RonRolheiser,OMI

Sự liêm chính cá nhân

Trong bộ phim của thập niên 1990, City Slickers, có một cảnh cho chúng ta hiểu ra tầm quan trọng của sự toàn vẹn cá nhân. Ba người đàn ông là dân New York và là bạn thân với nhau, họ đã cùng nhau đi một chuyến dẫn bò di cư vào mùa hè để mong kinh nghiệm này sẽ giúp họ xử lý được những vấn đề trong tuổi trung niên của mỗi người.

Trên đường rong ruổi, một hôm họ bàn về luân lý trong việc ngoại tình. Ban đầu, họ chủ yếu nói về nỗi sợ bị lộ, và hai trong số ba người đồng ý rằng ngoại tình là lợi bất cập hại. Quá dễ bị lộ. Nhưng người bạn kia lại nêu ra vấn đề, hỏi rằng nếu tuyệt đối không có khả năng bị lộ thì họ có ngoại tình không.

Anh này bảo, “Cứ tưởng tượng có một tàu không gian hạ cánh. Một phụ nữ xinh đẹp từ trong tàu bước ra. Hai người làm tình rồi nàng trở về Sao Hỏa. Chẳng có hậu quả gì hết. Chẳng ai biết được. Vậy hai anh có làm không?”

Nhân vật chính do Billy Crystal thủ vai trả lời rằng có lẽ không bao giờ có chuyện đó. “Luôn bị lộ, người ta ngửi được cái mùi thiếu trung thực nơi chúng ta”. “Nhưng mà,” người bạn kiên quyết, “lỡ như thật sự có thể ngoại tình mà không bị lộ. Lỡ như không một ai biết? Anh có làm không?” Câu trả lời của nhân vật chính là: “Nhưng tôi biết, và tôi sẽ hận mình vì chuyện đó”.

Câu trả lời của anh nêu bật một chân lý quan trọng. Việc chúng ta làm trong riêng tư, bí mật, cũng có hậu quả, và hậu quả đó không tùy thuộc vào việc bí mật đó có bị lộ ra hay không. Thiệt hại vẫn như vậy mà thôi. Việc chúng ta làm trong bí mật làm biến dạng nhân cách và ảnh hưởng đến cách chúng ta liên hệ với mọi người theo những cách mà chúng ta không ngờ đến. Tuyệt đối không có hành động bí mật. Luôn có một người biết. Là chúng ta biết. Và chúng ta hận mình vì chuyện đó, hận mình vì phải nói dối. Tự nó phát ra như vậy.

Việc chúng ta làm trong bí mật, xét tận cùng cũng định hình hình tượng của chúng ta khi công khai. Thiếu trung thực thay đổi cách chúng ta nhìn nhận bởi vì nó thay đổi con người chúng ta. Chính vì thế mà những người quanh chúng ta sẽ trực cảm được sự thật về chúng ta, ngửi thấy sự dối trá, cả khi họ không có một chứng cứ gì để nghi ngờ chúng ta.

Bí mật làm một việc mà chúng ta không thể công khai, đó là giả hình, và nó buộc chúng ta nói dối. Và trong tất cả mọi tội, dối trá là tội nguy hiểm nhất. Vì sao? Vì chúng ta hận mình vì chuyện đó, chúng ta không còn tôn trọng chính bản thân mình, và khi đó, chẳng mấy chốc chúng ta sẽ nhận ra, người khác không còn tôn trọng chúng ta nữa. Đó là trực cảm khi chúng ta “ngửi thấy” sự dối trá của người khác.

Tệ hơn nữa, dối trá buộc chúng ta làm chính mình chai đá để có thể sống với sự dối trá của mình. Không phải lúc nào tội lỗi cũng làm chúng ta khiêm nhường và hối cải. Chúng ta có những hình ảnh quá phổ biến và dễ dãi về những tội nhân chân thành, như các tội nhân trong các phúc âm dễ đón nhận Chúa Giêsu hơn là những người công chính trong đạo. Có lúc như thế, nhưng không phải lúc nào cũng thế.

Hình ảnh kinh thánh về người tội nhân chân thành khiêm nhường hướng về Thiên Chúa được minh họa dựa trên sự trung thực, dựa trên một tội nhân không giấu diếm hay nói dối về tội của mình. Nhưng tội lỗi có thể có một ảnh hưởng rất khác trên chúng ta. Khi chúng ta không trung thực thừa nhận tội của mình, là chúng ta đang đi theo hướng đối lập, cụ thể là hướng về hợp lý hóa, có thái độ chai đá và yếm thế. Hơn nữa, chính việc nói dối, chứ không phải sự yếu đuối ban đầu, mới trở thành vết ung loét và gây nên mối nguy hiểm thực sự. Khi giấu diếm tội của mình thì chúng ta bị buộc phải nói dối, và khi đó ngay lập tức chúng ta bắt đầu trở nên chai đá và thay đổi linh hồn mình. Có một câu châm ngôn thế này: Muốn làm việc gì cũng được, miễn không phải nói dối về nó. Nó rất khác với nói rằng muốn làm gì cũng được miễn không ai phát hiện ra.

Nhân phẩm của chúng ta dựa vào mức độ liêm chính của mình. Chúng ta bệnh hoạn không khác gì bí mật bệnh hoạn nhất của mình, và chúng ta lành mạnh như đức hạnh giấu kín nhất của mình. Chúng ta không thể làm kiểu này trong kín đáo và thể hiện ra kiểu khác khi công khai. Dù người khác có biết bí mật của ta hay không cũng không quan trọng. Chúng ta biết, và khi những bí mật đó không lành mạnh, thì chúng ta hận mình vì chúng, lòng chúng ta chai đá đi để sống được với lời nói dối của mình.

Chúng ta đừng bao giờ tự lừa mình, nghĩ rằng những việc chúng ta làm trong kín đáo, kể cả những hành động thiếu chung thủy, nuông chiều bản thân, cố chấp mù quáng, ghen tương, vu khống dù là nhỏ nhặt nhất, lại không có hậu quả gì chỉ vì không ai biết. Trong huyền ẩn tương liên trong gia đình nhân loại và gia đình đức tin vốn dựa vào sự tin tưởng, kể cả những hành động kín đáo nhất của chúng ta, dù tốt hay xấu, cũng như en-zim vô hình trong dòng máu của cơ thể ảnh hưởng đến toàn bộ cơ thể. Mọi chuyện đều được nhận thức và cảm nhận theo cách này hay cách khác. Trong gia đình, nhân loại hay trong nhiệm thể Chúa Kitô, không có cái gọi là hành động riêng tư. Người khác biết chúng ta, kể cả khi họ không biết chính xác mọi chuyện về chúng ta. Họ ngửi thấy những tính xấu của chúng ta cũng như họ ngửi thấy đức hạnh của chúng ta.

Cầu nguyện cho cả hai – Kẻ yếu và kẻ mạnh

Khi Chúa Giêsu lập Phép Thánh Thể trong bữa tiệc ly, Ngài cầm bánh và rượu lên, và xem đó là hai yếu tố để Ngài hiện diện đặc biệt với chúng ta. Từ đó đến bây giờ là đã hơn 2000 năm, các tín hữu kitô cử hành Phép Thánh Thể vẫn dùng bánh và rượu để xin Chúa Kitô chúc lành cho thế giới và cho chúng ta sự hiện diện đặc biệt của Ngài. Tại sao lại là hai yếu tố này? Tại sao lại là bánh và rượu? Mỗi thứ đại diện cho điều gì?

Tôi luôn thấy cái nhìn thấu suốt này của Pierre Teilhard de Chardin cực kỳ có ý nghĩa: Khi bàn về lý do tại sao bánh và rượu được dâng lên Phép Thánh Thể, ngài nói: “Thứ thật sự được thánh hiến mỗi ngày chính là sự phát triển của thế giới trong ngày hôm đó, bánh biểu trưng cho những gì được tạo nên, rượu biểu trưng cho những gì mất đi trong lao công và đau khổ trong tiến trình của nỗ lực đó”.

Và điều này đem lại một bài học quan trọng về cách chúng ta được mời dự phần và cầu nguyện trong Phép Thánh Thể. Khi Chúa Giêsu phán “Này là thịt Ta, là của ăn cho thế gian được sống”, là Ngài có ý như vậy. Ngài muốn nói lời cầu nguyện của chúng ta, nhất là trong Phép Thánh Thể, cần phải bao hàm trọn thế giới với mọi sự và mọi người trong đó. Và điều này đòi hỏi rất nhiều, bởi vì như chúng ta đều biết, thế giới của chúng ta là một nơi phức tạp đến bệnh hoạn, rối rắm, phân cực, phân lập, một nơi có đầy cả tốt và xấu, trẻ và già, lành mạnh và bệnh tật, giàu và nghèo, quyền lực và vô lực, chiến thắng và thất bại, sống và chết. Tạo nên của ăn là thịt của Chúa Kitô cho sự sống của thế giới nghĩa là dâng lên rất nhiều thứ để Thiên Chúa chúc lành, và với chúng ta, không phải khi nào chuyện này cũng tự nhiên.

Được Chúa Giêsu thiết lập, Phép Thánh Thể cần phải là lời kinh ôm trọn thế giới và mọi sự, mọi người trong đó. Phép Thánh Thể cần là lời kinh cho người nghèo, người già, người bệnh, người đau khổ, người vô lực và cho tất cả mọi người bị biến thành nạn nhân (kể cả Mẹ Trái Đất), cũng như đó là lời kinh cho người giàu, người trẻ, người khỏe mạnh và người có quyền lực. Trong Phép Thánh Thể, chúng ta cần cầu nguyện cho những người đang nằm bệnh viện và những người sức khỏe dồi dào. Chúng ta cần cầu nguyện cho những người đang hấp hối cũng như cho những vận động viên sung mãn chuẩn bị tham dự Thế vận hội. Và chúng ta cần cầu nguyện cho người tị nạn nơi biên giới cũng như cho những ai làm luật đóng mở cửa biên giới. Như Teilhard de Chardin nói, trong lời cầu nguyện này, chúng ta phải dâng lên những gì được tạo nên và những gì mất đi trong lao công và đau khổ trong tiến trình của nỗ lực đó.

Là linh mục công giáo la-mã, tôi có đặc ân chủ sự Phép Thánh Thể, và mỗi lần làm thế, tôi luôn cố gắng ý thức về những thực tế tách biệt mà bánh và rượu tượng trưng. Khi nâng tấm bánh lên, tôi luôn cố gắng ý thức về sự thật là tôi đang dâng lên những gì lành mạnh, phát triển trong sự sống và được ăn mừng trong thế giới hôm nay. Khi nâng chén rượu lên, tôi luôn cố gắng ý thức rằng tôi đang dâng lên mọi sự bị chà đạp, bị đau khổ và đang chết dần hôm nay khi sự sống trên trái đất này vẫn tiếp tục đi tới.

Thế giới của chúng ta là một nơi rộng lớn và trong mọi khoảnh khắc đều có một sinh linh mới ra đời, có sự sống non trẻ bén rễ, có người đang ăn mừng cuộc đời, có người tìm thấy tình yêu, có người đang ái ân, và có người đang ăn mừng thành công và chiến thắng. Đồng thời, có những người đang mất sức khỏe, có người đang chết dần, có người bị cưỡng hiếp và xâm hại, có người bị chà đạp bởi đói khát, bởi thất bại, vô vọng và tinh thần tan nát. Trong Phép Thánh Thể, bánh là tượng trưng cho nhóm đầu và rượu tượng trưng cho nhóm sau.

Cách đây mấy ngày, tôi chủ sự Phép Thánh Thể trong tang lễ của một ông cụ hưởng thọ 90 tuổi. Chúng tôi cử hành đức tin của mình, thương tiếc cùng gia đình, nêu bật tặng vật là cuộc đời ông, cố thu nhận lấy tinh thần mà ông để lại, nói lời từ biệt với ông và chôn cất ông vào lòng đất. Rượu mà chúng tôi hiến thánh trong Phép Thánh Thể ngày hôm ấy, là biểu trưng cho mọi điều này, cho cái chết của ông, cho mất mát của chúng ta, cũng như cho cái chết và mất mát của mọi người khắp mọi nơi, có Chúa ở cùng chúng ta trong đau khổ. Không lâu sau đó, tôi đến một gia đình đầy phấn khởi và sinh lực của tuổi trẻ, với ba đứa con, năm tuổi, hai tuổi và tám tháng tuổi. Không mấy điều trên đời đem lại sự tươi mới cho tâm hồn bằng sinh lực tuổi trẻ. Không có thứ thuốc chống trầm cảm nào trên đời có thể cho ta điều mà sinh lực tuổi trẻ đem lại. Và khi tôi cầm tấm bánh lên trong lúc cử hành Phép Thánh Thể, tôi càng ý thức hơn về những gì mà tấm bánh tượng trưng, là sinh lực, sức khỏe, vẻ đẹp, tuổi trẻ, sự sôi động, hay nói theo cách khác là niềm vui và sự rực rỡ của Thiên Chúa trên địa cầu này.

