánh sáng, thường là thảm bại đến tàn phế, cho chúng ta nhìn thấy khuôn mặt thật của người mà chúng ta đang giao đấu, và chúng ta nhận ra đây không phải là điều mà chúng ta cần chinh phục, đây chính là tình yêu mà chúng ta khao khát quy phục.

Với nhiều người chúng ta, đây sẽ là sự thức tỉnh lớn lao trong đời, sự thức tỉnh trước sự thật rằng với mọi tham vọng và trù tính để chúng ta chứng tỏ cho người khác thấy mình xứng đáng và đáng được yêu như thế nào, chúng ta vô thức chiến đấu với chính tình yêu mà chúng ta vô cùng mong muốn quy phục. Và thường là như ông Giacóp trong Kinh thánh, chúng ta cần bị đánh bại, bị tàn phế thì mới nhận ra rằng điều chúng ta đang giao chiến thật ra là điều mà chúng ta muốn quy phục.

Và đây là quy phục chứ không phải từ bỏ, đây là điều mà chúng ta đem lại cho mình thay vì là nó đánh bại chúng ta.

Quy phục tình yêu

2023-09-25

Có lẽ mọi lời mời gọi của Chúa Giêsu với chúng ta có thể gói gọn trong một từ: quy phục. Chúng ta cần quy phục tình yêu.

Nhưng vì sao quy phục lại khó khăn đến thế? Chẳng phải đó là điều tự nhiên nhất trên đời sao? Chẳng phải khát khao sâu thẳm nhất của chúng ta là tìm được tình yêu và quy phục tình yêu đó sao?

Đúng là vậy, khát khao sâu thẳm nhất của chúng ta là quy phục tình yêu, nhưng chúng ta có những kháng cự bẩm tại trong việc để cho bản thân quy phục. Có một vài ví dụ như thế này:

Ở bữa tiệc ly trong Phúc âm Thánh Gioan, khi Chúa Giêsu cố rửa chân cho ông Phêrô, Ngài đã gặp phải sự chống cự kiên quyết – “Không đời nào! Không đời nào con để cho thầy rửa chân cho con!” Nhưng oái oăm thay, có lẽ chính ông Phêrô lại mong mỏi có một thân thiết như thế với Chúa Giêsu hơn bất kỳ điều gì. Nhưng khi Chúa Giêsu muốn làm thì ông lại kháng cự.

Một ví dụ khác ở trong những đấu tranh của cố linh mục Henri Nouwen. Ngài là một trong những ngòi bút thiêng liêng nhiều thiên tư nhất của thế hệ chúng ta và được mến mộ rộng khắp. Ngài đã xuất bản hơn 50 quyển sách, một giáo sư được nhiều người theo học (với biên chế ở cả đại học Harvard và Yale), ngày nào cũng có người mời ngài đi diễn thuyết khắp thế giới, và ngài có rất nhiều bạn thân.

Nhưng giữa sự nổi tiếng và ngưỡng mộ, giữa nhiều bạn bè yêu mến, ngài lại không thể để cho mình thật sự cảm nhận tình yêu này, rằng mình được yêu hay đáng được yêu. Thay vào đó, trong suốt cuộc đời ngài, ngài đấu tranh với nỗi lo âu sâu sắc làm cho ngài nghĩ rằng mình không đáng được yêu. Có lần cảm nhận này làm cho ngài bị trầm cảm. Và suốt cuộc đời trưởng thành của ngài, dù được chung quanh bao phủ tình thương, nhưng ngài lại bị ám ảnh mình không được yêu, không xứng đáng được yêu. Hơn nữa, ngài là người vô cùng nhạy cảm, muốn quy phục tình yêu hơn bất kỳ điều gì. Điều gì đã kìm hãm ngài?

Theo lời ngài, thì ngài bị khiếm khuyết do một vết thương sâu xa mà ngài không thể gọi tên và không thể buông bỏ. Trong hầu hết cuộc đời trưởng thành của ngài, chuyện đúng là như thế. Cuối cùng, ngài cũng đã giải phóng mình khỏi vết thương sâu xa này và quy phục tình yêu. Tuy nhiên, ngài phải trải qua một trải nghiệm cận tử đầy đau đớn mới được như vậy. Một sáng nọ khi đứng quá gần đường cao tốc ở trạm xe buýt, ngài bị kính chiếu hậu của một chiếc xe van chạy qua đụng phải và văng ra xa. Được đưa đến bệnh viện cấp cứu, ngài đã trải qua mấy tiếng đồng hồ để giành giật sự sống. Khi ở trong tình trạng này, ngài có một trải nghiệm rất sâu sắc về tình yêu mà Thiên Chúa dành cho mình. Khi hồi tỉnh và trở lại cuộc sống bình thường, ngài đã thay đổi hoàn toàn. Sau trải nghiệm tình yêu Thiên Chúa dành cho mình, cuối cùng ngài đầu hàng trước tình yêu của con người theo cách mà trước trải nghiệm cận tử đó ngài không thể làm. Mọi quyển sách ngài viết sau đó đều ghi dấu sự biến đổi này về tình yêu.

Tại sao chúng ta đấu tranh với tình yêu? Tại sao chúng ta không quy phục tình yêu dễ dàng hơn? Mỗi người có một lý do độc nhất vô nhị riêng của mình. Đôi khi, chúng ta có một tổn thương sâu xa làm chúng ta cảm thấy mình không đáng được yêu. Nhưng đôi khi sự chống cự của chúng ta không liên quan đến tổn thương cho bằng do chúng ta vô thức đấu tranh với tình yêu mà chúng ta khắc khoải kiếm tìm. Và đôi khi, cũng như ông Giacóp trong Thánh Kinh, chúng ta vô thức vật lộn với Thiên Chúa (là Tình yêu) và do đó vô thức đấu tranh với tình yêu.

Trong câu chuyện ông Giacóp vật lộn cả đêm với một người, chúng ta thấy trong cuộc giao tranh này, ông không ý thức được mình đang đánh nhau với Thiên Chúa và tình yêu. Trong đầu ông nghĩ mình đang vật nhau với một kẻ địch mà ông cần chinh phục. Cuối cùng, khi màn đêm nhường chỗ cho ánh sáng, ông thấy được mình đang vật nhau với ai, và đã làm cho ông kinh ngạc bàng hoàng. Ông nhận ra mình đã vật nhau với tình yêu. Nhận ra như thế, ông không đấu tranh nữa, mà ôm lấy người ông đã giao đấu, nài nỉ: “Tôi sẽ không để ngài đi, nếu ngài chưa chúc phúc cho tôi!”

Đây là bài học cuối cùng mà chúng ta cần học trong tình yêu: Chúng ta vật lộn vì tình yêu bằng hết tài năng, trí khôn và sức mạnh của mình. Cuối cùng, nếu may mắn, chúng ta sẽ thức tỉnh. Một ánh sáng, thường là thảm bại đến tàn phế, cho chúng ta nhìn thấy khuôn mặt thật của người mà chúng ta đang giao đấu, và chúng ta nhận ra đây không phải là điều mà chúng ta cần chinh phục, đây chính là tình yêu mà chúng ta khao khát quy phục.

Với nhiều người chúng ta, đây sẽ là sự thức tỉnh lớn lao trong đời, sự thức tỉnh trước sự thật rằng với mọi tham vọng và trù tính để chúng ta chứng tỏ cho người khác thấy mình xứng đáng và đáng được yêu như thế nào, chúng ta vô thức chiến đấu với chính tình yêu mà chúng ta vô cùng mong muốn quy phục. Và thường là như ông Giacóp trong Kinh thánh, chúng ta cần bị đánh bại, bị tàn phế thì mới nhận ra rằng điều chúng ta đang giao chiến thật ra là điều mà chúng ta muốn quy phục.

Và đây là quy phục chứ không phải từ bỏ, đây là điều mà chúng ta đem lại cho mình thay vì là nó đánh bại chúng ta.

Một câu gói gọn cho tất cả!

“Lạy Chúa, Ngài đã tạo chúng con cho Ngài, tâm hồn chúng con khắc khoải mãi cho đến khi được nghỉ an trong Ngài”.

Không một dòng nào ngoài Kinh Thánh đã đi vào tâm hồn tôi một cách mạnh mẽ, vững bền và khắc sâu cho bằng dòng này của Thánh Augutinô. Căn bản, đây là câu chuyện đời của Thánh Augutinô và cũng là câu chuyện đời của mỗi chúng ta.

Khi đọc và nghiên cứu và được đánh động mạnh bởi một dòng đầy mãnh lực của một tác giả nào đó, tôi liền gạch chân dòng đó và chép lại. Tôi có cả một quyển tập những câu trích của Shakespeare, Aristotle, Plato, Tôma Aquinô, Teilhard, Einstein, Albert Camus, Steve Hawkings, Doris Lessing, Milan Kundera, John Steinbeck, Karl Rahner, Gioan Thánh Giá, Ruth Burrows, James Hillman, Anne Frank, Ivan Illich cùng những người khác. Nhưng câu ghi khắc của Thánh Augutinô vượt trên tất cả.

Điều ngài nêu lên ở đây, trong mỗi chúng ta có một khắc khoải khôn nguôi làm chúng ta cứ bồn chồn không dứt. Tôi luôn cảm thấy rất rõ điều này trong đời mình, và ở tuổi hai mươi, tôi đã viết quyển sách Quả tim Thao thức (The Restless Heart), trong đó tôi cố đưa ra một linh đạo cho người khắc khoải (và có lẽ chủ yếu là cho chính tôi) với nền tảng chủ yếu là câu này của Thánh Augutinô. Nhiều năm trôi qua, tôi vẫn mở to mắt tìm kiếm những thành ngữ bổ sung và dễ đối chiếu về châm ngôn trứ danh này của Thánh Augutinô. Có một số câu như sau:

Karl Rahner, một thần học gia trứ danh của thế kỷ 20 vừa qua, khi viết thư cho người bạn đang sợ mình bị lỡ mất quá nhiều điều trong đời, ngài đã khuyên: “Trong nỗi giày vò của sự thiếu hụt tất cả mọi thứ có thể đạt được, đến tận cùng, chúng ta học để biết rằng, trong đời này, tất cả mọi bản nhạc giao hưởng đều dang dở”.