Liên hệ với cả Chúa Giêsu và Chúa Kitô

Với tôi, suốt nhiều năm trời, Kitô chỉ đơn thuần như cái họ của Chúa Giêsu, như Jack Smith, Susan Parker, Giêsu Kitô. Về mặt tri thức thì tôi biết nó không phải thế, nhưng về mặt thực tế, cả trong đời sống đức tin cá nhân và với tư cách thần học gia, tôi xem danh Kitô như thể đơn thuần là cái họ của Chúa Giêsu vậy. Dù là khi cầu nguyện, viết lách hay giảng dạy, tôi gần như luôn dùng hai danh này cùng nhau, Giêsu Kitô, như thể cả hai có sự đồng nhất tuyệt đối.

Nhưng không phải vậy. Chúa Giêsu là nhân vị thần thiêng trong Ba Ngôi, người từng sống trên địa cầu với xác thịt khí huyết và giờ đang ở bên Chúa Cha, là một phần trong Ba Ngôi Thiên Chúa. Nhưng ngài cũng là một cấu thành then chốt trong hiện thực của Chúa Kitô, Chúa Kitô thì hơn cả Chúa Giêsu.

Chúa Kitô là một huyền nhiệm bao gồm cả chúng ta, những môn đệ của Chúa Giêsu trên địa cầu, các bí tích, kinh thánh và giáo hội. Kinh Thánh nói rõ ràng: Chúng ta là Thân thể của Chúa Kitô trên địa cầu. Chúng ta không đại diện hay thay thế cho Chúa Kitô, không phải là một sự hiện diện thần nhiệm mơ hồ nào đó của Chúa Kitô. Chúng ta là Thân thể Chúa Kitô, cũng là Phép Thánh Thể và Lời Chúa.

Sự phân biệt này có những liên quan rất lớn đến cả đời sống đức tin cá nhân và cách chúng ta sống đức tin trong giáo hội. Đơn giản đồng nhất Chúa Giêsu và Chúa Kitô thì sẽ bào mòn cương vị môn đệ của chúng ta, bất kể chúng ta thường hay liên hệ với danh nào nhất (Giêsu hay Kitô).

Xin cho tôi nói về một sai lầm của tôi. Khi sống đức tin, tôi dễ dàng và thực tế về mặt hiện sinh, liên hệ với Chúa Kitô hơn là Chúa Giêsu. Nghĩa là tôi có niềm tin và sự gắn bó cả đời với hiện thực của sự phục sinh, với giáo huấn của Chúa Giêsu, với giáo hội, các bí tích và kinh thánh Kitô giáo. Tôi tin rằng việc tham dự Phép Thánh Thể là điều quan trọng nhất mà tôi làm trong đời, rằng Bài giảng trên núi là quy tắc đạo đức lớn nhất và giáo hội, bất chấp những lỗi phạm của mình, là Thân thể Chúa Kitô trên địa cầu.

Nhưng không như nhiều nhà thần nghiệm và các thánh đầy đức tin mà tôi đã đọc về cuộc đời họ, không như nhiều người bạn và đồng nghiệp theo Phái Phúc âm, tôi vất vả trong việc có ý thức thực sự rằng Chúa Giêsu là một người bạn và người yêu thân thiết. Tôi chật vật để trở thành người môn đệ yêu dấu trong phúc âm theo thánh Gioan, dựa đầu vào ngực Chúa Giêsu, có sự mật thiết một đối một với Chúa Giêsu đến mức làm cho các thứ khác trở nên tương đối. Tôi biết Chúa Giêsu là thật và Ngài muốn có sự mật thiết một đối một với mỗi chúng ta, nhưng sự thật là tôi chật vật để thật sự cảm nhận điều đó và để biến nó thành phần trọng tâm trong cương vị môn đệ của mình. Ngoại trừ những thời khắc ân sủng trong lời cầu nguyện, thì sự gắn bó với Phép Thánh Thể, giáo huấn của Chúa Giêsu và với giáo hội chính là tâm điểm đức tin và cương vị môn đệ của tôi. Theo thói quen, tôi liên hệ với Chúa Kitô nhiều hơn Chúa Giêsu.

Và cho tôi mạo hiểm thêm vào điều này: Tôi tin rằng điều này cũng đúng với các giáo hội Kitô giáo khác. Chúng ta có những giáo hội liên hệ với Chúa Kitô hơn và có những giáo hội liên hệ với Chúa Giêsu hơn. Ví dụ như, giáo hội công giáo la mã là giáo hội rất quy hướng về Chúa Kitô. Cộng đoàn hội thánh, Phép Thánh Thể, các bí tích và giáo huấn của Chúa Giêsu là những điều then chốt. Không người công giáo la mã nào có thể nói rằng tôi chỉ cần mối quan hệ riêng với Chúa Giêsu là đủ. Với người theo anh giáo, tân giáo và tin Lành đường lối chính cũng vậy. Nhưng với các giáo hội thuộc phái phúc âm thì lại không hẳn vậy, khi mà ủy lệnh đặc biệt trong phúc âm theo thánh Gioan rằng phải có mối quan hệ mật thiết với Chúa Giêsu dễ dàng trở thành giáo lý trọng tâm của cương vị môn đệ kitô hữu.

Nhưng không phải các giáo hội khác nhau theo chiều kích này mà tiệt trừ chiều kích kia. Ví dụ như, công giáo la mã, anh giáo và tin lành dòng chính nhấn mạnh về việc cầu nguyện riêng là công cụ để liên hệ với nhân thể của Chúa Giêsu như một người bạn và người yêu thân thiết. Về chuyện này, công giáo la mã đem lại một truyền thống cầu nguyện kính mến phong phú, đôi khi quá phong phú. Ngược lại, phái phúc âm với trọng tâm rất mạnh về Chúa Giêsu, dùng các buổi phụng vụ lời Chúa và giảng dạy làm cách chính để liên hệ với mầu nhiệm rộng hơn của Chúa Kitô.

Chúng ta có những điều đáng để học hỏi từ cả hai. Các giáo hội, cũng như các cá nhân, đều phải hướng về cả hai, Chúa Giêsu và Chúa Kitô, nghĩa là chú trọng mối quan hệ riêng với Chúa Giêsu Kitô và tham gia vào mầu nhiệm nhập thể lịch sử của Chúa Kitô, mầu nhiệm mà mỗi chúng ta đều có phần. Chúng ta phải tập trung vào Chúa Giêsu, nhưng cũng phải tập trung vào Phép Thánh Thể, Lời Chúa và cộng đoàn tín hữu, tất cả đều là Thân thể Chúa Kitô. Đức tin và cương vị môn đệ của chúng ta phải vừa riêng tư một cách sâu sắc vừa chung một cách rõ ràng. Không một kitô hữu nào có thể nói rằng cương vị môn đệ của mình chỉ hệ tại ở mối quan hệ cá nhân với Chúa Giêsu, cũng như không một kitô hữu nào có thể nói rằng mình không cần Chúa Giêsu, chỉ cần giáo hội và các bí tích.

Chúng ta là môn đệ của Chúa Giêsu Kitô, cả về mặt nhân thể và mầu nhiệm. Chúng ta gắn bó với một bộ giáo huấn, một loạt bí tích, Phép Thánh Thể và cộng đoàn hữu hình mà chúng ta gọi là giáo hội, cũng như với một người tên là Giêsu là tâm điểm của mầu nhiệm lớn lao này và là người muốn trở nên người bạn và là người yêu của chúng ta.

Không có thành đô trường cửu

Kinh Thánh cho chúng ta biết, trên đời này, chúng ta không có thành đô vĩnh cửu. Đúng thế. Nhưng có vẻ chúng ta cũng không có ngôi nhà vĩnh cửu, trường học, khu phố, thành phố, địa chỉ hay bất kỳ thứ gì khác trường cửu. Xét tận cùng, không có thứ gì trường cửu cả.

Có lẽ trường hợp của tôi không phải là trường hợp chung, nhưng nhiều thứ trong đời tôi chẳng có gì trường cửu. Ông bà tôi là dân nhập cư, gốc Nga và Đức, chuyển đến vùng đồng cỏ Canada và nằm trong số những nông dân đầu tiên khai hoang ở đó vào đầu thế kỷ 19. Họ còn trẻ, và cuộc sống ở đồng cỏ quá mới mẻ, thế hệ của họ gây dựng những nông trại, trường học, thị trấn mới trên khắp vùng đồng bằng Canada và Hoa Kỳ. Tôi thuộc thế hệ thứ hai, vào thời điểm đô thị hóa và những thay đổi khác bắt đầu khiến nhiều thứ mà thế hệ ông bà tôi gầy dựng biến mất.

Đây là câu chuyện của tôi về việc không có thành đô trường cửu. Năm tôi lên lớp sáu, trường tiểu học của tôi bị đóng cửa. Chúng tôi đi xe buýt đến một trường có nhiều học sinh hơn, còn trường cũ thì bị tháo dỡ. Ngày nay chẳng còn dấu vết gì cho biết ở đó đã từng có một ngôi trường. Vài năm sau khi tôi tốt nghiệp, trường mới cũng bị đóng cửa. Tòa nhà đó bị san bằng, và hiện nay toàn bộ khu vực trường trở thành một phần của cánh đồng nông trại, chỉ còn lại một tấm bảng nhỏ cho thấy ở đây từng là nơi náo nhiệt với hàng trăm tiếng líu lo của học sinh. Ngôi trường đó cách thị trấn vài dặm và thị trấn đó giờ cũng đã biến mất, không còn lại tòa nhà nào.

Tôi rời trường trung học và vào tập viện dòng Hiến sĩ nằm ở trung tâm thung lũng Qu’Appelle, một tòa nhà đẹp cạnh bờ hồ. Vài năm sau khi tôi rời tập viện, tòa nhà bị đem bán và không lâu sau bị tiêu hủy trong một vụ hỏa hoạn. Hiện giờ ở đó chỉ là một dải đồng cỏ trống không. Rồi tôi chuyển đến một chủng viện khác, một tòa nhà cổ nguy nga (trước đây là Tòa nhà Chính quyền Khu vực Tây Bắc), tôi ở đó sáu năm. Một lần nữa, vài năm sau khi tôi tốt nghiệp, tòa nhà đó bị bỏ hoang và cuối cùng cũng bị tiêu hủy trong một vụ hỏa hoạn.

Rồi tôi chuyển đến Trường Thần học Newman ở Edmonton, tôi ở đây suốt 15 năm. Trường Newman có khuôn viên đẹp nằm ở rìa thành phố, nhưng vài năm sau khi tôi rời trường, khu vực trường đã bị thành phố lấy để mở đường vành đai và mọi tòa nhà ở đó đều bị san bằng. Rồi tôi chuyển đến một tòa nhà rất ấm cúng, nhà của Tỉnh dòng Hiến sĩ ở Saskatoon. Vài năm sau, khi tôi rời đi, tòa nhà đó cũng bị san bằng, không còn lại chút gì. Đồng thời, thị trấn mà gia đình tôi gắn bó, nơi chúng tôi đến để gởi thư, mua hàng hóa, làm giấy tờ, đã trở thành một thị trấn ma, không người ở, mọi nhà cửa đều bỏ hoang.

Cuối cùng, tôi chuyển đến Trường Thần học Hiến sĩ ở Texas, sống ở ngôi nhà nhỏ dành cho viện trưởng. Tuy nhiên vài năm sau, Dòng cần xây chủng viện mới trên mảnh đất đó, và tòa nhà cũng bị san bằng. Cuối cùng, và đau đớn hơn cả, là hai năm trước, ngôi nhà của gia đình tôi, ngôi nhà với hơn 70 năm tuổi, đã bị bán và chủ mới đã đốt trụi nó (dĩ nhiên họ rất tế nhị, họ ngỏ ý xin gia đình tôi cho phép làm).

Rất nhiều cội rễ của tôi đã biến mất: trường tiểu học, trường trung học, thị trấn có căn nhà tôi gắn bó, cả hai chủng viện tôi theo học, trường tôi dạy khi mới vào nghề, cả hai nhà Hiến sĩ tôi đã có những năm tháng tuyệt vời, và ngôi nhà của gia đình tôi, tất cả đều ra đi, đều bị san bằng, không còn lại gì nữa.

Những chuyện này đã tạo những gì trong tâm hồn chúng ta? Những hoài niệm, có. Tôi muốn bước đi trong những tòa nhà đó biết bao, muốn được cảm nhận ý nghĩa một thời của chúng với tôi và chìm trong ký ức. Nhưng không thể. Mỗi một chuyện này là một cái chết nhỏ, mỗi một lần như vậy là nó làm cho tâm hồn tôi mất gốc rễ. Mặt khác, và tích cực hơn, tất cả những buông bỏ không mong muốn đó giúp tôi chuẩn bị cho một buông bỏ tận cùng, khi tôi đối diện với cái chết của tôi.

Nó còn dạy cho tôi một chuyện về thực chất. Những tòa nhà có thể biến mất, nhưng mái ấm không biến mất. Rene Fumoleau, nhà thơ người bộ lạc Dene, chia sẻ về chuyện ông ghé thăm một gia đình ngay sau khi nhà của họ bị ngọn lửa thiêu rụi, và ông đã chuyện trò với một cô bé như thế này:

Hôm sau, tôi ghé thăm gia đình bị hỏa hoạn.
Tôi biết nói gì sau thảm kịch đây? Tôi thử nói với cô con gái mười tuổi:

“Joan, hẳn cháu đau lòng lắm khi không có mái ấm”.
Nhưng cô bé khôn hơn tôi tưởng:
“Ồ, nhà cháu vẫn có mái ấm đấy thôi.
Nhưng không có ngôi nhà để đặt nó vào thôi”.
(Home – Here I Sit)

Phải, chúng ta vẫn có mái ấm dù không có ngôi nhà cũ của nó.