Còn tác giả Qoheleth viết sách Giảng viên trong Cựu Ước, trong đoạn văn vốn quen thuộc với hầu hết chúng ta, (“mọi sự đều có lúc, mọi việc đều có thời”), tác giả mang đến cho chúng ta nhịp điệu tự nhiên đã được Thiên Chúa sắp đặt. Ông nói, thời gian và tự nhiên có nhịp điệu tuyệt mỹ và mọi sự đều có thời, có chốn thích đáng của nó. Tuy nhiên, ông kết lại với câu: Thiên Chúa đã làm mọi sự hợp thời đúng lúc, nhưng Thiên Chúa đã đưa sự vô tận vào tâm hồn con người, nên từ đầu đến cuối, chúng ta cứ lạc nhịp với thời gian và các thời. Chúng ta không bao giờ ăn khớp với nhịp điệu của vạn vật vì trong chúng ta có điều gì đó nằm ngoài thời gian.

Và ai có thể quên được những lời đầy ám ảnh của Anne Frank, thiếu nữ thu mình trên căn gác xếp để trốn quân phát xít, bàng hoàng trước sự khắc khoải của một thiếu niên và sự băn khoăn của một nghệ sĩ, cô tâm sự đơn sơ, cô không bao giờ có thể hoàn toàn ở trong khoảnh khắc hiện tại vì “Tôi muốn ở mọi nơi cùng một lúc”.

Bà Doris Lessing, tiểu thuyết gia người Anh, nêu lên rằng trong mỗi chúng ta có một năng lượng mạnh mẽ không hề nguôi ngoai (“dòng điện cao thế 1000 vôn”) và nó làm chúng ta bồn chồn luôn mãi. Với dòng văn ngoài quan điểm đức tin, bà hỏi sinh lực này để làm gì? Và câu trả lời của bà: Vì tất cả và vì bất kỳ sự gì – sáng tạo, tình yêu, tình dục, công lý. Nhà văn Nobel Albert Camus, cũng viết ngoài quan điểm đức tin, ông có cách hiểu rất thú vị về linh hồn con người. Ông so sánh việc ở trong bản tính con người với việc bị kẹt trong nhà tù trung cổ. Các nhà tù trung cổ nhằm để triệt tinh thần của tù nhân bằng cách nhét họ trong căn phòng rất chật, chật đến mức họ không thể nào đứng thẳng hay giãn thẳng người. Trần quá thấp, phòng quá hẹp. Mục đích là để bẻ gãy tinh thần của tù nhân. Với Camus, đó là cách chúng ta cảm nghiệm bản thân bên trong bản tính của mình. Thế giới đơn giản là quá nhỏ với chúng ta, không đủ để chúng ta đứng thẳng hay giãn người, và nó vắt kiệt tinh thần chúng ta.

Trên đây là những câu rất sâu sắc nói về sự bồn chồn này, nhưng thật ra chúng có khắp nơi. Ấn giáo nói về một “hoài niệm về sự vô tận” nào đó trong chúng ta, Plato nói về “sự điên loạn thần thánh” ở trung tâm linh hồn, Shakespeare nói về “khao khát bất tử, bà Ruth Burrows thì mở đầu tự truyện bằng lời thú nhận mình bẩm sinh có một phức tạp bệnh lý làm bà phải đấu tranh cả đời; nhà tâm lý học James Hillman, trong quyển sách sâu sắc Tự tử và Linh hồn (Suicide and the Soul), nêu lên hầu hết các vụ tử tử là vì linh hồn không được lắng nghe nên hậu quả là nó giết chết thân xác, còn tác giả Philip Roth thì nói về trận bão những chi tiết cấu thành sự hỗn độn của đời người.

Văn học, triết học, thi ca, nghệ thuật, tâm lý học, tiểu sử, thần học, và linh đạo đầy những biểu đạt về khao khát vô độ trong linh hồn con người vốn cuối cùng không thể nào hoàn toàn hòa hợp với bất kỳ điều gì trên đời. Nhưng nó phải như thế. Với Thánh Augutinô, cách đây 1700 năm, thì sự khắc khoải, sự vô tận, nỗi nhớ nhà, cơn điên loạn thần thánh, dòng điện cao thế 1000 vôn trong chúng ta, sự phức tạp bệnh lý và sự hỗn độn của đời người này, chúng giữ cho chúng ta luôn mãi khắc khoải, và đến tận cùng, nó là thuộc tính tốt nhất của chúng ta, là ơn Thiên Chúa ban cho chúng ta, là sự bất tử và thần thánh như một phần cấu thành linh hồn chúng ta.

Hai mặt của đạo đức giả

Sự tinh vi của đạo đức giả! Dù chúng ta nhìn thấy thật rõ lỗi lầm của người khác, nhưng không dễ để nhận ra sự bất nhất quán của mình. Chúng ta cố tình mù quáng, hay chỉ là chúng ta không nhìn thấy? Đây là vấn đề đạo đức hay vấn đề tầm nhìn? Tôi xin đưa ra vài ví dụ để chúng ta xem xét.

Trong những chuyến du hành của thuyền trưởng James Cook, nhà thánh hiểm thế kỷ 18, ông đã ở vài năm trên quần đảo Polynesia. Ông học thổ ngữ và kết bạn với thổ dân. Một hôm, họ đưa ông đi xem lễ hiến tế người. Bộ lạc này vẫn theo tín ngưỡng vật linh và đôi khi hiến tế người làm của lễ dâng lên các thần. Chúng ta có thể hiểu được vì sao ông Cook, một người Anh tinh tế, lại bị choáng váng. Ông viết trong nhật ký, ông đã rất căm phẫn với tộc trưởng: “Thật kinh khủng! Các ông là người sơ khai. Ở Anh mà các ông làm vậy là sẽ bị treo cổ!”

Trong phản ứng của ông có một điều mỉa mai mà các nhà nhân học không thể bỏ qua. Là khi chúng ta giết người nhân danh Thiên Chúa, thì hiến tế người cũng như án tử hình. Cách nào thì chúng ta cũng hiến tế một sinh mạng và lấy danh Thiên Chúa mà biện minh cho nó.

Ví dụ thứ hai là trong những bài viết của Bill Plotkin, người từng nghiên cứu các nghi thức khai mở mà các bộ lạc cận đại dùng để khai mở các cô cậu đến tuổi dậy thì. Như chúng ta biết, tuổi dậy thì có thể là thời gian nguy hiểm cho một người trẻ. Dậy thì đánh mạnh vào cơ thể lẫn tâm lý của người trẻ. Tuy nhiên, phải nhớ rằng lực bất ổn mạnh mẽ này đã được Thiên Chúa và tự nhiên tạo ra với một mục đích rõ ràng, là để thôi thúc chúng ta rời nhà, thúc đẩy chúng ta tìm một mái ấm cho riêng mình, kết thúc thời thơ ấu và bước vào tuổi trưởng thành. Dễ hiểu khi việc này cần đến những sinh lực mạnh mẽ để có thể thực hiện.

Nhưng những sinh lực này có thể khó kiềm chế và khó khai mở theo hướng trưởng thành. Thật vậy, hầu hết các nền văn hóa cận đại đều có các nghi thức khai mở giúp định hướng cho quá trình đó. Ngày nay, hầu hết các văn hóa (chứ không chỉ riêng chúng ta) ít trân trọng những nghi thức khai mở rõ ràng này. Điều mà Plotkin phát hiện trong nghiên cứu của ông về các nghi thức khai mở cận đại, là tất cả chúng đều rất thử thách và đòi hỏi, về mặt thể lý, cảm xúc và đôi khi người trẻ phải mất mạng trong quá trình đó.

Nhìn vào chuyện này, Plotkin bình luận, những nhạy cảm hiện đại của chúng ta sẽ cảm thấy mình bị xúc phạm bởi cái có vẻ như là sự tàn bạo sơ khai này. Chúng ta dễ dàng thấy căm phẫn về mặt luân lý và thấy những việc này là lạc hậu và tàn ác. Tuy nhiên, ông cho thấy, thật sự các bộ lạc này mất rất ít người trẻ trong những nghi thức chuyển tiếp từ tuổi dậy thì sang trưởng thành đó, trong khi chúng ta, những nền văn hóa hiện đại vi tế, lại mất hàng ngàn người trẻ mỗi năm, khi họ đang cố tự khai mở mình bằng cách dùng ma túy, rượu chè, tình dục, xe hơi, băng đảng và những hành vi mạo hiểm.

Như Chúa Giêsu đã nói, thật dễ để thấy cái rác trong mắt người, còn cái xà trong mắt mình thì không thấy.

Tôi nói mọi chuyện này với lòng cảm thông hơn là phán xét, vì đạo đức giả không phải chỉ có một loại. Có đạo đức giả kiểu chủ tâm mù quáng, và có đạo đức giả với sự mù quáng ngây thơ. Thánh Tôma Aquinô từng phân biệt hai loại vô tri này. Với ngài, có sự vô tri đáng tội và có sự vô tri bất bại, nghĩa là đôi khi chúng ta không nhìn thấy vì chúng ta không muốn thấy, và đôi khi chúng ta không thấy bởi vì chúng ta không thể thấy.

Trong sự vô tri đáng tội, chúng ta biết rõ. Chỉ là chúng ta không chịu nhìn vào chuyện gì đó vì chúng ta không muốn thấy sự thật. Khả năng không nhìn không thấy này căn cứ vào lý luận và nỗi sợ, một sự từ chối có chủ tâm, chúng ta sợ sẽ thấy điều mình không muốn thấy, thấy ra sự thật bất tiện cho mình. Trong sự vô tri đáng tội, chúng ta không thấy được sự tương đồng giữa hiến tế người và án tử hình, bởi vì chúng ta đã trực cảm mối liên kết đó và chúng ta không muốn thấy nó, nên đã từ chối không nhìn.

Còn trong sự vô tri bất bại thì chúng ta không biết rõ. Những thiếu sót của chúng ta có liên quan đến những giới hạn của nhân tính, của xuất thân và trải nghiệm. Chúng ta không sợ nhìn vào hiện thực. Chúng ta nhìn nhưng đơn giản là không thấy. Như thuyền trưởng Cook, với hết lòng thật tâm, chúng ta đơn giản là không thấy được sự tương đồng giữa hiến tế người và án tử hình, và không như Bill Plotkin, chúng ta có thể dễ dàng phán xét nghi thức khai mở cận đại là tàn ác và kinh khủng, kể cả khi hàng ngàn người trẻ của chúng ta đang chết một cách vô lý kinh khủng khi họ cố gắng tìm ra cây cầu nối giữa dậy thì và trưởng thành.

Tất cả chúng ta, bảo thủ hay tự do, đều có những điểm mù về cách mình thấy và tiếp cận những vấn đề công bằng xã hội, dù là biến đổi khí hậu, nghèo đói, phá thai, nhập cư, tị nạn, kỳ thị chủng tộc, bình đẳng nữ giới hay vấn đề giới tính. Đứng trước những vấn đề phức tạp này, chúng ta sẵn sàng nhìn thẳng vào chúng, hay chúng ta thật sự không sẵn sàng xem xét chúng, vì chúng ta đã trực cảm được mình sẽ thấy những gì? Vậy sự mù quáng và giả hình của chúng ta là đáng tội hay bất bại?

Sự cho phép của Chúa trước mệt mỏi của con người

Có người từng hỏi Thánh Têrêxa Hài đồng Giêsu ngủ gật khi cầu nguyện có sai trái không. Ngài trả lời: “Tuyệt đối không. Một đứa bé dù ngủ hay thức đều làm cho cha mẹ vui lòng, có khi lúc ngủ nó còn làm cho cha mẹ vui lòng hơn!”

Đó là một câu trả lời nồng ấm, còn hơn cả dễ thương. Trong câu trả lời của Thánh Têrêxa, có một khôn ngoan mà hầu hết chúng ta đánh mất, đó là ý thức, Thiên Chúa hiểu tình trạng con người và cho chúng ta được phép thiêng liêng để làm con người, ngay cả trong những dấn thân thiêng liêng và quan trọng nhất của chúng ta.

Gần đây, điều này đã đánh động tôi qua một bài giảng. Một linh mục chân thành và tận tâm thách thức chúng ta, với ý niệm Thiên Chúa phải luôn là số một trong cuộc sống chúng ta. Như vậy thì tốt đẹp tất cả. Nhưng rồi cha chia sẻ, cha buồn lòng mỗi khi nghe mọi người nói kiểu: “Đi lễ chiều thứ bảy, cho xong cho rồi”. Hoặc khi người đi lễ nói: “Hôm nay nên làm lễ ngắn thôi, vì buổi trưa là trận đấu bắt đầu rồi”. Cha cho rằng những câu như thế để lộ sự yếu đuối nghiêm trọng trong đời sống cầu nguyện của chúng ta. có đúng vậy không?

Có lẽ là có, có lẽ là không. Những câu như thế có thể nói lên sự lười biếng, ơ hờ về đường thiêng liêng hoặc có những ưu tiên sai lầm. Chúng cũng có thể là biểu hiện của mệt mỏi con người, rất bình thường và rất dễ hiểu, một mệt mỏi mà Thiên Chúa, Đấng tạo ra bản tính con người, cho chúng ta được phép cảm nhận.

Có thể, và thường xuyên, có một tâm thức ngây thơ về vị trí của nhiệt huyết và tinh thần cao trong đời sống chúng ta. Ví dụ, chúng ta hình dung một gia đình, với ý định tốt đẹp, quyết định để tăng tinh thần gia đình, mọi bữa ăn tối đều phải là bàn tiệc thịnh soạn, yêu cầu tất cả mọi người trong nhà phải tham dự và hăng hái suốt 90 phút. Chúc may mắn cho họ! Có ngày cách này sẽ tăng sự gắn kết, nơi bàn ăn mọi người sẽ nhiệt tình hăng hái, nhưng chẳng bao lâu sau, cách này sẽ không bền về mặt tinh thần cho mọi người, có một, hai người sẽ nói thầm “làm cho xong cho rồi”, hoặc “rút ngắn chút được không vì tối nay có trận bóng lúc 7 giờ”. Cứ cho là chuyện này thể hiện một thái độ không hứng thú, nhưng khả năng cao hơn, nó chỉ là biểu hiện có lý do của một mệt mỏi bình thường.

Không ai trong chúng ta có thể duy trì tinh thần và nhiệt huyết mãi được. Và chúng ta cũng không được mặc định như thế. Cuộc đời chúng ta là cuộc chạy marathon đường dài chứ không chạy nước rút. Chính vì thế chuyện tốt đẹp, đôi khi chúng ta cần có những bữa tiệc lâu giờ và đôi khi chúng ta cũng cần những bữa ăn đơn giản, ăn vội miếng bánh mì thịt. Thiên Chúa và tự nhiên cho phép chúng ta đôi khi nói “làm cho xong cho rồi”, và đôi khi gấp gáp để khỏi hụt trận bóng.

Hơn nữa, ngoài chuyện đặt nặng sự mệt mỏi, thiếu năng lượng bình thường vẫn còn một chuyện khác, quan trọng hơn. Tinh thần nhiệt huyết hoặc thiếu tinh thần nhiệt huyết không nhất thiết phải mang ý nghĩa gì đó. Chúng ta có thể làm một việc gì đó, vì nó có hiệu quả với chúng ta, hoặc chúng ta có thể làm việc gì đó đơn giản chỉ vì nó có giá trị riêng, không liên quan đến cảm giác của chúng ta lúc đó. Nhưng chúng ta lại quá thường xuyên không hiểu chuyện này. Ví dụ, khi giải thích vì sao không còn dự các buổi phụng vụ ở nhà thờ nữa, người ta thường nói “nó chẳng có ý nghĩa gì với tôi”. Khi nói thế, cái họ không thấy là sự thật, việc cùng nhau ở trong nhà thờ, tự nó đã có ý nghĩa rồi, và nó không liên quan đến cảm giác của chúng ta lúc đó. Một buổi phụng vụ tự nó có ý nghĩa, cũng hệt như đi thăm mẹ già của mình. Bạn làm thế không phải vì bạn luôn háo hức về chuyện đó hoặc vì nó luôn đem lại cảm xúc tốt đẹp. Không. Bạn làm thế vì đó là mẹ của bạn, vì đó là điều mà Thiên Chúa, tự nhiên và sự trưởng thành yêu cầu chúng ta làm.

Bữa ăn gia đình cũng vậy. Bạn không nhất thiết phải ăn tối cùng cả nhà với một niềm hăng say. Bạn ăn tối với cả nhà vì đây là cách các gia đình duy trì đời sống chung. Sẽ có những lúc bạn tham dự với tinh thần cao và cảm kích sự quý báu của thời khắc đó và thời gian dài của bữa tối đó. Nhưng sẽ có những lúc, bất chấp bạn ý thức rất rõ rằng ở cùng nhau như thế này là việc quan trọng, nhưng bạn sẽ muốn làm cho xong cho rồi, hoặc liếc nhìn đồng hồ và nhẩm xem bao nhiêu phút nữa là vào trận bóng.

Vì thế, Kinh Thánh dạy chúng ta hãy tránh những bạn của ông Gióp. Về lời khuyên thiêng liêng trong lĩnh vực này, là hãy tránh những người mới nhập môn thiêng liêng, những người mộ đạo quá mức, những người ngây thơ về nhân học, những người đang hưởng tuần trăng mật, những người mới trở lại đạo, và ít nhất một nửa số nhà phụng vụ và người dẫn dắt việc thờ phượng. Sổ tay hướng dẫn đích thực cho hôn nhân không bao giờ là tác phẩm của hai người đang trong thời kỳ trăng mật, và sổ tay hướng dẫn đích thực cho cầu nguyện không bao giờ từ ngòi bút của người nghĩ rằng lúc nào mình cũng đầy tinh thần cao ngút. Hãy tìm người thầy đường thiêng liêng thách thức bạn đủ để giữ bạn tránh sự ích kỷ và lười biếng của mình, kể cả khi người đó cho bạn quyền thiêng liêng là được đôi khi mệt mỏi. Một con người cầu nguyện là điều đẹp lòng Thiên Chúa, dù nhiệt tình hay mệt mỏi, có lẽ khi mệt mỏi còn đẹp lòng hơn.

Từ bỏ nỗi sợ

Một người bạn của tôi chia sẻ câu chuyện sau. Ông là con một trong gia đình. Năm ông ở tuổi đôi mươi, ông vẫn còn độc thân, ông gây dựng sự nghiệp thành công và sống cùng thành phố với cha mẹ, thì bỗng một hôm người cha qua đời, để lại người mẹ góa. Cả đời người mẹ sống cho gia đình và đứa con một, nên việc tinh thần bà bị suy sụp nặng nề là dễ hiểu. Phần lớn thế giới của bà đã sụp đổ, bà mất chồng, nhưng bà còn đứa con trai.

Những năm tiếp theo không phải là những năm nhẹ nhàng cho con trai bà. Thế giới của người mẹ bị tan nát quá nhiều, trừ người con một này, và anh cảm thấy mình có trách nhiệm nặng nề với mẹ. Bà sống nhờ những lần anh về thăm nhà. Những ngày nghỉ và kỳ nghỉ lễ, anh đều dành thì giờ để ở bên bà. Anh thương mẹ lắm, nhưng đó lại là gánh nặng ngăn cản anh có cuộc sống xã giao và được tự do quan hệ như anh mong muốn, nó cũng ngăn cản anh có vài quyết định nghề nghiệp khác nữa. Anh phải chăm sóc mẹ, phải ở bên cạnh bà. Như mọi người có thể đoán được, thời gian hai mẹ con ở bên nhau là thử thách cho lòng trung thành và bổn phận của người con trai. Nhưng từ năm này qua năm khác, anh đã trung thành. Mẹ anh đâu còn ai khác để trông cậy.

Khi sức khỏe mẹ anh bắt đầu đi xuống, bà bán nhà và dọn vào ở một khu phức hợp dành cho người lớn tuổi. Hầu hết thời gian rảnh rỗi, anh dành để đưa đón mẹ, chở bà ra miền quê hóng gió, đưa bà đi ăn trước khi chở bà về lại căn phòng nhỏ của bà. Một hôm, trong một lần đi chơi, khi anh lái xe dọc con đường quê lặng lẽ, mẹ anh phá tan sự thinh lặng bằng những lời vừa làm anh ngạc nhiên, vừa làm anh chú ý, vì đây là lần đầu tiên sau một thời gian dài bà lên tiếng.