Trị liệu của đời sống chung

Hơn 50 năm trước, Philip Rieff đã viết quyển sách với tựa đề Chiến thắng của Phép chữa bệnh (The Triumph of the Therapeutic). Trong quyển sách này, ông tranh luận rằng sự tín nhiệm vào trị liệu riêng đang ngày càng phổ biến trong thế giới thế tục phần lớn là vì cộng đồng đã sụp đổ.

Ông lập luận, trong những xã hội có các gia đình và cộng đồng mạnh mẽ thì ít cần sự trị liệu riêng. Qua và trong cộng đồng, người ta dễ dàng xử lý các vấn đề của mình hơn.

Nếu Rieff nói đúng, và tôi cho là đúng, vậy thì giải pháp cho nhiều điều đang đưa chúng ta đến phòng trị liệu tâm lý ngày nay phần lớn ở việc tham gia trọn vẹn và lành mạnh hơn vào đời sống chung, kể cả đời sống giáo hội, hơn là ở việc trị liệu riêng. Như Parker Palmer nêu lên, chúng ta cần sự trị liệu của đời sống chung.

Điều này có nghĩa là gì? Đời sống chung có thể giúp được gì cho chúng ta?

Đời sống chung (là đời sống trong cộng đồng, vượt ra ngoài những quan hệ thân thiết của chúng ta) trở nên phép chữa bệnh bằng cách đưa sự mong manh của chúng ta vào mạng lưới xã hội để giúp chúng ta tỉnh trí, đem lại một nhịp điệu nào đó cho cuộc đời chúng ta, nối kết chúng ta với những nguồn vượt ra khỏi sự nghèo nàn vô lực của cá nhân.

Tham gia một cách lành mạnh vào cuộc sống của những người khác nối kết cuộc sống chúng ta với một cái gì lớn hơn bản thân mình, tự nó đã là một phép trị liệu vì hầu hết đời sống chung có một nhịp độ và sự đều đặn giúp xoa dịu cơn lốc quay cuồng của đời sống riêng vẫn luôn có những lạc hướng, trầm cảm, mong manh về tâm thần, hoang tưởng và nhiều loại ám ảnh.

Tham gia vào đời sống chung mang đến cho chúng ta những chuyện cụ thể để làm: những điểm dừng đều đặn, những sự kiện mang tính cấu trúc đều đặn, sự ổn định, nhịp độ. Đây là những lợi ích mà bác sĩ tâm lý không thể đem lại được. Đời sống chung kết nối chúng ta với những nguồn lực có thể tăng sức cho chúng ta, vượt ra khỏi sự bất lực của mình. Điều chúng ta mơ một mình vẫn chỉ là giấc mơ. Nhưng điều chúng ta cùng mơ với người khác thì có thể trở thành hiện thực.

Nhưng tất cả vẫn khá mơ hồ. Tôi xin phép minh họa thêm bằng một ví dụ. Khi nghiên cứu ở Bỉ, tôi may mắn được tham dự các bài diễn thuyết của cha Antoine Vergote, một bác sĩ lừng danh về tâm lý và thiêng liêng. Một ngày nọ, tôi hỏi cha về cách xử lý những ám ảnh của cảm xúc làm tê liệt, cả với bản thân và khi muốn giúp người khác. Câu trả lời của cha làm tôi kinh ngạc. Cha nói đại thể như sau:

“Khi là linh mục, bạn thường bị thôi thúc đưa ra lời khuyên như thế này: “Hãy đưa các rắc rối của con đến nhà nguyện! Hãy cầu nguyện để vượt qua. Chúa sẽ giúp con”. Cách đó không phải là sai. Chúa và cầu nguyện có thể thực sự hữu ích. Nhưng hầu hết những vấn đề tạo ám ảnh tê liệt, xét tận cùng là những vấn đề của sự tập trung thái quá… và để phá vỡ sự tập trung thái quá, chủ yếu phải đi ra khỏi bản thân mình, ra khỏi tâm trí và tâm hồn, cuộc sống và căn phòng của mình. Hãy để người bị tê liệt về cảm xúc nối kết với những chuyện chung, những buổi họp giao tiếp, các hoạt động giải trí, chính trị, công việc, giáo hội. Hãy để người này ra khỏi thế giới khép kín của họ và đi vào đời sống chung!”

Cha nói tiếp, dĩ nhiên việc này không giống với thôi thúc đơn giản là vùi mình vào những thú vui cho quên đời hay cắm đầu làm việc để quên. Lời khuyên của cha không phải là chạy trốn khỏi việc xử lý nội tâm vất vả, nhưng là xử lý nội tâm đôi khi phụ thuộc vào các mối quan hệ bên ngoài. Đôi khi chỉ có một cộng đồng mới có thể giữ vững, làm cho chúng ta tỉnh táo.

Tôi xin đưa thêm một ví dụ làm hệ luận: Tôi đã dạy thần học ở các trường trong hơn 40 năm. Nhiều sinh viên của tôi không ổn định về cảm xúc, họ bị dày vò vì đủ loại đau đớn, bất ổn nội tâm, họ đến trường, ngồi trong lớp, đến căn-tin, vào nhà nguyện, và các nơi sinh hoạt chung, dần dần họ ổn định và mạnh mẽ hơn về cảm xúc. Sức mạnh và sự ổn định đó không phải chủ yếu đến từ các khóa thần học, mà là từ nhịp độ và sự lành mạnh trong đời sống cộng đồng. Các sinh viên này khỏe lại không phải nhờ những gì họ học trong lớp học, nhưng nhờ những gì họ tham gia bên ngoài đời sống riêng của họ. Sự trị liệu của đời sống chung đã giúp chữa lành cho họ.

Hơn nữa, với kitô hữu chúng ta, trị liệu của đời sống chung cũng có nghĩa là trị liệu của đời sống hội thánh. Bằng cách lành mạnh tham gia vào đời sống chung của giáo hội, chúng ta trở nên lành mạnh hơn, vững vàng hơn về cảm xúc, bớt ám ảnh, bớt nô lệ cho sự thao thức bồn chồn của mình, dễ trở nên con người mà chúng ta muốn trở thành.

Các tu sĩ trong đời sống tu viện đã hiểu ra điều này và họ có những bí quyết đáng để chúng ta lãnh nhận. Các chương trình, nhịp độ, các hoạt động chung, yêu cầu phải có mặt, và kỷ luật của tiếng chuông tu viện đã giữ cho nhiều người tỉnh trí, và tương đối hạnh phúc hơn.

Đi lễ đều đặn, cầu nguyện đều đặn với người khác, gặp gỡ đều đặn với ai đó, những bổn phận đều đặn và trách nhiệm đều đặn trong cộng đồng giáo hội không chỉ giúp chúng ta nuôi dưỡng về mặt tâm lý mà còn giúp chúng ta tỉnh táo và ổn định.

Robert Lax, người nhận ảnh hưởng nhiều của Thomas Merton, cho rằng nhiệm vụ của chúng ta trong đời không hẳn là tìm ra con đường để băng rừng, cho bằng tìm ra một nhịp điệu để đi. Và đời sống chung có thể giúp chúng ta tìm ra nhịp điệu này.

Hậu-tinh vi

Một thế hệ trước, tác giả J.D Salinger đã viết tiểu thuyết Bắt trẻ đồng xanh (The Catcher in the Rye), một tác phẩm nổi tiếng và nằm trong danh sách phải đọc của hầu hết chương trình văn học đại học. Nó xứng đáng với cả hai điều này. Nó là một tác phẩm văn học vĩ đại.

Hình ảnh của nó là như sau: Một ông nhìn các em bé đang chơi ở cánh đồng xanh, với tất cả hồ hởi và vui thú mà chỉ có trẻ em ngây thơ mới có được. Ông suy nghĩ, hình dung xem từng đứa một cuối cùng sẽ đánh mất niềm vui của sự ngây thơ đó và sẽ như những người trưởng thành khác, trở nên rã rời và bất hạnh. Ông hình dung sẽ tuyệt vời đến thế nào nếu ông có thể bảo vệ các em bé này khỏi phải lớn lên và cứ mãi như thế, cứ mãi ngây thơ, chơi ở cánh đồng xanh, khỏi phải dây vào đủ thứ rắc rối, tội lỗi, thỏa hiệp và bất hạnh của người lớn. Đây là một hoang tưởng chạm đến lòng người.

Nó cũng chạm đến một điều nằm ở trung tâm căng thẳng giữa người bảo thủ và tự do. Người bảo thủ và người tự do bất đồng về hầu hết mọi chuyện, trừ một chuyện: cả hai đều không hạnh phúc với đường hướng hiện tại.

Với người bảo thủ, khoảnh khắc hiện tại dường như là một trôi dạt, xa dần khỏi đức tin, ổn định, hạnh phúc mà họ cho là chúng ta đã từng có. Bản năng của họ là quay về lại cái từng có, cái mà theo họ là thứ giữ mọi sự ổn định. Họ tin rằng cách để khắc phục mọi chuyện là rút lui về sự ngây thơ quá khứ. Và ở tâm điểm của quan điểm này là một hoài niệm hệt như người đàn ông nhìn trẻ em chơi đùa trên cánh đồng xanh, cụ thể là khi chúng ta bỏ sự ngây thơ của tuổi thơ mà hướng đến sự tinh vi của tuổi trưởng thành, nó sẽ đem lại bất ổn, rắc rối và bất hạnh. Sự tinh vi đi kèm một cái giá quá đắt và chúng ta cần được bảo vệ khỏi những dạng học hỏi và trải nghiệm nhất định.

Người tự do thì thường có bản năng và khuynh hướng trái ngược. Với họ, chúng ta sống trong môi trường công nghệ, đạo đức, tôn giáo và xã hội cho chúng ta đứng cao hơn quá khứ, dù đôi lúc nó đem lại những rắc rối. Đơn giản là chúng ta tiến lên theo những cách mà các thế hệ trước không có, dù họ có những giá trị và thành tâm đến như thế nào. Bất kỳ sự thoái lui nào đều sẽ là bước lùi, là mất mát về tri thức và tinh thần. Con đường hướng đến trưởng thành là con đường tiến về phía trước, và chúng ta phải có dũng khí để đi con đường đó, bất chấp những biến động trên đường (kiểu như không thể làm món trứng ốp-la nếu không đập vỡ quả trứng). Con đường tiến lên phía trước đưa chúng ta qua những trải nghiệm và học hỏi của tuổi trưởng thành, nằm ngoài nơi trú ẩn của cánh đồng xanh. Đó là con đường dẫn đến trưởng thành, đưa chúng ta ra khỏi những hạn hẹp, định kiến bất dung, kỳ thị chủng tộc, kỳ thị giới tính và ngu muội, vốn là nền tảng của nhiều nỗi sợ hãi sai lầm, cứng ngắc, bất công và bạo lực trên thế giới.

Vậy ai mới đúng? Chúng ta nên đi theo hướng nào? Con đường tiến tới là gì?

Linh cảm của tôi nói rằng chúng ta sẽ đến nơi mình nên đến bằng cách không hoàn toàn theo đi theo bản năng của người tự do hay bảo thủ. Dù cả hai đều nảy sinh từ một trực giác lành mạnh, nhưng cả hai đều đã cho thấy mình không đủ thỏa đáng đối với con đường đến với trưởng thành, bình an và hạnh phúc. Người tự do đúng về trực giác, rằng quay lại quá khứ không phải là câu trả lời, cũng không khác gì người bảo thủ đúng khi tin rằng chỉ tinh vi hơn thì cũng không phải là câu trả lời. Cả hai đều đúng và phần nào đều sai. Vậy chúng ta nên đi về đâu?

Chúng ta phải tiến tới, dù không phải theo cách mà hệ tư tưởng tự do phổ biến thường nhìn nhận rằng chỉ có tinh vi mới đem lại sự cứu rỗi. Chúng ta phải tiến tới, nhưng theo một cách đến tận cùng đưa chúng ta vượt lên tinh vi để đến với sự ngây thơ lần hai. Điều này có nghĩa là gì?

Nó có nghĩa như thế này: Nếu bạn hỏi một em bé ngây thơ: “Cháu có tin có Ông già Noel không?” em bé sẽ trả lời là: “Có”. Nếu bạn hỏi một em bé sáng dạ, em bé sẽ trả lời: “Không”. Nhưng nếu bạn hỏi câu đó với một em bé sáng dạ hơn, em bé sẽ trả lời: “Có”. Nhưng lý do của câu trả lời “Có” này khác.

Nhiệm vụ trong đời là đi từ ngây thơ, qua tinh vi, để đến với hậu tinh vi. Cả người bảo thủ và tự do cần phải thách thức bản thân và thách thức nhau với nền tảng là sự thật này (vốn có trong Tin mừng và trong những thấu suốt của nhân học). Thiên Chúa và tự nhiên không muốn chúng ta là trẻ em mãi cả đời. Chúng ta phải lớn lên, trải nghiệm cuộc đời, xử lý những vấn đề quan thiết trong chúng ta và trở nên tinh vi. Phải thừa nhận trong quá trình này, chúng ta sẽ đánh mất nhiều ngây thơ. Và như ông Adong và bà Evà, sau khi ăn trái cấm, thấy mình mở mắt ra, nhưng không hẳn họ được hạnh phúc.

Vậy hạnh phúc ở nơi đâu? Ở nơi mà chúng ta có thể một lần nữa tin là có Ông già Noel, nơi của hậu tinh vi. Có những từ vựng khác nhau để diễn tả điều này, nhưng tất cả đều chỉ về một điều. Chúng đều có tiến trình như nhau.

  Ngây thơ - Tinh vi - Ngây thơ lần hai
  Nhiệt tâm ban đầu - Vỡ mộng - Tình yêu chín chắn
  Tiền phê phán - Phê phán - Hậu phê phán
  Ngây thơ - Mất đi sự ngây thơ - Tái trinh trắng
  Trẻ con - Trưởng thành - Như trẻ con
  Hạnh phúc - Tan ảo mộng - Bình an   
  Ngây ngô ngây thơ - Ngây ngô tinh vi - Ngây ngô thánh thiện

Chúng ta từng ngây ngô ngây thơ. Rồi chúng ta trở thành ngây ngô tinh vi. Bây giờ đến lúc chúng ta trở thành ngây ngô hậu tinh vi.

Hương vị của câu nói đùa và rượu

Elizabeth Poreba kết thúc bài thơ No Good Company (Không có bạn đồng hành tốt) với những câu này:

Tôi không có câu nói đùa,
Tôi toàn nổi cáu và xét đoán, một bà da trắng dễ cáu
Băn khoăn phải làm gì, phải làm gì tiếp theo
Nghe cũng giống như lúc Chúa Giêsu đến, có vẻ bận rộn.

Ở tiệc cưới Cana, Đức Mẹ bảo Chúa Giêsu là “họ hết rượu rồi” và xin Ngài cho họ thêm rượu. Rượu và câu nói đùa có điểm gì chung? Cả hai đều là thứ phụ thêm cần thiết trong đời chúng ta.

Hãy nói về rượu trước. Rượu không phải là chất đạm, thứ cơ thể cần để được bồi dưỡng và sống, thứ vốn là thiết yếu trong chế độ ăn. Rượu là thứ phụ thêm đem lại một cái gì đặc biệt cho sự lành mạnh của con người. Uống rượu với một tinh thần tốt và có điều độ thì có thể giúp cải thiện tâm trạng và hâm nóng buổi nói chuyện, thậm chí còn giúp (dù chỉ trong chốc lát) xoa dịu căng thẳng giữa chúng ta. Nó là chất làm cho trơn tru cuộc trò chuyện, bữa tối trong nhà, buổi tụ họp xã giao được thêm thoải mái.

Còn câu đùa? Cũng như rượu, nếu dùng với tinh thần tốt và có điều độ, nó cũng có thể cải thiện tâm trạng, hâm nóng cuộc chuyện trò và xoa dịu căng thẳng trong cuộc tụ họp. Kinh điển Hy Lạp gợi ý tình yêu có sáu yếu tố: Eros – sự hấp dẫn về tình cảm và tình dục; mania – ám ảnh về tình cảm; asteismos – vui thú và vui đùa; storge – quan tâm và lo lắng; pragma – thu xếp và bố trí thực tế; philia – tình bạn; và agape – vị tha.

Thông thường, khi nghĩ về tình yêu, chúng ta nghĩ về những yếu tố này, ngoại trừ khía cạnh vui thú và vui đùa. Cái tôi lãng mạn của chúng ta định nghĩa tình yêu bằng ám ảnh cảm xúc và hấp dẫn tình dục. Cái tôi luân lý và tôn giáo của chúng ta thì định nghĩa tình yêu bằng quan tâm, tình bạn và vị tha. Còn cái tôi thực dụng của chúng ta thì định nghĩa tình yêu bằng những dàn xếp thực tế. Ít ai nói đến vị trí và tầm quan trọng của vui đùa, vui thú, chọc ghẹo lành mạnh hay hài hước, nhưng chúng thường là chất mềm giúp mọi thứ khác trôi chảy hơn.

Tôi có một ví dụ: Trong suốt cuộc đời trưởng thành, tôi sống trong nhiều cộng đoàn tu khác nhau, với những tu sĩ khác. Chúng tôi không được chọn để sống với ai, nhưng được chỉ định vào một cộng đoàn để cùng sống với người khác ở đó. Và chúng tôi đến với nhau, mỗi người đều có xuất thân khác nhau, tính cách khác nhau và những điểm dị biệt khác nhau. Đây là công thức chuẩn cho căng thẳng, thế mà hầu như nó luôn hiệu quả, thoải mái, đem lại sự nâng đỡ và thông hiệp trong cuộc sống. Điều gì làm cho nó có hiệu quả? Tại sao chúng tôi không rơi vào cảnh tương tàn? Làm sao chúng tôi sống (hầu như luôn) thoải mái với nhau, bất chấp những khác biệt, những ấu trĩ và cái tôi của mình?

Có một sứ mạng giữ chúng tôi lại để cùng nhau làm việc và quan trọng nhất là có lời cầu nguyện chung đều đặn giúp chúng tôi nhìn nhận nhau theo cách tốt đẹp hơn. Nhưng một điều rất quan trọng, là có những câu nói đùa, chọc ghẹo lành mạnh và hài hước như rượu trên bàn, giúp gạt đi những áp lực và xoa dịu căng thẳng vốn có trong khác biệt giữa chúng tôi. Một cộng đoàn không giữ mình được nhẹ nhàng bằng những câu nói đùa, chọc ghẹo lành mạnh cuối cùng sẽ trở thành thứ đối lập với nhẹ nhàng, cụ thể là nặng nề, xám xịt, đầy căng thẳng và vênh vang. Trong mọi cộng đoàn lành mạnh mà tôi đã sống, một trong những điều làm cho nó lành mạnh (và là mái nhà chúng ta thích quay về), đó chính là những câu nói đùa, vui thú, chọc ghẹo trong yêu thương và hài hước. Có những thứ rượu đậm đà có thể thêm sức sống cho bàn ăn của bất kỳ gia đình hay cộng đoàn nào.

Tuy nhiên, điều này cũng giống như uống rượu, nói đùa có thể hơi quá đà và bị dùng để tránh những cuộc trò chuyện khó khăn hơn cần phải có. Đồng thời, những câu nói đùa có thể giữ chúng ta liên hệ với nhau, theo cách có thể ngăn cản sự hình thành một cộng đoàn thực sự. Hài hước, nói đùa, chơi khăm cần biết khi nào là đủ, khi nào cần nghiêm túc. Nguy cơ làm quá chuyện đùa là có thật, mặc dù có lẽ nguy cơ cố sống mà không đùa còn cao hơn.

Chuyện đùa, vui thú, chọc ghẹo yêu thương và hài hước, không chỉ giúp chúng ta liên hệ với nhau bất chấp các khác biệt, mà còn giúp chúng ta làm nhẹ bớt sự vênh vang vốn thường là sản phẩm của những chuyện nghiêm túc quá đáng. Chúng giúp giữ gia đình và cộng đoàn của chúng ta vững vàng và thoải mái.

Tôi lớn lên trong một gia đình đông con, mỗi người đều có cá tính mạnh và nhiều lỗi lầm, nhưng trừ một vài dịp rất hiếm, nhà chúng tôi dù quá nhỏ so với số người trong nhà, nhưng lại rất thoải mái để ở, bởi vì nó luôn đầy những câu nói đùa, vui thú, hài hước và chọc ghẹo lành mạnh. Chúng tôi hiếm khi uống rượu, nhưng nói đùa thì nhiều! Khi nhìn lại những gì gia đình đã cho tôi, tôi vô cùng biết ơn vì rất nhiều tặng vật như đức tin, tình yêu thương, sự an toàn, lòng tin tưởng, nâng đỡ, dạy dỗ, sự tiết độ và sự nhạy bén về đạo đức. Nhưng gia đình còn dạy tôi về những câu đùa, vui thú, chọc ghẹo lành mạnh và hài hước. Đấy là một tặng vật không hề nhỏ.

Ở tiệc cưới Cana, Đức Mẹ để ý thấy dù đang là tiệc cưới, nhưng có gì đó không ổn. Có phải là bầu khí nặng nề chăng? Hay nghiêm túc quá đáng? Hay vênh vang không lành mạnh? Hay có một căng thẳng lộ rõ? Là gì cũng được. Nhưng Đức Mẹ thấy thiếu gì đó, nên Mẹ tìm đến Chúa Giêsu và bảo: “Con ơi, họ hết câu nói đùa rồi!”

Chúc lành cho người khác là phần tối hậu của tình dục

Dù nhiều người không nhận ra, nhưng phong trào #MeToo về cơ bản là một bênh vực mạnh mẽ cho khiết tịnh. Nếu khiết tịnh có thể được định nghĩa như một điều song hành với tôn kính, tôn trọng và nhẫn nại, thì hầu hết mọi điều trong phong trào #MeToo đều nói lên tầm quan trọng không thể bàn cãi của khiết tịnh và hoàn toàn nói về ý nghĩa tối hậu của tình dục, cụ thể là đem lại phúc lành cho người khác chứ không phải là lợi dụng họ.

Chỉ hai từ, chúc phúc. Điều mà Thiên Chúa và tự nhiên yêu cầu người nắm quyền là phải chúc phúc thay vì lợi dụng, dùng đặc quyền của mình để nâng đỡ thay vì quấy rối, và tạo một không gian an toàn hơn là sợ hãi. Chúng ta hình dung nếu trong mọi vụ việc nổi bật mà trong đó có nhà sản xuất phim Hollywood, nhân vật tầm cỡ của giới truyền hình, ngôi sao thể thao hoặc các nhà lãnh đạo tâm linh bị buộc tội quấy rối, lợi dụng và tấn công phụ nữ, thì những người đàn ông này, với quyền lực và uy thế của mình, nếu họ biết dùng quyền lực đó để giúp những phụ nữ kia có thêm an toàn và thành công thay vì nhảy bổ vào các phụ nữ này thì sẽ tốt như thế nào. Chúng ta hình dung nếu họ dùng quyền lực của mình để đem lại phúc lành cho các phụ nữ đó, đơn thuần là ái mộ vẻ đẹp và sinh lực của các phụ nữ đó, cho họ cảm thấy an toàn hơn, giúp họ thăng tiến trong sự nghiệp thì sẽ như thế nào. Nếu được như thế, thì mọi chuyện sẽ khác hẳn, cho cả hai phía. Cả hai sẽ hạnh phúc hơn, lành mạnh hơn và trân trọng tình dục hơn. Tại sao? Có điều gì liên kết giữa chúc phúc và tình dục?

#MeToo đã giúp vạch trần, tình dục thường bị dùng như một quyền lực, quyền lực để cưỡng ép sự đồng thuận tình dục, quyền lực để cho phép hoặc chặn đứng ai đó thăng tiến trong cuộc sống và sự nghiệp, và quyền lực để làm cho nơi làm việc của ai đó thành nơi an toàn và thoải mái hay thành nơi khó chịu và sợ hãi. Điều này đã có từ ngàn xưa cho đến tận bây giờ, nó vẫn là công cụ tình dục của nhiều người có quyền có thế. Các đạo diễn Hollywood, các nhân vật trong giới truyền hình, giáo sư đại học, vận động viên nổi tiếng, các ông chủ, các nhà lãnh đạo tâm linh, và những người quyền thế đủ mọi kiểu. Những người quyền thế quá thường xuyên (dù có thể là vô thức) để mình bị cuốn theo mẫu của một ông vua cổ đại, với suy nghĩ mọi phụ nữ trong lãnh địa đều thuộc về nhà vua và đặc quyền tình dục của vua là quyền trời ban. Phong trào #MeToo nói lên thời đó đã qua và những người có quyền, có chức, có thế, phải làm gì đó khác. Họ phải làm gì?

Để chúc phúc người khác thì phải làm hai việc. Thứ nhất, là cho người đó một ánh mắt ái mộ nhưng không lạm dụng, ái mộ mà không chút tư lợi nào. Tiếp theo, chúc phúc cho người khác là dùng quyền thế của mình để giúp cuộc sống người khác được an toàn hơn, giúp họ phát triển ước mơ và mục đích của mình. Chúc phúc cho người khác chính là nói với họ: Tôi mừng vì vẻ đẹp và sinh lực của bạn. Giờ tôi có thể làm gì để giúp bạn (mà không vì tư lợi của tôi)? Chúc phúc cho người khác như thế chính là biểu hiện cao nhất của tình dục và khiết tịnh. Vì sao lại thế?

Tình dục đâu chỉ là làm tình và khiết tịnh đâu chỉ là kiêng tình dục. Tình dục là động lực trong chúng ta nhằm hướng đến cộng đồng, tình bạn, sự toàn vẹn, gia đình, sự sáng tạo, vui chơi, ý thức siêu linh, vị tha, vui thú, hân hoan, viên mãn tình dục, bất tử và mọi thứ giúp chúng ta vượt ra khỏi sự cô độc. Nhưng nó có nhiều giai đoạn phát triển. Trong những giai đoạn đầu, nó tập trung vào việc làm tình, vào sự thân mật tình cảm, vào sự sinh sôi. Trong những giai đoạn sau, nó tập trung vào chúc phúc, vào ái mộ, trao đi để người khác có thêm.