Bà nói những lời mang một tác động thật mạnh:: “Đời mẹ đã có một chuyện trọng đại. Mẹ đã từ bỏ nỗi sợ rồi. Suốt đời mẹ đã sợ đủ thứ, sợ không đúng tiêu chuẩn, không đủ tốt, sợ mình tẻ nhạt, sợ bị loại trừ, sợ cô đơn, sợ cuối cùng rơi vào cảnh đơn độc, không tiền bạc, không nhà cửa, sợ người khác nói xấu sau lưng. Mẹ đã sợ cả cái bóng của mình. Mẹ đã từ bỏ nỗi sợ rồi. Sao lại không bỏ chứ? Mẹ đã mất tất cả, mất chồng, mất địa vị xã hội, mất căn nhà, mất thân xác tuổi trẻ, mất sức khỏe, mất hàm răng, mất cả phẩm giá. Mẹ chẳng còn gì để mất nữa, và con biết sao không? Như vậy lại là tốt! Mẹ không còn sợ gì nữa. Mẹ cảm thấy tự do như chưa từng có. Mẹ đã từ bỏ nỗi sợ rồi”.

Lần đầu tiên sau một thời gian dài, anh chăm chú lắng nghe mẹ. Anh cũng cảm nhận một điều gì đó mới mẻ nơi bà, một sức mạnh mới và một khôn ngoan sâu đậm hơn mà anh muốn có. Lần tiếp theo chở bà đi chơi, anh nói với mẹ: “Mẹ ơi, mẹ dạy con cái đó đi. Dạy con đừng sợ hãi”.

Bà sống thêm hai năm nữa, và trong hai năm đó, anh đưa bà đi dạo miền quê, đi ăn trưa, ăn tối, và nơi bà, nơi sức mạnh mới của bà, anh hấp thụ được điều gì đó mà trước đây anh không hề hấp thụ được. Khi cuối cùng bà qua đời, khi anh mất đi sự hiện diện của bà trên đời, anh chỉ có thể mô tả những năm tháng cuối đời của bà bằng câu nói kinh điển: “Mẹ tôi đã sinh tôi hai lần, một lần từ hạ giới, và một lần từ thượng giới,”

Không dễ để từ bỏ nỗi sợ, cũng không dễ để dạy người khác cách làm. Nỗi sợ chiếm giữ chúng ta, vì gần như cả đời, chúng ta có quá nhiều thứ để mất nên sợ. Vì thế, cũng dễ hiểu, gần như cả đời chúng ta khó mà không sống với nỗi sợ. Hơn nữa, đây không phải là vấn đề trưởng thành hay nông nổi, tâm linh hay trần tục. Thật vậy, đôi khi càng trưởng thành và tâm linh, chúng ta càng trân trọng sinh mạng, sức khỏe, gia đình, tình bạn hay cộng đồng, tất cả những điều này có sự mỏng manh riêng của nó và đó là điều chúng ta có thể mất đi. Chúng ta có những lý do chính đáng để sợ.

Không phải tình cờ khi mẹ của bạn tôi chỉ vượt lên được nỗi sợ sau khi bà đã mất hết mọi thứ trong đời. Thiên Chúa và tự nhiên nhận ra điều này và đã viết nó vào quá trình lão hóa chúng ta. Quá trình lão hóa được thiết kế để đưa chúng ta đến mức có thể từ bỏ nỗi sợ, vì khi chúng ta già đi, khi chúng ta ngày càng mất sức khỏe, mất tầm ảnh hưởng trên thế giới, mất vẻ đẹp hình thể, khi những người thân yêu đã qua đời, và thậm chí còn mất cả phẩm giá, thì chúng ta ngày càng có ít thứ để mất, và như thế càng ngày càng không sợ.

Đây là một trong những tặng vật cuối cùng mà tự nhiên trao cho chúng ta, sống theo cách mà người khác thấy được sự tự do này nơi chúng ta cũng có thể là một trong những tặng vật cuối cùng mà chúng ta để lại cho người thân yêu.

Những mối quan hệ chưa trọn

Một người bạn trị liệu tâm lý của tôi chia sẻ câu chuyện sau: Một phụ nữ trong tâm trạng khá sầu thảm tìm đến ông. Chồng của bà vừa chết vì đau tim. Ông chết đột ngột vào thời điểm không phù hợp nhất. Họ kết hôn đã ba mươi năm và trong những năm tháng này, mối quan hệ của họ chưa từng bị khủng hoảng nặng nề. Thế mà vào ngày chồng bà chết, họ đã cãi nhau về một vấn đề rất quan trọng và đã leo thang đến mức họ thốt những lời ác ý cay độc với nhau. Kích động và giận dữ, chồng của bà lao khỏi phòng, ông nói ông đi mua sắm, và rồi ông đột quỵ trên đường ra xe. Chúng ta dễ hiểu vì sao bà suy sụp, vì cái chết đột ngột của người bạn đời, nhưng nhất là vì những lời cuối cùng họ nói với nhau. Bà than thở, “suốt bao nhiêu năm qua, chúng tôi đã yêu thương nhau, để rồi chẳng có lý do gì chúng tôi lại cãi vã nhau và có những lời cuối cùng chúng tôi nói với nhau!”

Nhà tâm lý học mở đầu với lời khôi hài phần nào có chủ đích. Ông nói: “Ông ấy thật tệ khi làm như thế với bà! Khi chết kiểu đó!” Rõ ràng, ông không lên kế hoạch cho cái chết của mình, nhưng thời điểm chết của ông lại quá bất công với vợ, như thể nó làm cho bà phải mang mặc cảm tội lỗi suốt đời, chẳng có cách nào để xóa bỏ.

Tuy nhiên, bác sĩ tâm lý chuyển sang một kiểu khác. Ông hỏi bà: “Nếu bà được gặp chồng bà trong năm phút, bà sẽ nói gì với ông?” Không chần chừ, bà trả lời ngay: “Tôi sẽ nói với ông, tôi rất yêu ông, trong bao nhiêu năm, ông đã tốt với tôi biết chừng nào và chuyện giận dữ của chúng tôi trong giây lát, xét cho cùng chỉ là khoảnh khắc vô lý quá đáng, nó chẳng là gì so với tình yêu của chúng tôi.”

Khi đó nhà tâm lý học mới nói: “Bà là người có đức tin, bà tin vào sự hiệp thông các thánh, chồng bà đang sống và hiện diện với bà lúc này, thế tại sao bà không nói tất cả những lời này với ông ngay đi. Chưa quá muộn để giải bày hết những tâm tình đó với ông đâu!”

Nhà tâm lý học đúng. Chẳng bao giờ là quá muộn! Chẳng bao giờ là quá muộn để nói với những người thân đã qua đời về cảm giác thực sự của mình dành cho họ. Chẳng bao giờ là quá muộn để xin lỗi những gì chúng ta đã làm tổn thương nhau. Chẳng bao giờ là quá muộn để xin họ tha thứ cho những lơ là của chúng ta trong quan hệ và chẳng bao giờ là quá muộn để nói lên những lời cảm kích, trân trọng, tri ân mà lẽ ra chúng ta phải nói khi họ còn sống. Là kitô hữu, chúng ta được an ủi vô cùng khi biết rằng chết chưa phải là hết, biết rằng chẳng bao giờ là quá muộn.

Và chúng ta vô cùng cần sự an ủi đó, cần cơ hội thứ hai đó. Dù là ai, chúng ta luôn bất toàn trong những quan hệ của mình. Chúng ta không thể lúc nào cũng thể hiện được những gì đáng phải thể hiện với người mình yêu thương, đôi khi chúng ta nói lên những câu giận dữ và chua cay hằn học với người khác, chúng ta phản bội lòng tin bằng đủ kiểu khác nhau, và hầu như chúng ta thiếu sự trưởng thành và tự tin để xác nhận, mà đáng lẽ chúng ta phải dành cho người mình yêu thương. Không ai trong chúng ta tốt cho đủ. Khi thần học gia Karl Rahner nói, trong cõi đời này, không ai trong chúng ta là không có kinh nghiệm của bản “giao hưởng không trọn vẹn”, ý cha muốn nói đến việc không ai trong chúng ta có được ước mơ trọn vẹn trong các quan hệ quan trọng nhất của mình, không ai trong chúng ta tốt cho đủ. Chúng ta không thể không đôi khi gây thất vọng cho nhau.

Xét cho cùng, tất cả chúng ta yêu thương người mình thương theo những cách chẳng khác gì người phụ nữ mất chồng trong câu chuyện trên, với những chuyện còn dang dở, với những thời điểm không đúng lúc. Luôn có những điều đáng phải nói mà chưa nói, luôn có những điều đáng ra không được nói nhưng đã nói.

Nhưng chính vì thế mới cần đức tin kitô giáo của chúng ta. Chúng ta không phải là những người duy nhất gặp khó khăn. Và thời điểm Chúa Giêsu chết, rõ ràng các môn đệ đã mất tất cả. Thời điểm xảy ra chuyện đó thật xấu. Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh là một chuyện không hay trong tâm thức nhiều người trong một thời gian dài. Nhưng, lúc này, là kitô hữu, chúng ta không tin, trong đời luôn có cái kết có hậu, cũng không tin, chúng ta luôn mãi bất toàn trong đời. Đúng hơn, chúng ta tin rằng sự viên mãn trong đời và hạnh phúc sẽ đến với chúng ta nhờ chuộc lại những gì đã sai lầm, ít nhất là với những gì đã sai lầm vì sự bất toàn và yếu đuối của ta.

Tác giả G.K. Chesterton đã nói, kitô giáo đặc biệt vì kitô giáo tin vào hiệp thông các thánh, “đến kẻ chết cũng có lá phiếu.” Họ không chỉ có lá phiếu mà thôi. Họ vẫn nghe được những gì chúng ta nói với họ.

Thế nên, nếu chúng ta mất đi một người thân yêu trong hoàn cảnh vẫn còn khúc mắc, vẫn còn căng thẳng cần xoa dịu, khi đáng ra chúng ta phải quan tâm hơn, khi mình trách mình vì chưa từng thể hiện đủ sự trân trọng và tình cảm đáng phải có, những lúc như thế, chúng ta nên biết, vẫn chưa quá muộn. Tất cả vẫn có thể làm được!