Tôi mạn phép nói: Biểu hiện trưởng thành nhất của tình dục trên đời này không phải là một cặp đang làm tình thật hoàn hảo, dù cho nó tuyệt vời và thần thiêng đến mấy. Nói cho đúng, đó phải là ánh mắt người ông người bà nhìn đứa cháu với một tình yêu thương thuần khiết và quên mình hơn bất kỳ tình yêu thương nào họ từng trải nghiệm, một tình yêu không có tư lợi, chỉ có ái mộ, quên mình và vui thích. Trong khoảnh khắc đó, con người này đang phản chiếu cái nhìn của Thiên Chúa trước sự tạo dựng nguyên thủy và thốt lên rằng: Thật tốt đẹp biết bao! Tiếp theo, người này, cũng như Thiên Chúa, sẽ cố mở ra những con đường, thậm chí bằng cái giá là mạng sống, để cho cuộc đời người kia được nở hoa.

Thiên Chúa và tự nhiên cho tình dục nhiều mục đích, đó là thân mật, vui thú, sinh sôi, kết hợp và lạc thú, nhưng nó vốn có nhiều phương thức. Có lẽ biểu hiện tối hậu của nó chính là sự ái mộ đó, là nhìn người khác hoặc nhìn thế giới với ánh mắt ái mộ, với cõi lòng đang kêu lên: “Chà! Thích thú quá! Sinh lực của cháu làm phong phú thế giới này! Ông bà giúp được gì cho cháu đây?” Khi có thể hướng ánh mắt ái mộ về ai đó, thì chúng ta không thể nào xâm hại vẻ đẹp và phẩm giá của người đó.

Sự ái mộ và chúc phúc là phần tối hậu của tình dục. Giá mà những người bị #MeToo cáo buộc biết ái mộ thay vì lợi dụng.

Sự kinh ngạc đã không còn

Trong bài thơ với tiêu đề Is/Not, văn hào Canada Margaret Atwood gợi ý khi tình yêu trở nên tê dại, thì chúng ta sẽ thấy mình như thế này:

Chúng ta kẹt nơi đây
Ở bên này biên giới
trong đất nước của những con đường mòn nát, những tòa nhà nhạt nhẽo
chẳng có gì ngoạn mục để ngắm nhìn
thời tiết thì bình thường
và tình yêu thuần túy
chỉ có trên những thứ đồ lưu niệm rẻ tiền nhất.

Tình yêu có thể trở nên tê dại giữa hai con người, cũng như ở cả trong văn hóa. Và chuyện đó đã xảy ra trong văn hóa chúng ta, ít ra là ở phần lớn văn hóa. Sự háo hức từng một thời hướng dẫn đôi mắt chúng ta đã nhường chỗ cho một tê dại và thoái lui nào đó. Chúng ta không còn tươi mới và sảng khoái trước cuộc đời. Chúng ta đã thấy nó mang lại gì và đã cam chịu chấp nhận một mức độ nào đó. Ở đó chỉ có thế thôi, nó đâu có tuyệt vời đến thế! Tất cả những gì chúng ta có thể nỗ lực bây giờ là có thêm những thứ như cũ, với một hy vọng sai lầm, nếu chúng ta cứ tăng thêm liều thì hiệu quả sẽ tốt hơn.

Họ nói về những người già, nhưng người già thật ra lại trẻ trung trong trái tim. Chúng ta ở mặt chống đối, người trẻ mà không còn trẻ trung trong lòng. Sự kinh ngạc đã không còn.

Căn nguyên của chuyện này là gì? Điều gì tước đi sự kinh ngạc khỏi chúng ta? Sự quen thuộc và hậu duệ của chúng: cầu ký, kiêu hãnh về tri thức, thất vọng, buồn chán và khinh dễ. Sự quen thuộc sản sinh ra khinh dễ và khinh dễ là phản đề của hai điều cần có để kinh ngạc trước thế giới: tôn kính và tôn trọng.

Tác giả G.K. Chesterton từng nói, quen thuộc là thứ ảo tưởng lớn nhất. Thi sĩ Elizabeth Barrett Browning cho chúng ta một diễn đạt thi ca về điều này: Địa cầu đầy dẫy thiên đàng. Bụi cây nào cũng có lửa của Thiên Chúa. Nhưng chỉ có người nào nhìn thấy, họ cởi giây. Số còn lại ngồi quanh nhặt trái và vô thức bôi bẩn mặt mình. Đoạn thơ này mô tả rất đúng ảo tưởng của sự quen thuộc, nhặt trái mâm xôi trong khi bất cẩn bôi bẩn mặt mình, không biết mình đang ở trước sự hiện diện của đấng thánh. Sự quen thuộc biến mọi thứ thành bình thường.

Vậy bài học là gì? Làm sao để chúng ta phục hồi ý thức kinh ngạc? Làm sao để chúng ta lại một lần nữa nhìn thấy ngọn lửa thần thiêng trong đời thường? Chesterton gợi ý, bí quyết để phục hồi sự kinh ngạc và thấy được ngọn lửa thần thiêng trong đời thường chính là nhìn vào những thứ quen mắt cho đến khi chúng lại trở nên không quen mắt. Theo Kinh Thánh, đây là điều mà Thiên Chúa yêu cầu ông Môsê khi ông nhìn thấy một bụi cây bốc cháy giữa hoang mạc và tò mò tiến lại gần ngọn lửa đó. Thiên Chúa phán với ông: “Hãy cởi giày ra, nơi ngươi đang đứng là đất thánh”.

Câu này, lời mời độc nhất này, chính là bí quyết để phục hồi ý thức kinh ngạc của chúng ta mỗi khi chúng ta thấy mình kẹt ở bên này biên giới, trong đất nước của những con đường mòn nát, những tòa nhà nhạt nhẽo, chẳng có gì ngoạn mục để ngắm nhìn, thời tiết thì bình thường và tình yêu thuần túy dường như chỉ có trên những thứ đồ lưu niệm rẻ tiền nhất.

Một trong những giáo sư cao học của tôi thỉnh thoảng khuyên chúng tôi thế này: Nếu hỏi một đứa bé ngây thơ có tin có Ông già Noel không, nó sẽ trả lời có. Nếu hỏi một đứa bé sáng suốt thì nó sẽ trả lời không. Nhưng nếu hỏi một đứa trẻ sáng suốt hơn, nó sẽ mỉm cười và bảo là có.

Ý thức kinh ngạc của chúng ta ban đầu dựa vào sự ngây thơ khi là đứa trẻ, khi chưa quen thuộc một cách không lành mạnh với thế giới này. Đôi mắt chúng ta vẫn mở to để ngạc nhiên trước sự mới mẻ của vạn vật. Dĩ nhiên, điều đó thay đổi khi chúng ta lớn lên, trải nghiệm và học hỏi. Chẳng mấy chốc, chúng ta biết sự thật về Ông già Noel và như thế, rất dễ dàng kèm theo cái chết của sự kinh ngạc, đồng thời sự quen thuộc khai sinh sự khinh dễ. Đây là sự vỡ mộng, một giai đoạn chuyển tiếp bình thường trong đời, chứ không phải là đích đến cuối cùng trong đời. Nhiệm vụ của tuổi trưởng thành là phục hồi lại ý thức kinh ngạc và một lần nữa, vì những lý do rất khác biệt, mà tin vào chuyện Ông già Noel. Chúng ta cần đem sự kinh ngạc này trở lại.

Tôi từng nghe một người khôn ngoan chia sẻ câu chuyện này: Cứ hình dung một đứa bé hai tuổi hỏi bạn, “buổi tối, mặt trời đi đâu ạ?” Với một đứa trẻ ở tuổi đó, đừng lấy quả địa cầu hay quyển sách ra để cố giải thích cách mặt trời điều hành. Cứ trả lời với đứa bé, mặt trời mệt rồi và đang ngủ sau kho thóc. Tuy nhiên, khi đứa bé đã sáu hay bảy tuổi, đừng cố giải thích như thế nữa. Giờ đã đến lúc lấy sách ra và giải thích về hệ mặt trời. Sau đó, khi đứa bé lên cấp ba hay đại học, thì lấy sách của Steve Hawking, Brian Swimme và các nhà vật lý thiên văn để nói về nguồn gốc và sự tạo thành vũ trụ. Cuối cùng, khi người đó 80 tuổi, đủ hợp lý để chúng ta lại nói “mặt trời mệt rồi và đang ngủ sau kho thóc”.

Chúng ta đã quá quen thuộc với buổi hoàng hôn! Nhưng sự kinh ngạc có thể biến cái quen thuộc thành không quen thuộc một lần nữa.

Cầu nguyện như một tín hữu kitô

Trong kitô giáo có bốn dạng cầu nguyện khác biệt. Có lời cầu nguyện nhập thế, lời cầu nguyện thần nghiệm, lời cầu nguyện cảm xúc và lời cầu nguyện linh mục. Vậy những lời cầu nguyện này là gì và khác nhau như thế nào?

Lời cầu nguyện nhập thế. Thánh Phaolô mời gọi chúng ta “cầu nguyện luôn mãi”. Làm sao có thể làm được? Chúng ta có thể hay không thể cầu nguyện luôn mãi? Điều mà thánh Phaolô mời gọi chúng ta cũng là điều Chúa Giêsu yêu cầu chúng ta khi Ngài bảo “hãy đọc dấu chỉ của thời đại”. Khi nói thế, Chúa Giêsu không bảo chúng ta hãy đọc mọi phân tích chính trị, kinh tế, xã hội mình tìm được. Đúng hơn, Ngài mời gọi chúng ta hãy tìm kiếm ngón tay của Thiên Chúa trong mọi sự kiện trong đời chúng ta. Thế hệ cha mẹ tôi gọi điều này là hòa hợp với “sự quan phòng tối cao”, nghĩa là nhìn vào mọi sự kiện trong đời mình và những sự kiện chính của thế giới rồi tự vấn: “Thiên Chúa nói gì với chúng ta trong những sự kiện này?” Nhưng khi làm việc này, chúng ta phải cẩn thận. Thiên Chúa không gây ra tai nạn, bệnh tật, thương tâm, chiến tranh, nạn đói, động đất, trái đất nóng lên hay đại dịch, Thiên Chúa cũng không cho trúng số hay cho đội bóng chúng ta yêu thích thành vô địch, nhưng Thiên Chúa nói qua những sự việc này. Chúng ta cầu nguyện nhập thế khi tìm ra tiếng nói đó.

Lời cầu nguyện thần nghiệm. Cầu nguyện thần nghiệm không phải là việc có trải nghiệm thiêng liêng phi thường như thị kiến, xuất thần. Thần nghiệm không phải hướng về những điều này. Trải nghiệm thần nghiệm của tôi đơn giản là được Thiên Chúa chạm đến cách thâm sâu hơn những gì chúng ta có thể nắm bắt và hiểu được bằng trí tuệ và tưởng tượng, một hiểu biết vượt trên cả tâm và trí. Nhận thức thần nghiệm hoạt động như sau: Cái đầu bảo cho chúng ta biết suy nghĩ nào của chúng ta là khôn ngoan để thực hiện, trái tim cho chúng ta biết điều chúng ta muốn và trung tâm thần nghiệm cho chúng ta biết chúng ta phải làm gì. Ví dụ như tác giả C.S. Lewis mô tả trải nghiệm trở lại đạo của ông, ông kể lần đầu tiên ông quỳ gối và công nhận Chúa Kitô, ông đã không nhiệt tâm làm. Thay vào đó, theo lời nổi tiếng của ông, ông đã quỳ gối “trong lần trở lại gượng ép nhất trong lịch sử kitô giáo”. Điều gì đã buộc ông làm điều này? Ông nói: “Sự hà khắc của Chúa thì tốt hơn là sự dịu dàng của con người, và sự ép buộc của Chúa là sự giải phóng chúng ta”. Chúng ta cầu nguyện cầu nguyện thần nghiệm bất cứ khi nào chúng ta lắng nghe và nghe thấy tiếng nói cưỡng bức nhất trong chúng ta, tiếng nói mách bảo cho chúng ta biết điều mà Thiên Chúa và bổn phận kêu gọi chúng ta làm.

Lời cầu nguyện cảm xúc. Đó là mọi lời cầu nguyện sốt mến (chầu Thánh Thể, đọc kinh cầu, kinh mân côi, những lời cầu nguyện xin Đức Mẹ hay các thánh cầu bàu) xét cho cùng, đây là lời cầu nguyện cảm xúc, là những dạng chiêm nghiệm và suy niệm. Chúng đều như nhau về ý chỉ. Đó là gì vậy? Trong Phúc âm thánh Gioan, những lời đầu tiên Chúa Giêsu phán là một câu hỏi. Dân chúng tò mò nhìn Ngài, và Ngài hỏi họ, “Các anh tìm gì?” Câu hỏi đó tồn tại xuyên suốt toàn bộ các phúc âm như một câu nền. Nhiều điều diễn ra trên bề mặt, nhưng bên trong luôn có một câu hỏi day dứt, băn khoăn: “Các anh tìm gì?”

Chúa Giêsu chính xác trả lời cho câu hỏi này vào sáng ngày phục sinh. Khi bà Maria Magđala đi tìm Ngài, đem theo thuốc thơm để xức xác Ngài. Chúa Giêsu gặp bà, nhưng bà không nhận ra. Rồi Ngài lặp lại cùng câu hỏi đã mở đầu Phúc âm: “Bà tìm ai?” và cho chúng ta câu trả lời thực sự. Ngài gọi tên bà đầy yêu thương: “Maria”. Khi làm như thế, Ngài mặc khải điều mà bà và hết thảy chúng ta đều luôn mãi tìm kiếm, đó là tiếng Chúa phán trực diện, với tình yêu thương vô điều kiện đang gọi tên chúng ta. Mọi lời cầu nguyện sốt mến dù cho chúng ta, cho người khác hay cho thế giới, đều có mục đích tối hậu này.

Lời cầu nguyện linh mục. Lời cầu nguyện linh mục là lời cầu nguyện của Chúa Kitô cho thế giới thông qua giáo hội. Kitô giáo tin rằng Chúa Kitô vẫn ở với chúng ta bằng lời của Ngài và bằng phép Thánh Thể. Và chúng ta tin rằng bất cứ khi nào chúng ta tụ họp với nhau, trong nhà thờ hay nơi nào khác, để quây quần quanh Kinh thánh hoặc để cử hành phép Thánh Thể, là chúng ta đang bước vào lời cầu nguyện này. Lời cầu nguyện này thường được gọi là lời cầu nguyện phụng vụ, đó chính là lời cầu nguyện của Chúa Kitô chứ không phải của chúng ta. Hơn nữa, đây không phải là lời cầu nguyện trước hết cho bản thân chúng ta hay cho hội thánh, mà là lời cầu nguyện cho thế giới – “Thịt Ta là của ăn đem lại sự sống cho thế gian”.

Chúng ta đọc lời cầu nguyện phụng vụ, lời cầu nguyện linh mục, bất kỳ lúc nào chúng ta quây quần quanh Kinh thánh, phép Thánh Thể hay bất kỳ bí tích nào. Chúng ta cũng cầu nguyện theo cách này khi cầu nguyện các giờ kinh phụng vụ, riêng tư hay với cộng đoàn. Chúng ta được yêu cầu hãy đều đặn cầu nguyện cho thế giới nhờ thiên chức linh mục được truyền cho chúng ta trong phép rửa.

Một tín hữu kitô lành mạnh về mặt thiêng liêng và trưởng thành cầu nguyện theo bốn cách này, và phân biệt rõ ràng bốn dạng cầu nguyện này có thể hữu ích để chúng ta cầu nguyện luôn mãi và cầu nguyện với Chúa Kitô.

Đừng thủ thế

Trong phần lớn thế giới thế tục, chúng ta sống trong bầu khí phần nào bài Giáo hội và bài giáo sĩ. Ngày nay, khá là hợp thời khi công kích các giáo hội, dù là Giáo hội công giáo la-mã, tin Lành hay phái Phúc âm. Việc này thường được thực hiện nhân danh tư tưởng phóng khoáng và khai sáng, và đó chính là thiên kiến được phê chuẩn về mặt tri thức. Nói xấu gì đó về bất kỳ nhóm nào khác trong xã hội thì ta sẽ phải giải thích, nói gì đó phỉ báng các giáo hội thì không bị hậu quả gì.

Vậy phải phản ứng thế nào mới đúng đắn? Dù chúng ta dễ thấy mình bị xúc phạm bởi việc này, nhưng phải cẩn thận đừng phản ứng thái quá, bởi vì là Giáo hội, chúng ta không nên thấy mình bị đe dọa ghê gớm bởi điều này. Vì sao lại thế?

Trước hết, vì một số chỉ trích là tốt và hữu ích. Phải nói sự thật, chúng ta ai chẳng có những lỗi phạm thật sự. Mọi chủ nghĩa vô thần là ký sinh sống nhờ một tôn giáo tồi. Những lời chỉ trích chúng ta sống nhờ những lỗi phạm của chúng ta và chúng ta chỉ có biết ơn vì họ đã đưa ra những lỗi phạm này, mặc dù đôi khi người ta làm quá hơn mức cần thiết. Những lời chỉ trích Giáo hội giúp chúng ta khiêm tốn một cách lành mạnh và thúc đẩy chúng ta phải can đảm thanh lọc nội bộ hơn nữa. Ngoài ra, chúng ta đã hưởng đặc quyền quá lâu rồi, và đó không bao giờ là một điều tốt cho Giáo hội. Cho dù không thích cho lắm, nhưng thường chúng ta sống trong tư cách là người tín hữu kitô thời thiếu đặc quyền lành mạnh hơn là thời có nhiều đặc quyền. Hơn nữa, có vài điều hệ trọng đang gặp nguy cơ.

Chúng ta phải cẩn thận đừng phản ứng thái quá với bầu khí bài giáo hội đương thời, vì nó có thể dẫn chúng ta đến tâm thức đề phòng quá đáng và đặt chúng ta vào vị trí đối chọi không lành mạnh với một văn hóa, mà Tin Mừng không khuyên chúng ta phải làm như thế. Trách nhiệm của chúng ta đúng ra là phải hấp thụ các lời chỉ trích, đau đớn suy ngẫm về nó, nhẹ nhàng đưa ra điểm bất công trong đó, và chống lại cám dỗ thủ thế. Vì sao? Vì sao không nên gồng mình thủ thế?

Vì chúng ta đủ mạnh để không làm thế, đủ lý trí để không làm thế. Chúng ta có thể chịu đựng điều này mà không trở nên gay gắt và thủ thế hơn. Bất chấp sự chỉ trích đương thời đối với Giáo hội, Giáo hội đâu có sụp đổ hay tan biến ngay. Chúng ta là hai tỷ rưỡi tín hữu kitô trên khắp thế giới, đứng vững với truyền thống hai ngàn năm, có một Kinh Thánh được chấp nhận rộng rãi, có giáo lý được giữ vững và tinh tế điều chỉnh trong hai ngàn năm, có các thể chế lớn hàng trăm năm tuổi, bén rễ sâu trong văn hóa và công nghệ Tây phương, có lẽ là nhóm đa quốc gia lớn nhất thế giới và phát triển về con số mạnh nhất thế giới. Chúng ta đâu phải là cây sậy lay lắt trước gió hay con tàu sắp chìm. Chúng ta mạnh mẽ, vững vàng, được Chúa chúc phúc, là trưởng lão trong nền văn hóa, và vì thế chúng ta phải là hình mẫu chính chắn và thông hiểu cho nền văn hóa.

Ngoài ra, quan trọng hơn nữa, Đức Kitô đã hứa luôn ở bên cạnh chúng ta, và có sự phục sinh để nâng đỡ chúng ta. Với tất cả những điều này, tôi nghĩ thật công bằng khi nói chúng ta có thể tiếp thu khá nhiều lời chỉ trích mà không sợ đánh mất bản sắc của mình. Hơn nữa, chúng ta đừng để những lời chỉ trích làm chúng ta mất đi nhận thức lý do vì sao chúng ta tồn tại ngay từ đầu.

Giáo hội tồn tại không phải vì chính nó hay để bảo đảm sự tồn tại của nó, mà là vì thế giới. Chúng ta có thể dễ dàng quên mất điều này và mất đi ý thức về yêu cầu của Tin Mừng đối với chúng ta. Ví dụ như, hãy so sánh hai phản ứng này: Ở một buổi họp báo, khi được hỏi, nhiệm vụ hàng đầu của giáo hội thời nay là gì, hồng y Basil Hum đơn giản trả lời: “Chúng ta cần nỗ lực cứu hành tinh này.” Cũng câu hỏi này, trong một phỏng vấn đề trên đài gần đây, một hồng y khác trả lời: “Phải bảo vệ đức tin”. Vậy ai mới đúng?

Mọi điều về Chúa Giêsu cho thấy quan điểm của hồng ý Hume gần với Tin Mừng hơn hồng y kia. Khi Chúa Giêsu nói, “Thịt Ta là của ăn hằng sống cho thế gian”, Ngài xác nhận rõ, nhiệm vụ hàng đầu của Giáo hội không phải là bảo vệ mình, bảo đảm sự tiếp diễn của mình hay bảo vệ mình khỏi bị thế giới vùi dập. Giáo hội tồn tại vì thế giới chứ không phải vì chính Giáo hội. Chính vì thế có một biểu tượng phong phú trong chuyện Chúa Giêsu vừa ra đời thì nằm trong máng cỏ, nơi là máng ăn của thú vật, và chính vì thế mà Ngài dâng mình trên bàn tiệc Thánh Thể, để được ăn. Một phần lớn về Chúa Giêsu, Ngài hướng đến việc bị thế giới nuốt chửng, cụ thể là liều để mình yếu đuối còn hơn là an toàn, thà tin tưởng còn hơn là thủ thế. Trọng tâm của Tin Mừng có lời kêu gọi hãy liều mình vượt ra khỏi sự thủ thế và hấp thụ chỉ trích bất công mà không chống cự: “Xin Cha tha thứ cho họ, vì họ không biết việc họ làm”.

Giáo hội phải trao mình làm của ăn cho thế giới. Như mọi sinh vật sống đôi khi cần phải bảo vệ mình, nhưng không bao giờ đánh đổi điều đó với chính lý do mà nó tồn tại.

Ngôn sứ thầm lặng

Cương vị môn đệ kitô kêu gọi tất cả chúng ta phải mang tính ngôn sứ, là người bênh vực cho công lý, là tiếng nói cho người nghèo và bảo vệ sự thật. Nhưng không phải tất cả chúng ta, theo bản chất hay có ơn gọi đặc biệt để không tuân hành luật dân sự, đi tuần hành biểu tình, dẫn đầu các vụ đình công như các nhân vật Dorothy Day, Martin Luther King, Daniel Berrigan và những nhân vật mang chiều kích ngôn sứ khác. Tất cả chúng ta đều được kêu gọi làm ngôn sứ, nhưng với một số người, điều này chỉ có nghĩa là dùng chậu nước cái khăn để rửa chân cho người khác hơn là giương cao biểu ngữ.

Có một phương thức làm ngôn sứ rất mạnh dù có vẻ lặng lẽ và riêng tư, nhưng không bao giờ cá nhân. Và những quy luật của nó cũng giống như quy luật của những người nhân danh Chúa Giêsu đang giương biểu ngữ và biểu tình. Những luật này, những luật của tinh thần ngôn sứ kitô là gì?

Thứ nhất, ngôn sứ là người khấn đức yêu thương chứ không khấn tha hóa. Có một sự phân biệt then chốt giữa việc khuấy động vấn đề và tiên tri bằng tình yêu, một phân biệt giữa hoạt động vì vị kỉ và hoạt động vì đức tin và đức cậy. Một ngôn sứ chấp nhận bị hiểu lầm, nhưng không bao giờ tạo hiểu lầm, một ngôn sứ luôn đi tìm một trái tim dịu dàng chứ không tìm trái tim giận dữ.

Thứ hai, công lao của người ngôn sứ là từ Chúa Giêsu chứ không từ ý thức hệ. Các ý thức hệ có thể có nhiều sự thật và có thể dùng để bênh vực chân thành cho công lý. Nhưng người dân có thể tránh xa ý thức hệ, khi thấy nó chính xác là ý thức hệ, một kiểu chuẩn mực ăn nói cho hợp lý và từ đó biện hộ cho việc họ bác bỏ sự thật mà ý thức hệ này đưa ra. Những người chân thật thường tránh xa các tổ chức như Hòa bình xanh, Nữ quyền, Thần học giải phóng, Thuyết Chủng tộc phê phán và nhiều ý thức hệ khác vốn thật sự bao gồm nhiều sự thật, lý do chỉ vì các sự thật này bị gom trong một ý thức hệ. Những người chân thật sẽ không rời xa Chúa Giêsu. Trong cuộc đấu tranh vì công lý và sự thật, chúng ta phải luôn cảnh giác một chuyện là sự thật của chúng ta được rút ra từ Phúc âm chứ không từ một ý thức hệ nào.

Thứ ba, ngôn sứ thì cam kết phi bạo lực. Theo linh mục Dòng Tên Daniel Berrigan, một ngôn sứ luôn tìm cách bỏ khí giới của bản thân thay vì dùng vũ khí, để trở thành kẻ tội phạm bất lực ở thời mà quyền lực là tội phạm. Một ngôn sứ xem trọng lời Chúa Giêsu khi họ xin chúng ta, ai tát má này thì chìa má kia. Một ngôn sứ là hiện thân của cách sống theo chân lý cánh chung, trên thiên đàng sẽ không có súng ống.