Thiên đàng sẽ như thế nào?

Tác giả Andrew Greeley từng gợi ý, có lẽ chúng ta sẽ có ích hơn nếu chúng ta suy gẫm về phiên bản này của thiên đàng: Tình trạng ngây ngất thể lý và sự thỏa mãn tinh thần chúng ta có từ sự giao hợp tình dục giữa hai người yêu nhau sâu đậm là dự báo tốt nhất hiện nay cho tình trạng vĩnh hằng của chúng ta khi được phục sinh. “Giá trị đầy cảm hứng của xung lực tình dục và sự rực rỡ tuyệt diệu của cơ thể con người sẽ không bị kiềm chế trong tình trạng phục sinh như khi bị kiềm chế do sự yếu ớt của thế giới này. Niềm vui phục sinh sẽ mang tính tương giao, thể lý, tình dục và phối hợp, vì chúng ta sẽ tận hưởng chúng với nhau”.

Không ít người sốc với dạng hình dung này về thiên đàng. Tuy nhiên, chính dạng hình dung này rất nổi bật trong đường lối mô tả thiên đàng của nhiều nhà thần nghiệm kitô giáo vĩ đại, kể cả Gioan Thánh Giá, Thánh Têrêxa thành Avila. Với họ, cái chết là đêm tân hôn.

Hơn nữa, khi nhìn vào cách một vài ngôn sứ, nổi bật là tiên tri Isaiah khi họ mường tượng về “thời cánh chung”, thì chúng ta thấy có sự tương đồng nổi bật giữa hình dung của họ về điều cấu thành ơn cứu rỗi và hình tượng tình dục của các nhà thần nghiệm. Trong cả hai trường hợp, hình dung này mang tính toàn vẹn, giao hợp, tình yêu vô giới hạn, cuộc sống bình thường bị đảo lộn hoặc một sự bình an tối hậu đến ngất ngây. Ví dụ như, khi tiên tri Isaia cho rằng vào thời cánh chung, chó sói sẽ nằm bên cạnh cừu non, hổ báo chơi với trẻ con, bò và gấu sẽ kết thân, kể cả sư tử cũng ăn cỏ như bò, và khi ngài mường tượng về thời cánh chung là bàn tiệc với những món cao lương mỹ vị nhất, những loại rượu hảo hạng nhất, thì ảo tượng của ngài so với điều mà Greeley gợi ý, chỉ khác về hình ảnh, chứ không khác về bản chất. Trong cả hai trường hợp, một hình ảnh thơm tho và khơi gợi giác quan sâu sắc được dùng để mô tả về những gì có thể đến nếu chúng ta mở lòng ra với ơn cứu rỗi.

Tôi nêu bật những ảo tượng này vì chúng ta quá hiếm khi được dạy rằng những ảo tượng của chúng ta, kể cả những ảo tượng tình dục, có thể là nơi chúng ta trực cảm sự cứu rỗi. Chúng ta thật có phúc nếu được dạy rằng những ảo tượng trần gian của chúng ta có thể, ít nhất là có khả dĩ, là một nguồn phong phú cho sự thấu suốt và trưởng thành về mặt thiêng liêng. Làm sao lại thế?

Trong những mộng tưởng yêu thích của mình, chúng ta thường hình dung một vài thành phần thiết yếu của sự cứu rỗi, nghĩa là những ảo tượng đẹp nhất của chúng không tránh khỏi là những hình ảnh về sự giao hợp trọn vẹn. Trong những ảo tượng đó, chúng ta giao hợp và được giao hợp, làm cho trọn vẹn và được nên trọn vẹn, biết rõ rằng mình được biết rõ, diện đối diện (như thánh Phaolô mô tả trong thư gởi tín hữu Côrintô 1, chương 13, câu 12-13). Trong những mộng tưởng của mình, chúng ta chưa hề thiếu cái ôm trao ban sự sống. Trong những giấc mộng, chúng ta làm tình một cách thật sự và không dè dặt.

Những ảo tượng đẹp nhất của chúng ta làm cho hiện thực đảo ngược một cách vui thú, kiểu như sư tử ăn cỏ như bò trong sách Isaia. Trong những mộng tưởng của chúng ta, các luật lệ bình thường của thế giới bị dẹp bỏ và chúng ta có thể làm những việc lớn lao và cao cả, bất chấp những giới hạn về thể chất, nghệ thuật, giáo dục hay thực tiễn của mình. Trong những ảo tượng, chúng ta không bao giờ bị giới hạn bởi cơ thể, chủng tộc, học vấn, xuất thân, hoàn cảnh hay trí tuệ. Trong những mộng tưởng, không có gì là không thể. Trong những ảo tượng, chúng ta có thể bay, trở thành một nghệ sĩ, tiểu thuyết gia, vận động viên, ngôi sao điện ảnh và một vị thánh triệu người có một.

Hơn thế nữa, trong những ảo tượng của chúng ta có công lý và chính đáng. Như các ngôn sứ hình dung một ngày phán xét vĩ đại, khi kẻ kiêu ngạo sẽ bị hạ xuống, kẻ tàn ác sẽ phải trả lời cho sự ác độc của mình, và đức hạnh ẩn kín của những người âm thầm chịu đau khổ sẽ được tiết lộ, thì trong những mộng tưởng của chúng ta cũng vậy. Một ảo tượng tốt, theo một cách thơm tho, luôn đem đến công lý. Trong ảo tượng của mình, chúng ta trực cảm một trời mới đất mới.

Cuối cùng, trong những ảo tượng lành mạnh, chúng ta cũng luôn là con người tốt nhất và cao thượng nhất của mình. Trong mộng tưởng, chúng ta không bao giờ nhỏ nhen, hẹp hòi hay bé nhỏ, mà luôn là mẫu mực của đức hạnh và cao thượng, đầy quảng đại, trìu mến, yêu thương sâu sắc và dễ thương.

Thánh Tôma Aquinô phân biệt hai loại hiệp nhất. Theo ngài, chúng ta có thể hiệp nhất với một điều gì đó bằng cách chiếm hữu hoặc khao khát. Trong những ảo tượng của chúng ta, kể cả những ảo tượng quá khơi gợi và riêng tư đến nỗi làm cho chúng ta cảm thấy xấu hổ, đều cho chúng ta cơ hội đặc ân để trực cảm xem sự cứu rỗi trông như thế nào và có cảm giác như thế nào.

Đáng buồn là, khái niệm về thiên đàng đến với chúng ta qua giáo huấn của giáo hội, giáo lý căn bản và các lớp học giáo lý, lại thường quá nhạt nhẽo, vô trùng, nhị nguyên, vô tính và thuần khiết đến nỗi chúng ta không muốn đổi cuộc sống trần thế này để lấy nó. Cuộc sống ở trần thế, với mọi nỗi đau và chán nản, vẫn có vẻ phong phú và thú vị hơn thiên đàng được hứa cho chúng ta sau khi chết. Thông hiệp với các thiên thần, ánh sáng tuyệt đối, và viễn cảnh ngồi thinh lặng vĩnh viễn thờ phượng Thiên Chúa, những điều này dù rất đúng và đầy ý nghĩa nếu hiểu đúng, nhưng cũng quá mơ hồ để có thể làm chúng ta vượt ra khỏi những lạc thú đời này.

Do đó, chúng ta có một điều cần học nơi các ngôn sứ trong Kinh Thánh, nơi các nhà thần nghiệm – và từ cả hình tượng có vẻ bất kính của tác giả Andrew Greeley.

Ảo tưởng tự đủ

Vài năm trước, tôi có dự tang lễ của một ông cụ thọ 90 tuổi. Ở mọi khía cạnh, ông là người tốt, kiên trung giữ đạo, con cái đông đúc, người đáng trọng trong cộng đồng và là người có lòng quảng đại. Ông mạnh khỏe, có tài, có tư chất lãnh đạo, là người mà chúng ta sẽ chọn để quản trị và dẫn dắt. Vì thế ông có một địa vị uy tín trong cộng đồng. Ông là kiểu người nắm quyền.

Ông có người con trai là linh mục công giáo, và người con giảng trong tang lễ. Cha mở đầu bài giảng như sau: Kinh Thánh viết, đời người chỉ đến bảy mươi, mạnh giỏi lắm thì được tám mươi. Bây giờ cha của chúng tôi qua đời năm 90 tuổi. Tại sao lại có thêm 20 năm này? Đây không phải là một bí ẩn gì. Ông quá mạnh mẽ, ông có nhiều trách vụ phải làm để phải chết ở tuổi 70 hay 80. Chúa cho ông thêm 20 năm để ông dịu lại. Và nó hiệu quả. Mười năm cuối của ông là những năm ông suy giảm rất nhiều. Vợ mất, và cha tôi không bao giờ qua được thử thách này. Ông bị trụy tim và phải cần người giúp hỗ trợ sinh hoạt, đây là một đòn nặng giáng lên ông. Rồi những năm cuối đời, ông phải cần có người giúp trong các công việc vệ sinh tối thiểu. Với một người như ông, đó là cả một hạ mình.

Nhưng tất cả những chuyện này có tác động. Nó làm ông dịu đi. Trong những năm cuối này, mỗi khi có ai đến thăm, ông sẽ cầm tay họ và nói “xin giúp tôi”. Từ lúc lên năm và khi có thể tự thắt dây giày, ông đã không thể nói ba chữ này. Đến lúc qua đời, ông đã sẵn sàng để ra đi. Khi gặp Chúa Giêsu và thánh Phêrô ở thiên đàng, tôi chắc cha tôi sẽ đưa tay ra và nói, “xin giúp con”. Tôi chắc chắn, nếu là 10 hay 20 năm trước, hẳn ông đã cho Chúa Giêsu và Thánh Phêrô lời khuyên làm sao để cổng thiên đàng mở ra mở vào hiệu quả hơn.

Đây là dụ ngôn nói một cách trực tiếp và sâu sắc về một vị thế mà chúng ta cuối cùng đều phải đứng ở đó, dù bằng chọn lựa chủ động hay phải quy phục hoàn cảnh, nhưng cuối cùng tất cả chúng ta đều đứng vào một vị thế chấp nhận, chúng ta không tự đủ, chúng ta cần giúp đỡ, cần người khác, cần cộng đồng, cần ân sủng và cần Thiên Chúa.