Thứ tư, ngôn sứ ở phía tiếng nói Thiên Chúa, cho người nghèo và cho địa cầu. Bất kỳ việc giảng dạy hay hành động chính trị nào không đem lại điều tốt cho người nghèo thì không phải là Phúc âm của Chúa Giêsu Kitô. Chúa Giêsu đến để đem tin mừng cho người nghèo, cho “cô nhi, góa phụ và khách lạ” (quy tắc trong Kinh thánh để xác định những người dễ bị tổn thương nhất trong xã hội). Mục sư Forbes đã nói câu nói lừng danh: ‘Không ai lên thiên đàng mà không có thư giới thiệu của người nghèo.’ Chúng ta không buộc phải tương ứng với Giáo hội.

Thứ năm, ngôn sứ không tiên đoán tương lai nhưng gọi tên hiện tại theo tầm nhìn của Thiên Chúa. Một ngôn sứ tìm hiểu xem ngón tay Thiên Chúa chỉ vào đâu trong cuộc sống hàng ngày, để cho thấy sự trung tín hay bất tín của chúng ta với Thiên Chúa, cũng như để cho thấy tương lai của chúng ta trong kế hoạch mà Thiên Chúa dành cho chúng ta. Đó là thách thức của Chúa Giêsu khi Ngài bảo chúng ta hãy đọc dấu chỉ của thời đại.

Thứ sáu, ngôn sứ lên tiếng từ đức cậy. Ngôn sứ không dựa trên tầm nhìn và năng lực từ mơ tưởng hay tinh thần lạc quan, nhưng là từ đức cậy. Đức cậy kitô giáo không dựa trên tình hình thế giới hôm nay tốt hay xấu. Đức cậy kitô giáo dựa trên lời hứa của Thiên Chúa, lời hứa được ứng nghiệm trong sự phục sinh của Chúa Giêsu, bảo đảm với chúng ta, chúng ta có thể phó mình cho đức mến, chân lý và công chính, kể cả khi thế giới giết chúng ta vì thế. Tảng đá chắn ngôi mộ rồi sẽ được lăn ra.

Thứ bảy, tâm hồn và chính nghĩa của ngôn sứ không bao giờ biệt lập. Chúa Giêsu quả quyết với chúng ta: trong nhà Ngài có nhiều chỗ. Tính ngôn sứ kitô giáo phải bảo đảm, không ai hay nhóm nào có thể biến Thiên Chúa thành thượng đế của riêng nhóm mình hay quốc gia mình. Thiên Chúa bình đẳng đối với tất cả mọi dân, mọi nước.

Cuối cùng, ngôn sứ không chỉ lên tiếng hay nói về bất công, mà còn có thể hành động và hành động một cách can trường, dù phải hy sinh mạng sống. Ngôn sứ là người khôn ngoan, những là người hành động, dù phải mất bạn bè, mất danh vọng, mất tự do hay thậm chí mất mạng sống. Một ngôn sứ có đủ tình yêu vị tha, hy vọng và can trường hành động, bất chấp tất cả. Một ngôn sứ không bao giờ cố tìm cách tử đạo, nhưng nếu phải, thì họ chấp nhận.

Tôi nghĩ điểm cuối cùng này là điểm thách thức nhất với các ngôn sứ “thầm lặng”. Những người minh triết không nổi tiếng, không dẫn đầu biểu tình, nhưng đó cũng chính là thách thức. Một ngôn sứ có thể phân định lúc nào bỏ tấm biểu ngữ xuống và lấy chậu nước cái khăn ra để rửa chân, lúc nào bỏ chậu nước cái khăn xuống để cầm tấm biểu ngữ giương lên.

Về sự ngây thơ, thuần khiết và khiết tịnh

Trong nghi thức rửa tội Kitô giáo có một nghi thức nhỏ vừa cảm động vừa siêu thực. Là lúc em bé được mặc áo trắng tượng trưng cho sự ngây thơ và thuần khiết. Linh mục hay thừa tác viên sẽ nói những lời này: “Hãy nhận lấy tấm áo trắng này và giữ nó tinh tuyền trước ngai phán xét của Chúa Giêsu Kitô”.

Dù những lời này thật cảm động, nhưng chúng ta không thể không nghĩ rằng điều này thật bất khả thi, trừ phi đứa bé chết từ khi còn nhỏ. Chắc chắn tấm áo trắng của chúng ta sẽ phải dính vài vết nhơ. Và nó sẽ đến trong tuổi trưởng thành. Chẳng ai đi qua cuộc đời mà không đánh mất sự ngây thơ của một đứa trẻ.

Nhưng dù là thế, sự ngây thơ vẫn là một lý tưởng cần được nuôi dưỡng và phục hồi liên tục. Và điều này càng cần được bảo vệ trong thời nay, vì sự ngây thơ và những phẩm chất đi kèm của nó là sự thuần khiết và khiết tịnh đang gặp khó khăn trong một thế giới có khuynh hướng đánh giá cao sự tinh tế hơn tất cả và thường xem ngây thơ là ngờ nghệch và giả vờ.

Chuyện này có một lịch sử khá dài. Trong nhiều thế kỷ, các giáo hội xem ngây thơ, thuần khiết và khiết tịnh là những nhân đức nổi trội trong nề nếp kitô giáo và cuộc sống. Tuy nhiên, từ thế kỷ 17 trở đi, các nhà tư tưởng lớn đã cố lật ngược điều này, cho rằng những nhân đức này thật ra là phản nhân đức. Với họ, ngây thơ, thuần khiết và khiết tịnh là những lý tưởng đánh tráo, những ảo tượng của sự rụt rè, những triệu chứng của một thù địch vô thức đối với cuộc đời. Chẳng hạn triết gia Nietzsche đã viết: “Giáo hội đấu tranh với những đam mê bằng cách cắt bỏ nó đi, việc thực hành và phép chữa của nó chỉ là một kiểu thiến hoạn”. Freud thì cho rằng trong những quan niệm về ngây thơ, thuần khiết và khiết tịnh có nhiều dấu vết của sự ái kỷ, ngông cuồng và ảo tưởng bất khả chiến bại. Theo những tư tưởng gia thời đại Ánh sáng này, khi lý tưởng hóa sự ngây thơ, thuần khiết và khiết tịnh, nhân loại đồng ý biến mình thành bất hạnh khi phương thuốc thanh tẩy tâm hồn cũng đưa vào những độc chất tinh thần như tự thị, kiêu ngạo, và lãnh đạm, một thứ còn ghê gớm hơn dục vọng xa.

Văn hóa chúng ta, trừ một vài người phê bình gay gắt, về căn bản tin vào lập luận này. Dĩ nhiên có những ngoại lệ nổi bật trong các giáo hội chúng ta, nhưng trong tâm thức của nền văn hóa, sự ngây thơ, thuần khiết và khiết tịnh bị đánh đồng với dè dặt, ngây ngô và trào lưu chính thống.

Như vậy, chuyện sẽ thế nào đây? Thật sự không chắc chắn lắm.

Những người bảo thủ, với những ngụy trang của họ, có khuynh hướng sợ phá vỡ điều cấm kỵ, nhất là những chuyện liên quan đến ngây thơ, thuần khiết và khiết tịnh. Chuyện này có ý định lành mạnh. Đây chính là suy nghĩ của nhà văn J.D. Salinger (Bắt trẻ đồng xanh) khi nhìn vào những đứa trẻ ngây thơ chơi đùa và ước gì chúng không bao giờ trưởng thành mà luôn mãi ngây thơ và vui vẻ. Những người bảo thủ sợ bất kỳ dạng tinh tế nào gây hủy hoại sự ngây thơ. Như thế là có ý tốt, nhưng phi thực tế. Chúng ta cần trưởng thành và trưởng thành đi kèm với sự phức tạp, tinh tế, lộn xộn và những vết nhơ trên chiếc áo trắng rửa tội. Thiên Chúa không định cho chúng ta làm trẻ em ngây thơ chơi đùa trên đồng xanh mãi.

Những người theo chủ nghĩa tự do lại có một lớp ngụy trang khác, nhưng cũng chật vật (tương đương dù theo cách khác) đối với sự ngây thơ, thuần khiết và khiết tịnh. Họ ít sợ phá vỡ điều cấm kỵ hơn. Với họ, các giới hạn là để mở rộng và hầu hết là để phá vỡ, như thế, sự ngây thơ là một giai đoạn mà chúng ta sẽ vượt qua và bỏ lại sau lưng (như tin vào Ông già Noel). Thật vậy, với người theo chủ nghĩa tự do, hiện thực hóa bản thân bắt đầu bằng việc làm chủ sự phức tạp của mình, nhận ra sự thần thánh của nó và chấp nhận rằng mất đi sự ngây thơ và có được sự phức tạp chính là thứ mở ra cho chúng ta một ý nghĩa thâm sâu hơn. Kinh nghiệm đem lại kiến thức. Khi Adam và Eva ăn trái cấm, mắt họ mở ra chứ không đóng lại. Với người theo chủ nghĩa tự do, sự ngây thơ không phải là đức tính, sự tinh tế mới là đức tính. Sự ngây thơ bị xem là phi thực tế, sự thuần khiết bị xem là rụt rè về tình dục và sự khiết tịnh là trào lưu tôn giáo chính thống cực đoan.

Cả hai quan điểm bảo thủ và tự do, đều đưa ra những cảnh báo lành mạnh. Lời cảnh báo của bảo thủ có thể giúp chúng ta tránh những hành vi tự hoại, còn lời cảnh báo của tự do thì mời gọi chúng ta đừng sợ hãi, cứu chúng ta khỏi sự dè dặt và ngây ngô không lành mạnh. Tuy nhiên, chúng ta phải học hỏi lẫn nhau. Những người bảo thủ cần học biết rằng Thiên Chúa không dự định cho chúng ta tôn sùng sự ngây thơ và ngây ngô của một đứa trẻ. Chúng ta phải học hỏi, phải trưởng thành, phải tinh tế hóa. Nhưng những người theo chủ nghĩa tự do cần biết rằng sự tinh vi, cũng như sự ngây thơ, tự nó không phải là cùng đích, mà là một giai đoạn để con người vượt qua.

Triết gia lừng danh Paul Ricoeur có nói một điều, sự trưởng thành cuối cùng phải trải qua các giai đoạn. Chúng ta phải đi từ sự ngây ngô của đứa bé, rồi mất đi sự ngây thơ, trở nên rối rắm và thường là tinh tế yếm thế của tuổi trưởng thành, và hướng đến “sự ngây ngô thứ hai”, sự hậu-tinh tế, sự ngây thơ lần nữa, trở nên như con trẻ chứ không phải ấu trĩ, đơn thuần chứ không phải là đơn giản.

Trong sự ngây ngô lần nữa này, chiếc áo trắng rửa tội của chúng ta sẽ lại không tì vết, được giặt sạch trong máu của sự ngây thơ mới.

Chính thống quảng đại

Có một câu nói được cho là của Attila the Hun, nhà cai trị khét tiếng vì sự tàn bạo vào thế kỷ thứ 5, nó như thế này: Để tôi được hạnh phúc, thành công hay không không quan trọng, quan trọng là tất cả mọi người khác thất bại. Tôi không dám chắc Attila the Hun là người nói câu này, nhưng dù sao đi nữa, câu này có một bài học để chúng ta rút ra.

Các sách Phúc âm nói rằng lòng thương xót của Thiên Chúa là vô hạn và không điều kiện, rằng Thiên Chúa không thiên vị, Ngài mong muốn cho tất cả mọi người đều được hạnh phúc và ơn cứu rỗi, và Thiên Chúa không phân phát ơn Thánh Linh theo khẩu phần. Nếu đúng là thế, thì chúng ta cần tự hỏi mình tại sao chúng ta lại quá thường xuyên có khuynh hướng ngăn giữ Thánh Linh Thiên Chúa đến với người khác trong những phán xét của mình, nhất là những phán xét về mặt tôn giáo. Chúng ta không thấy được sự thật rằng trong chúng ta có chút gì đó của Attila the Hun.

Ví dụ như, chúng ta thiên về lối nghĩ này đến mức nào? Để tôn giáo của tôi xác thực, điều quan trọng là các tôn giáo khác phải không xác thực! Để giáo phái kitô giáo của tôi trung thành với Đức Kitô, điều quan trọng là mọi phái khác phải ít trung thành hơn. Để Phép Thánh Thể trong phái của tôi có giá trị, điều quan trọng là Phép Thánh Thể trong các phái khác vô giá trị hoặc ít giá trị hơn. Và vì tôi sống với một tinh thần thành tín liên tục trong đức tin và đời sống đạo đức, điều quan trọng là mọi người khác không sống thành tín như tôi thì không được lên thiên đàng hoặc phải ở hàng kém hơn trong thiên đàng.

Chúng ta không phải là những môn đệ đầu tiên của Chúa nghĩ theo cách này và bị Chúa Giêsu chất vấn về tâm thức theo kiểu Attila the Hun này. Thật sự, đây là phần chính trong bài học của dụ ngôn người chủ vườn quá sức rộng rãi đã trả công cho mọi người như nhau dù họ làm ít hay nhiều.