Tại sao điều này lại quan trọng đến như thế? Vì chúng ta không phải là Chúa, và khi nhận ra, chấp nhận như thế thì chúng ta khôn ngoan hơn và biết yêu thương hơn. Các thần học gia kinh điển của kitô giáo định nghĩa Thiên Chúa là hiện hữu tự đủ, và nhấn mạnh rằng chỉ có Thiên Chúa mới tự đủ. Chỉ có Thiên Chúa mới không cần điều gì ngoài chính Ngài. Còn mọi sự khác, tất cả mọi sự không phải là Thiên Chúa, thì được định nghĩa là phụ thuộc các yếu tố, là không tự đủ, là cần điều gì đó ngoài bản thân mình để tồn tại và duy trì sự tồn tại đó mỗi giây mỗi phút trong đời.

Nói như vậy nghe có vẻ là thần học trừu tượng, nhưng mỉa mai thay, chính các em bé lại hiểu chuyện này, ý thức được chuyện này. Chúng biết rằng chúng không thể tự chu cấp cho mình, và mọi sự đến với chúng đều là món quà. Chúng biết chúng cần giúp đỡ. Tuy nhiên, không lâu sau khi đã biết thắt dây giày, thì ý thức này bắt đầu phai mờ khi chúng bước vào tuổi dậy thì, rồi tuổi trưởng thành, nhất là khi chúng khỏe mạnh, cường tráng và thành công thì chúng bắt đầu sống với ảo tưởng tự đủ. Tôi tự chu cấp cho bản thân tôi!

Thật sự là điều này đã tạo điều kiện cho chúng tự tin bước vào đời. Nhưng nó lại không tạo điều kiện cho sự thật, cộng đồng, tình yêu hay linh hồn. Nó là một ảo tưởng, là ảo tưởng lớn nhất. Không ai trong chúng ta đi sâu vào cộng đồng trong khi đang nuôi dưỡng ảo tưởng tự đủ, khi chúng ta vẫn còn nói, mình không cần đến người khác! Tôi chọn mình sẽ là ai, là gì trong đời này!

G.K. Chesterton từng nói rằng sự quen thuộc là thứ ảo tưởng lớn nhất. Ông nói đúng, và điều chúng ta quen thuộc nhất, đó là tự chăm sóc bản thân và nghĩ rằng mình lo cho mình được. Như chúng ta biết, nó giúp cho chúng ta vượt lên trong đời. Tuy nhiên, may cho chúng ta, thông qua đau đớn, Thiên Chúa và tự nhiên luôn hợp sức để dạy chúng ta rằng chúng ta không tự đủ. Tiến trình trưởng thành, già đi, và cuối cùng là chết được sắp đặt để dạy cho chúng ta (bất kể chúng ta có tiếp thu bài học này hay không) rằng chúng ta không nắm quyền và sự tự đủ chỉ là một ảo tưởng. Cuối cùng, tất cả chúng ta đều đến một ngày mà chúng ta, như thời chưa biết thắt dây giày, sẽ đưa tay ra mà nói, “xin giúp tôi”.

Triết gia Eric Mascall có một câu nói, bao lâu chúng ta còn xem cuộc đời là chuyện đương nhiên thì chúng ta không khôn ngoan cũng không trưởng thành. Chúng ta thực sự khôn ngoan và trưởng thành khi nào chúng ta xem nó là món quà nhưng không, từ Thiên Chúa, từ tha nhân, từ tình yêu.

Đức tin đến rồi đi

Rumi, nhà thần nghiệm Sufi và thi sĩ người Ba Tư ở thế kỷ 13 từng nói đức tin chuyển động trong đời chúng ta: Chúng ta sống trong một bí mật thâm sâu mà đôi khi chúng ta biết, rồi không biết, rồi lại biết.

Nhà báo David Brooks cũng nói tương tự. Trong quyển sách Ngọn núi thứ hai (The Second Mountain), ông chia sẻ về cách mình cố sống vừa đức tin kitô giáo vừa đức tin do thái giáo. Ông cho biết gần như lúc nào cũng hiệu quả. Xét cho cùng, Chúa Giêsu đã thử chuyện này rồi. Tuy nhiên có một câu hỏi khó mà thỉnh thoảng ông bị đặt ra là: Ông có tin vào sự phục sinh của Chúa Giêsu, tin rằng thân thể Chúa Giêsu ba ngày sau khi chịu đóng đinh đã ra khỏi mồ không? Ông đã trả lời: “Niềm tin đó đến rồi đi. Kẻ đi giữa lằn ranh như tôi vẫn còn mạnh lắm”.

Nếu hầu hết chúng ta, những người nhận mình là tín hữu kitô chân thành, thì tôi nghĩ chúng ta cũng sẽ trả lời như vậy cho câu hỏi thực tế về việc Chúa Giêsu phục sinh. Chúng ta có tin chuyện đó đã thực sự xảy ra không? Niềm tin đó đến rồi đi. Có lẽ không phải về mặt tri thức, nhưng về mặt hiện sinh.

Tuyên xưng đức tin về mặt tri thức là một chuyện, nhưng tuyên xưng chuyện đó trong đời sống của mình lại là một chuyện khác. Chính Chúa Giêsu đã đưa ra sự phân biệt này trong dụ ngôn về người cha có hai con trai và ông bảo chúng ra đồng làm việc. Người con cả thưa vâng, nhưng không đi. Người con thứ bảo không, nhưng cuối cùng lại đi. Vậy, chính Chúa Giêsu hỏi, trong hai người, ai là đứa con đích thực?

Câu trả lời của Brooks bao gồm cả hai, kiểu một người đi giữa hai lằn ranh. Sự thật, chúng ta là cả hai người con đó, nói có rồi lại nói không, rồi lại nói có lại. John Shea, khi bình luận về sự thăng trầm của các môn đệ đầu tiên của Chúa và sự dao động của họ giữa nhiệt tâm theo Chúa và từ bỏ giấc mơ đức tin của mình, ông gọi đây là cuộc đấu tranh (đối với họ và với chúng ta) giữa lời mời gọi thần thánh và phản ứng của con người, giữa một quả quyết vô cùng và một dao động lớn lao.

Và không đâu cho chúng ta thấy rõ ràng hơn là cách chúng ta dao động giữa liệu mình có thật sự tin vào lời mời gọi trọng tâm của kitô giáo dành cho tất cả mọi người, cụ thể là chúng ta có xem trọng sự phục sinh của Chúa Giêsu đủ để thật sự tái định hình bản thân, tái định hình ý nghĩa cuộc đời và biến đó thành một lăng kính để định hình cách chúng ta sống hay không? Liệu chúng ta có tin đủ mạnh vào sự phục sinh của Chúa Giêsu để đưa ra những quyết định liều lĩnh triệt để và bất chấp thường thức trong đời mình không? Nếu chúng ta thật sự tin Chúa Giêsu đã phục sinh, thì nó phải tái định hình đời sống chúng ta.

Tôi chắc chắn rằng, hầu hết chúng ta đều quen thuộc với câu nói trứ danh của thánh Julian thành Norwich. Khi suy ngẫm về ý nghĩa của sự phục sinh của Chúa Giêsu, ngài nói, nếu đúng là thế, nếu Chúa Giêsu thật sự sống lại từ cõi chết, nếu Thiên Chúa thật sự cho một người chết từ mồ trỗi dậy, vậy thì chúng ta có sự bảo đảm tuyệt đối (và đi kèm là sự tự tin) để tin rằng “Cuối cùng, tất cả sẽ tốt đẹp, và tất cả sẽ tốt đẹp, mọi sinh linh sẽ tốt đẹp”.

Phương trình của ngài đúng, nếu sự phục sinh thật sự đã xảy ra, thì những chuyện tiếp theo, cái kết cho câu chuyện đời chúng ta và thế giới đã được viết sẵn rồi, và chúng ta được bảo đảm tuyệt đối rằng đó là một cái kết có hậu.

Nhưng chúng ta có tin như vậy không? Với đa số chúng ta, nếu thành thật như David Brooks, thì câu trả lời hiện sinh của chúng ta cũng sẽ như ông: niềm tin đó đến rồi đi. Cứ cho là thừa nhận như vậy là khiêm nhượng, nhưng sự thừa nhận đó có thể giải thoát chúng ta khỏi sự trốn tránh, giúp chúng ta hiểu hơn về động lực của đức tin, và hướng chúng ta đến nơi chúng ta cần đến trong hành trình hoán cải tiếp diễn.

Có lần ở một hội nghị tôn giáo nọ, tôi nghe câu này từ một diễn giả chính, một phụ nữ như Dorothy Day, đã làm việc với người nghèo trên đường phố nhiều năm. Cụ thể bà nói: “Tôi là tín hữu kitô và tôi làm việc trên đường phố với người nghèo. Xét cho cùng, Chúa Giêsu là lý do để tôi làm việc này. Nhưng tôi có thể làm việc trên đường phố nhiều năm mà không nhắc đến danh Chúa Kitô vì tôi tin rằng Thiên Chúa đủ trưởng thành để không đòi hỏi phải luôn mãi là trọng tâm sự chú tâm có ý thức của chúng ta”. Bạn có thể hình dung nhận định này gặp phải nhiều phản ứng trái chiều.

Nhưng xét cho cùng, bà nói đúng, và điều mà bà chia sẻ không phải là kiểu hàng hai không lành mạnh, cũng không phải kiểu trải nghiệm của Brooks và Rumi về cách đức tin chuyển động trong đời sống hiện sinh. Niềm tin đó đến rồi đi. Điều mà bà chia sẻ có thể giúp chúng ta giải thoát khỏi mặc cảm tội lỗi sai lầm mà chúng ta cảm nhận khi đức tin dường như phải ra đi và chúng ta cảm thấy hiện thực trần gian của đời mình quá hữu hình và hiện sinh đến nỗi trong khoảnh khắc đó dường như chúng ta không biết bí mật của đức tin và có vẻ dao động trước một bảo đảm vô cùng. Niềm tin đó đến rồi đi. Quả vậy. Chúng ta sống trong một bí mật thâm sâu mà đôi khi chúng ta biết, rồi không biết, rồi lại biết.

Sự liêm chính cá nhân

Trong bộ phim của thập niên 1990, City Slickers, có một cảnh cho chúng ta hiểu ra tầm quan trọng của sự toàn vẹn cá nhân. Ba người đàn ông là dân New York và là bạn thân với nhau, họ đã cùng nhau đi một chuyến dẫn bò di cư vào mùa hè để mong kinh nghiệm này sẽ giúp họ xử lý được những vấn đề trong tuổi trung niên của mỗi người.

Trên đường rong ruổi, một hôm họ bàn về luân lý trong việc ngoại tình. Ban đầu, họ chủ yếu nói về nỗi sợ bị lộ, và hai trong số ba người đồng ý rằng ngoại tình là lợi bất cập hại. Quá dễ bị lộ. Nhưng người bạn kia lại nêu ra vấn đề, hỏi rằng nếu tuyệt đối không có khả năng bị lộ thì họ có ngoại tình không.

Anh này bảo, “Cứ tưởng tượng có một tàu không gian hạ cánh. Một phụ nữ xinh đẹp từ trong tàu bước ra. Hai người làm tình rồi nàng trở về Sao Hỏa. Chẳng có hậu quả gì hết. Chẳng ai biết được. Vậy hai anh có làm không?”

Nhân vật chính do Billy Crystal thủ vai trả lời rằng có lẽ không bao giờ có chuyện đó. “Luôn bị lộ, người ta ngửi được cái mùi thiếu trung thực nơi chúng ta”. “Nhưng mà,” người bạn kiên quyết, “lỡ như thật sự có thể ngoại tình mà không bị lộ. Lỡ như không một ai biết? Anh có làm không?” Câu trả lời của nhân vật chính là: “Nhưng tôi biết, và tôi sẽ hận mình vì chuyện đó”.

Câu trả lời của anh nêu bật một chân lý quan trọng. Việc chúng ta làm trong riêng tư, bí mật, cũng có hậu quả, và hậu quả đó không tùy thuộc vào việc bí mật đó có bị lộ ra hay không. Thiệt hại vẫn như vậy mà thôi. Việc chúng ta làm trong bí mật làm biến dạng nhân cách và ảnh hưởng đến cách chúng ta liên hệ với mọi người theo những cách mà chúng ta không ngờ đến. Tuyệt đối không có hành động bí mật. Luôn có một người biết. Là chúng ta biết. Và chúng ta hận mình vì chuyện đó, hận mình vì phải nói dối. Tự nó phát ra như vậy.

Việc chúng ta làm trong bí mật, xét tận cùng cũng định hình hình tượng của chúng ta khi công khai. Thiếu trung thực thay đổi cách chúng ta nhìn nhận bởi vì nó thay đổi con người chúng ta. Chính vì thế mà những người quanh chúng ta sẽ trực cảm được sự thật về chúng ta, ngửi thấy sự dối trá, cả khi họ không có một chứng cứ gì để nghi ngờ chúng ta.

Bí mật làm một việc mà chúng ta không thể công khai, đó là giả hình, và nó buộc chúng ta nói dối. Và trong tất cả mọi tội, dối trá là tội nguy hiểm nhất. Vì sao? Vì chúng ta hận mình vì chuyện đó, chúng ta không còn tôn trọng chính bản thân mình, và khi đó, chẳng mấy chốc chúng ta sẽ nhận ra, người khác không còn tôn trọng chúng ta nữa. Đó là trực cảm khi chúng ta “ngửi thấy” sự dối trá của người khác.

Tệ hơn nữa, dối trá buộc chúng ta làm chính mình chai đá để có thể sống với sự dối trá của mình. Không phải lúc nào tội lỗi cũng làm chúng ta khiêm nhường và hối cải. Chúng ta có những hình ảnh quá phổ biến và dễ dãi về những tội nhân chân thành, như các tội nhân trong các phúc âm dễ đón nhận Chúa Giêsu hơn là những người công chính trong đạo. Có lúc như thế, nhưng không phải lúc nào cũng thế.

Hình ảnh kinh thánh về người tội nhân chân thành khiêm nhường hướng về Thiên Chúa được minh họa dựa trên sự trung thực, dựa trên một tội nhân không giấu diếm hay nói dối về tội của mình. Nhưng tội lỗi có thể có một ảnh hưởng rất khác trên chúng ta. Khi chúng ta không trung thực thừa nhận tội của mình, là chúng ta đang đi theo hướng đối lập, cụ thể là hướng về hợp lý hóa, có thái độ chai đá và yếm thế. Hơn nữa, chính việc nói dối, chứ không phải sự yếu đuối ban đầu, mới trở thành vết ung loét và gây nên mối nguy hiểm thực sự. Khi giấu diếm tội của mình thì chúng ta bị buộc phải nói dối, và khi đó ngay lập tức chúng ta bắt đầu trở nên chai đá và thay đổi linh hồn mình. Có một câu châm ngôn thế này: Muốn làm việc gì cũng được, miễn không phải nói dối về nó. Nó rất khác với nói rằng muốn làm gì cũng được miễn không ai phát hiện ra.

Nhân phẩm của chúng ta dựa vào mức độ liêm chính của mình. Chúng ta bệnh hoạn không khác gì bí mật bệnh hoạn nhất của mình, và chúng ta lành mạnh như đức hạnh giấu kín nhất của mình. Chúng ta không thể làm kiểu này trong kín đáo và thể hiện ra kiểu khác khi công khai. Dù người khác có biết bí mật của ta hay không cũng không quan trọng. Chúng ta biết, và khi những bí mật đó không lành mạnh, thì chúng ta hận mình vì chúng, lòng chúng ta chai đá đi để sống được với lời nói dối của mình.

Chúng ta đừng bao giờ tự lừa mình, nghĩ rằng những việc chúng ta làm trong kín đáo, kể cả những hành động thiếu chung thủy, nuông chiều bản thân, cố chấp mù quáng, ghen tương, vu khống dù là nhỏ nhặt nhất, lại không có hậu quả gì chỉ vì không ai biết. Trong huyền ẩn tương liên trong gia đình nhân loại và gia đình đức tin vốn dựa vào sự tin tưởng, kể cả những hành động kín đáo nhất của chúng ta, dù tốt hay xấu, cũng như en-zim vô hình trong dòng máu của cơ thể ảnh hưởng đến toàn bộ cơ thể. Mọi chuyện đều được nhận thức và cảm nhận theo cách này hay cách khác. Trong gia đình, nhân loại hay trong nhiệm thể Chúa Kitô, không có cái gọi là hành động riêng tư. Người khác biết chúng ta, kể cả khi họ không biết chính xác mọi chuyện về chúng ta. Họ ngửi thấy những tính xấu của chúng ta cũng như họ ngửi thấy đức hạnh của chúng ta.

Cầu nguyện cho cả hai – Kẻ yếu và kẻ mạnh

Khi Chúa Giêsu lập Phép Thánh Thể trong bữa tiệc ly, Ngài cầm bánh và rượu lên, và xem đó là hai yếu tố để Ngài hiện diện đặc biệt với chúng ta. Từ đó đến bây giờ là đã hơn 2000 năm, các tín hữu kitô cử hành Phép Thánh Thể vẫn dùng bánh và rượu để xin Chúa Kitô chúc lành cho thế giới và cho chúng ta sự hiện diện đặc biệt của Ngài. Tại sao lại là hai yếu tố này? Tại sao lại là bánh và rượu? Mỗi thứ đại diện cho điều gì?

Tôi luôn thấy cái nhìn thấu suốt này của Pierre Teilhard de Chardin cực kỳ có ý nghĩa: Khi bàn về lý do tại sao bánh và rượu được dâng lên Phép Thánh Thể, ngài nói: “Thứ thật sự được thánh hiến mỗi ngày chính là sự phát triển của thế giới trong ngày hôm đó, bánh biểu trưng cho những gì được tạo nên, rượu biểu trưng cho những gì mất đi trong lao công và đau khổ trong tiến trình của nỗ lực đó”.

Và điều này đem lại một bài học quan trọng về cách chúng ta được mời dự phần và cầu nguyện trong Phép Thánh Thể. Khi Chúa Giêsu phán “Này là thịt Ta, là của ăn cho thế gian được sống”, là Ngài có ý như vậy. Ngài muốn nói lời cầu nguyện của chúng ta, nhất là trong Phép Thánh Thể, cần phải bao hàm trọn thế giới với mọi sự và mọi người trong đó. Và điều này đòi hỏi rất nhiều, bởi vì như chúng ta đều biết, thế giới của chúng ta là một nơi phức tạp đến bệnh hoạn, rối rắm, phân cực, phân lập, một nơi có đầy cả tốt và xấu, trẻ và già, lành mạnh và bệnh tật, giàu và nghèo, quyền lực và vô lực, chiến thắng và thất bại, sống và chết. Tạo nên của ăn là thịt của Chúa Kitô cho sự sống của thế giới nghĩa là dâng lên rất nhiều thứ để Thiên Chúa chúc lành, và với chúng ta, không phải khi nào chuyện này cũng tự nhiên.

Được Chúa Giêsu thiết lập, Phép Thánh Thể cần phải là lời kinh ôm trọn thế giới và mọi sự, mọi người trong đó. Phép Thánh Thể cần là lời kinh cho người nghèo, người già, người bệnh, người đau khổ, người vô lực và cho tất cả mọi người bị biến thành nạn nhân (kể cả Mẹ Trái Đất), cũng như đó là lời kinh cho người giàu, người trẻ, người khỏe mạnh và người có quyền lực. Trong Phép Thánh Thể, chúng ta cần cầu nguyện cho những người đang nằm bệnh viện và những người sức khỏe dồi dào. Chúng ta cần cầu nguyện cho những người đang hấp hối cũng như cho những vận động viên sung mãn chuẩn bị tham dự Thế vận hội. Và chúng ta cần cầu nguyện cho người tị nạn nơi biên giới cũng như cho những ai làm luật đóng mở cửa biên giới. Như Teilhard de Chardin nói, trong lời cầu nguyện này, chúng ta phải dâng lên những gì được tạo nên và những gì mất đi trong lao công và đau khổ trong tiến trình của nỗ lực đó.

Là linh mục công giáo la-mã, tôi có đặc ân chủ sự Phép Thánh Thể, và mỗi lần làm thế, tôi luôn cố gắng ý thức về những thực tế tách biệt mà bánh và rượu tượng trưng. Khi nâng tấm bánh lên, tôi luôn cố gắng ý thức về sự thật là tôi đang dâng lên những gì lành mạnh, phát triển trong sự sống và được ăn mừng trong thế giới hôm nay. Khi nâng chén rượu lên, tôi luôn cố gắng ý thức rằng tôi đang dâng lên mọi sự bị chà đạp, bị đau khổ và đang chết dần hôm nay khi sự sống trên trái đất này vẫn tiếp tục đi tới.

Thế giới của chúng ta là một nơi rộng lớn và trong mọi khoảnh khắc đều có một sinh linh mới ra đời, có sự sống non trẻ bén rễ, có người đang ăn mừng cuộc đời, có người tìm thấy tình yêu, có người đang ái ân, và có người đang ăn mừng thành công và chiến thắng. Đồng thời, có những người đang mất sức khỏe, có người đang chết dần, có người bị cưỡng hiếp và xâm hại, có người bị chà đạp bởi đói khát, bởi thất bại, vô vọng và tinh thần tan nát. Trong Phép Thánh Thể, bánh là tượng trưng cho nhóm đầu và rượu tượng trưng cho nhóm sau.

Cách đây mấy ngày, tôi chủ sự Phép Thánh Thể trong tang lễ của một ông cụ hưởng thọ 90 tuổi. Chúng tôi cử hành đức tin của mình, thương tiếc cùng gia đình, nêu bật tặng vật là cuộc đời ông, cố thu nhận lấy tinh thần mà ông để lại, nói lời từ biệt với ông và chôn cất ông vào lòng đất. Rượu mà chúng tôi hiến thánh trong Phép Thánh Thể ngày hôm ấy, là biểu trưng cho mọi điều này, cho cái chết của ông, cho mất mát của chúng ta, cũng như cho cái chết và mất mát của mọi người khắp mọi nơi, có Chúa ở cùng chúng ta trong đau khổ. Không lâu sau đó, tôi đến một gia đình đầy phấn khởi và sinh lực của tuổi trẻ, với ba đứa con, năm tuổi, hai tuổi và tám tháng tuổi. Không mấy điều trên đời đem lại sự tươi mới cho tâm hồn bằng sinh lực tuổi trẻ. Không có thứ thuốc chống trầm cảm nào trên đời có thể cho ta điều mà sinh lực tuổi trẻ đem lại. Và khi tôi cầm tấm bánh lên trong lúc cử hành Phép Thánh Thể, tôi càng ý thức hơn về những gì mà tấm bánh tượng trưng, là sinh lực, sức khỏe, vẻ đẹp, tuổi trẻ, sự sôi động, hay nói theo cách khác là niềm vui và sự rực rỡ của Thiên Chúa trên địa cầu này.

Liên hệ với cả Chúa Giêsu và Chúa Kitô

Với tôi, suốt nhiều năm trời, Kitô chỉ đơn thuần như cái họ của Chúa Giêsu, như Jack Smith, Susan Parker, Giêsu Kitô. Về mặt tri thức thì tôi biết nó không phải thế, nhưng về mặt thực tế, cả trong đời sống đức tin cá nhân và với tư cách thần học gia, tôi xem danh Kitô như thể đơn thuần là cái họ của Chúa Giêsu vậy. Dù là khi cầu nguyện, viết lách hay giảng dạy, tôi gần như luôn dùng hai danh này cùng nhau, Giêsu Kitô, như thể cả hai có sự đồng nhất tuyệt đối.

Nhưng không phải vậy. Chúa Giêsu là nhân vị thần thiêng trong Ba Ngôi, người từng sống trên địa cầu với xác thịt khí huyết và giờ đang ở bên Chúa Cha, là một phần trong Ba Ngôi Thiên Chúa. Nhưng ngài cũng là một cấu thành then chốt trong hiện thực của Chúa Kitô, Chúa Kitô thì hơn cả Chúa Giêsu.

Chúa Kitô là một huyền nhiệm bao gồm cả chúng ta, những môn đệ của Chúa Giêsu trên địa cầu, các bí tích, kinh thánh và giáo hội. Kinh Thánh nói rõ ràng: Chúng ta là Thân thể của Chúa Kitô trên địa cầu. Chúng ta không đại diện hay thay thế cho Chúa Kitô, không phải là một sự hiện diện thần nhiệm mơ hồ nào đó của Chúa Kitô. Chúng ta là Thân thể Chúa Kitô, cũng là Phép Thánh Thể và Lời Chúa.

Sự phân biệt này có những liên quan rất lớn đến cả đời sống đức tin cá nhân và cách chúng ta sống đức tin trong giáo hội. Đơn giản đồng nhất Chúa Giêsu và Chúa Kitô thì sẽ bào mòn cương vị môn đệ của chúng ta, bất kể chúng ta thường hay liên hệ với danh nào nhất (Giêsu hay Kitô).

Xin cho tôi nói về một sai lầm của tôi. Khi sống đức tin, tôi dễ dàng và thực tế về mặt hiện sinh, liên hệ với Chúa Kitô hơn là Chúa Giêsu. Nghĩa là tôi có niềm tin và sự gắn bó cả đời với hiện thực của sự phục sinh, với giáo huấn của Chúa Giêsu, với giáo hội, các bí tích và kinh thánh Kitô giáo. Tôi tin rằng việc tham dự Phép Thánh Thể là điều quan trọng nhất mà tôi làm trong đời, rằng Bài giảng trên núi là quy tắc đạo đức lớn nhất và giáo hội, bất chấp những lỗi phạm của mình, là Thân thể Chúa Kitô trên địa cầu.

Nhưng không như nhiều nhà thần nghiệm và các thánh đầy đức tin mà tôi đã đọc về cuộc đời họ, không như nhiều người bạn và đồng nghiệp theo Phái Phúc âm, tôi vất vả trong việc có ý thức thực sự rằng Chúa Giêsu là một người bạn và người yêu thân thiết. Tôi chật vật để trở thành người môn đệ yêu dấu trong phúc âm theo thánh Gioan, dựa đầu vào ngực Chúa Giêsu, có sự mật thiết một đối một với Chúa Giêsu đến mức làm cho các thứ khác trở nên tương đối. Tôi biết Chúa Giêsu là thật và Ngài muốn có sự mật thiết một đối một với mỗi chúng ta, nhưng sự thật là tôi chật vật để thật sự cảm nhận điều đó và để biến nó thành phần trọng tâm trong cương vị môn đệ của mình. Ngoại trừ những thời khắc ân sủng trong lời cầu nguyện, thì sự gắn bó với Phép Thánh Thể, giáo huấn của Chúa Giêsu và với giáo hội chính là tâm điểm đức tin và cương vị môn đệ của tôi. Theo thói quen, tôi liên hệ với Chúa Kitô nhiều hơn Chúa Giêsu.

Và cho tôi mạo hiểm thêm vào điều này: Tôi tin rằng điều này cũng đúng với các giáo hội Kitô giáo khác. Chúng ta có những giáo hội liên hệ với Chúa Kitô hơn và có những giáo hội liên hệ với Chúa Giêsu hơn. Ví dụ như, giáo hội công giáo la mã là giáo hội rất quy hướng về Chúa Kitô. Cộng đoàn hội thánh, Phép Thánh Thể, các bí tích và giáo huấn của Chúa Giêsu là những điều then chốt. Không người công giáo la mã nào có thể nói rằng tôi chỉ cần mối quan hệ riêng với Chúa Giêsu là đủ. Với người theo anh giáo, tân giáo và tin Lành đường lối chính cũng vậy. Nhưng với các giáo hội thuộc phái phúc âm thì lại không hẳn vậy, khi mà ủy lệnh đặc biệt trong phúc âm theo thánh Gioan rằng phải có mối quan hệ mật thiết với Chúa Giêsu dễ dàng trở thành giáo lý trọng tâm của cương vị môn đệ kitô hữu.

Nhưng không phải các giáo hội khác nhau theo chiều kích này mà tiệt trừ chiều kích kia. Ví dụ như, công giáo la mã, anh giáo và tin lành dòng chính nhấn mạnh về việc cầu nguyện riêng là công cụ để liên hệ với nhân thể của Chúa Giêsu như một người bạn và người yêu thân thiết. Về chuyện này, công giáo la mã đem lại một truyền thống cầu nguyện kính mến phong phú, đôi khi quá phong phú. Ngược lại, phái phúc âm với trọng tâm rất mạnh về Chúa Giêsu, dùng các buổi phụng vụ lời Chúa và giảng dạy làm cách chính để liên hệ với mầu nhiệm rộng hơn của Chúa Kitô.

Chúng ta có những điều đáng để học hỏi từ cả hai. Các giáo hội, cũng như các cá nhân, đều phải hướng về cả hai, Chúa Giêsu và Chúa Kitô, nghĩa là chú trọng mối quan hệ riêng với Chúa Giêsu Kitô và tham gia vào mầu nhiệm nhập thể lịch sử của Chúa Kitô, mầu nhiệm mà mỗi chúng ta đều có phần. Chúng ta phải tập trung vào Chúa Giêsu, nhưng cũng phải tập trung vào Phép Thánh Thể, Lời Chúa và cộng đoàn tín hữu, tất cả đều là Thân thể Chúa Kitô. Đức tin và cương vị môn đệ của chúng ta phải vừa riêng tư một cách sâu sắc vừa chung một cách rõ ràng. Không một kitô hữu nào có thể nói rằng cương vị môn đệ của mình chỉ hệ tại ở mối quan hệ cá nhân với Chúa Giêsu, cũng như không một kitô hữu nào có thể nói rằng mình không cần Chúa Giêsu, chỉ cần giáo hội và các bí tích.

Chúng ta là môn đệ của Chúa Giêsu Kitô, cả về mặt nhân thể và mầu nhiệm. Chúng ta gắn bó với một bộ giáo huấn, một loạt bí tích, Phép Thánh Thể và cộng đoàn hữu hình mà chúng ta gọi là giáo hội, cũng như với một người tên là Giêsu là tâm điểm của mầu nhiệm lớn lao này và là người muốn trở nên người bạn và là người yêu của chúng ta.