Chúng ta tất cả đều biết câu chuyện này. Một sáng nọ, người chủ vườn ra chợ và thuê người về làm vườn cho mình. Sáng sớm, ông thuê vài người, đến trưa, ông thuê vài người, khoảng giữa giờ chiều, ông thuê vài người chỉ đến làm mấy tiếng. Rồi ông trả công cho họ hậu hĩnh như nhau. Có thể hiểu được khi những người làm việc cả ngày phẫn uất, buồn bực (mặc dù họ đã được trả công hậu hĩnh), họ cảm thấy thật bất công khi những người làm ít hơn nhiều cũng nhận được thù lao hậu hĩnh như họ. Ông chủ trả lời những người phàn nàn này, “Bạn à, tôi đâu có bất công với bạn. Bạn thấy khoản lương này không ổn sao? Vì sao bạn ghen tị vì tôi hào phóng?” (Matthew 20, 1-16)

Hãy để ý rằng Chúa Giêsu gọi người phàn nàn là “bạn”. Câu trả lời đó hướng đến chúng ta, những người trung thành làm việc cả ngày dài. Hãy để ý đến tông giọng nồng ấm và dịu dàng đó. Nhưng lời thách thức thì không nồng ấm và dịu dàng như vậy: Tại sao bạn ghen tị vì Thiên Chúa quá đỗi hào phóng? Tại sao với chúng ta, điều quá quan trọng là khi chúng ta làm đúng thì Thiên Chúa phải gay gắt với những người không như chúng ta? Nói thật, đôi khi tôi hình dung mình, sau khi sống cuộc đời độc thân khiết tịnh, vào thiên đàng và gặp những dân chơi khét tiếng nhất đời, rồi tôi hỏi Chúa, “Làm sao anh ta vào đây được?” và Chúa trả lời, “Bạn à, thiên đàng không tuyệt diệu sao! Bạn ghen tị vì tôi hào phóng sao?” Ai mà biết được, có khi chúng ta gặp Attila the Hun ở đó cũng nên.

Một trong những giá trị cốt lõi của một nhóm Quakers là đôi khi gọi mình là chính thống quảng đại. Tôi thích sự kết hợp của hai từ này. Quảng đại nghĩa là cởi mở, hiếu khách, cảm thương, bao dung, và hy sinh phần nào của mình cho người khác. Còn chính thống là những chân lý bất di bất dịch, là giữ những giới hạn chuẩn mực, là trung tín với những gì mình tin, và không thỏa hiệp chân lý để tỏ ra tử tế. Hai điều này thường bị xem là đối lập nhau, nhưng chúng đáng ra phải đứng cạnh nhau. Giữ lập trường chân lý của mình, giữ các giới hạn chuẩn mực của mình, và không chịu thỏa hiệp bất kỳ nguy cơ nào tỏ ra mình không tử tế lắm, đó là một nửa công thức, nhưng công thức trọn vẹn đòi hỏi chúng ta cũng cần phải tôn trọng và tử tế với đức tin, niềm tin và giới hạn của người khác.

Và nó không phải là thuyết hổ lốn không lành mạnh, nếu như người kia nắm giữ chân lý không mâu thuẫn với chân lý mà chúng ta nắm giữ, dù cho nó có thể khác biệt và có lẽ không trọn vẹn theo cách nghĩ của chúng ta.

Do đó, bạn có thể là một tín hữu kitô xác tín rằng kitô giáo là biểu đạt tôn giáo xác thực nhất trên thế giới mà không phán xét rằng các tôn giáo khác là sai. Bạn có thể là người công giáo la mã, tin chắc rằng công giáo la mã là biểu đạt chân thực và trọn vẹn nhất của kitô giáo, tin Phép Thánh Thể của bạn là sự hiện diện đích thực của Chúa Giêsu mà không phán xét rằng các giáo phái kitô giáo khác không phải là biểu đạt giá trị của Chúa Kitô và không có Phép Thánh Thể có giá trị. Chuyện đó không có gì mâu thuẫn cả.

Bạn có thể đúng, mà không cần tùy thuộc vào chuyện mọi người khác đều sai!

Tuyệt vọng thật sự là gì?

Trong vở nhạc kịch Những người khốn khổ, có một bài hát làm ám ảnh được nhân vật Fantine, người phụ nữ hấp hối hát lên, cô bị vùi dập bởi gần như mọi thứ bất công có thể có trên đời. Bị chồng bỏ rơi, bị chủ quấy rối, rơi vào cảnh bần cùng, bệnh tật và hấp hối, thế mà chuyện làm cô lo lắng nhất là số phận của con gái sau khi cô qua đời. Cô hát lên bài hát ai oán này. Và tôi nghĩ rằng, lời hát này khá quen thuộc với nhiều người trong chúng ta.

Nhưng có những giấc mơ không thể thành
Có những cơn bão không thể vượt qua
Tôi có một giấc mơ về đời mình
Nó quá khác với địa ngục tôi đang sống
Nó quá khác bây giờ
Cuộc đời đã giết đi
Giấc mơ tôi từng mơ

Gần đây, khi thực hiện bài phỏng vấn về chuyện tự tử, có người hỏi tôi, rằng liệu tôi có xem tự tử là hành động của tuyệt vọng không. Tôi trả lời rằng không, ít nhất là với hầu hết vụ tự tử, rồi nêu ngược lại câu hỏi này: Tuyệt vọng thật sự là gì? Tuyệt vọng nghĩa là gì?

Từ tuyệt vọng có gốc từ la-tinh nghĩa là “không có hy vọng”. Từ điển thường định nghĩa tuyệt vọng là động từ, nghĩa là hành động từ bỏ hy vọng hoặc nản lòng trước hoàn cảnh khó khăn. Tôi không có vấn đề gì với định nghĩa đó. Nhưng cái mà tôi thấy có vấn đề và cần được xem xét triệt để là cách hiểu chuyện này trong cả Giáo hội và xã hội, cụ thể là xem nó như thất bại tận cùng về đạo đức và tôn giáo, là tội tận cùng chống lại Thiên Chúa và bản thân. Tuyệt vọng thường được hiểu là tội không thể tha thứ, là tình trạng chết tồi tệ nhất. Nói tóm lại, tuyệt vọng được hiểu là việc tệ nhất mà người ta có thể làm.

Tôi tin chúng ta cần xem lại chuyện này, cả về cách hiểu tình trạng con người chúng ta và nhất là cách chúng ta hiểu Thiên Chúa. Khi có người bị tan nát tinh thần do hoàn cảnh, sự bất công, tàn bạo, bệnh tật, đau đớn, tai nạn, hoặc bởi tội lỗi của người khác đến nỗi họ không thể nào tìm ra bất kỳ hạt giống hy vọng nào trong bản thân, vậy đó có phải là lựa chọn đạo đức không? Đây có phải là thất bại đạo đức không? Đây có thật sự là tội tồi tệ nhất, sự phạm thượng không thể tha thứ nhất hay không? Đáng buồn thay, chúng ta thường nghĩ như vậy.

Có một câu ngạn ngữ rằng, Chúa không bao giờ cho chúng ta điều chúng ta không chịu đựng nổi. Tôi đồng ý thế. Chúa không bao giờ cho chúng ta điều chúng ta không chịu nổi, nhưng hoàn cảnh, tai nạn, áp bức và tự nhiên đôi khi lại làm thế. Có một đoạn đả phá quan niệm sai lầm trong quyển sách của bà Kate Bowler, Mọi chuyện đều có lý do: Lại một lời dối trá tôi thích (Everything Happens For a Reason: And Other Lies I’ve Loved). Chúng ta phải cẩn thận về cách hiểu những diễn đạt mộ đạo chẳng hạn như “Chúa không bao giờ cho chúng ta điều chúng ta không chịu nổi”.

Thánh vịnh nói rằng Thiên Chúa đặc biệt gần gũi với những ai có tâm hồn tan nát và Ngài sẽ cứu rỗi họ. Chúa Giêsu đã đưa điều này thành tâm điểm trong giáo huấn và mục vụ của Ngài. Chúa Giêsu không chỉ đặc biệt yêu thương những ai có tâm hồn tan nát, mà Ngài còn đồng nhất với sự tan nát của họ (Thánh Mátthêu) và cam đoan với chúng ta rằng họ sẽ vào nước trời trước những người giàu, người quyền thế. Với Chúa, người tan nát là những người mà Thiên Chúa đặc biệt yêu thương.

Với sự thật đó, chúng ta thật sự tin rằng Thiên Chúa sẽ đẩy những người chết với tấm lòng tan nát và dường như không còn chút hy vọng, vào địa ngục sao? Chúng ta thật sự tin rằng Thiên Chúa sẽ đẩy Fantine vào địa ngục sao? Thiên Chúa nào lại làm như thế? Thiên Chúa nào lại nhìn một con người quá tan nát đến nỗi mất hết mọi hy vọng rồi xem đó là sự xúc phạm tận cùng với tình yêu và lòng thương xót của Ngài? Thiên Chúa nào lại nhìn một người tan nát tâm hồn rồi xem đó là sự xúc phạm đến tình trạng con người? Chắc chắn đó không phải là Thiên Chúa mà Chúa Giêsu dạy chúng ta tin.

Và cũng như thế, khi chúng ta nhìn điều này từ góc nhìn của sự thông hiểu và cảm thương nhân văn. Con người nào lại nhìn sự tan nát của người khác và xem đó là tội lỗi nặng nề, là sự phạm thượng chứ? Con người nào lại chê trách về đạo đức một người đã gặp phải vô số hoàn cảnh bi thương, chết chìm giữa biển thất vọng, đau đớn và những giấc mơ tan vỡ chứ? Con người nào xem Những người khốn khổ mà lại nghĩ có thể Fantine sẽ vào địa ngục chứ?

Trong phúc âm theo thánh Mác-cô, ngay trước khi trút hơi thở cuối cùng trên thập giá, Chúa Giêsu đã kêu lên, “Lạy Chúa, sao Chúa bỏ con?” Rồi Ngài trút linh hồn vào tay Chúa Cha. Trong hiểu biết kinh điển về đoạn này, chúng ta thường diễn giải: Chúa Giêsu bị cám dỗ rơi vào tuyệt vọng, nhưng Ngài đã chiến đấu để chống cự, và thay vào đó, với lòng hy vọng, Ngài phó mình cho lòng thương xót Thiên Chúa. Tôi nghĩ rằng, xét tận cùng đây chính là điều mà hầu hết những người mà chúng ta nghĩ là chết khi họ đã từ bỏ hy vọng, cụ thể là họ bị tan nát tinh thần, họ quy phục trước điều họ không rõ, là vòng ôm của Thiên Chúa.

Chúng ta cần thông hiểu hơn nhiều khi phán xét về sự tuyệt vọng. Bởi vì có những cơn bão không thể vượt qua!

Đấu tranh để khai sinh hy vọng

Sau khi sống lại, Chúa Giêsu hiện ra đầu tiên với các phụ nữ. Tại sao lại thế? Một lý do rõ ràng có lẽ là vì chính những phụ nữ này đã đi theo Ngài trong hành trình thương khó ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, trong khi đa phần những người đàn ông khác lại bỏ rơi Ngài. Còn nữa, những phụ nữ này lên đường đến mộ Chúa vào tảng sáng ngày Phục Sinh với ý định xức dầu thơm cho xác chết, nên họ là những người ở trong vườn đầu tiên khi Ngài xuất hiện. Nhưng tôi tin rằng, còn có một lý do mang tính biểu tượng và sâu sắc hơn nữa. Những phụ nữ này là các bà đỡ. Thường thì phụ nữ góp phần trong việc sinh hạ và là những người tinh thông nhất về việc dưỡng nuôi sinh linh mới.

Bà đỡ là sự giúp đỡ thiết thực trong bất kỳ việc sinh hạ nào. Khi một đứa trẻ ra đời, thường là đầu sẽ ra trước, mở đường cho cơ thể ra sau. Trong thời điểm này, rất cần một bà đỡ giỏi, giúp thuận tiện hóa việc sinh nở và bảo đảm đứa bé bắt đầu thở, đồng thời giúp bà mẹ bắt đầu cung cấp dưỡng chất cho sinh linh mới ngay lập tức. Đôi khi, bà đỡ là mấu chốt định đoạt giữa sống và chết, và bà luôn giúp cho việc sinh nở thuận tiện hơn và lành mạnh hơn.

Sự tái sinh của Chúa Giêsu khai sinh ra sự sống mới cho thế gian, và trong thời điểm ban đầu đó, sự sống này phải được hỗ trợ nhờ các bà đỡ, cả về tính khẩn cấp của tình huống lẫn những hơi thở đầu tiên trong thế gian này. Sự tái sinh đã khai sinh nhiều thứ, và chúng cần có bà đỡ, ban đầu là nhờ những phụ nữ được Chúa Giêsu hiện ra đầu tiên, rồi đến các tông đồ đã kể lại cho chúng ta lời chứng thấy tận mắt của họ, rồi đến giáo hội tiên khởi, nhờ các bậc tử đạo, nhờ đời sống đức tin của vô số người qua nhiều thế kỷ và đôi khi là nhờ các thần học gia và ngòi bút thiêng liêng. Và hiện giờ, chúng ta vẫn cần làm bà đỡ cho điều khai sinh ra từ sự phục sinh.

Và biến cố phục sinh đã khai sinh ra nhiều điều, một biến cố tận căn không khác gì sự tạo dựng nguyên thủy. Sự phục sinh của Chúa Giêsu chính là “ngày đầu tiên” thứ hai, là lần thứ hai ánh sáng chia tách với bóng tối. Thật vậy, thế giới xác định thời gian theo biến cố phục sinh. Chúng ta đang ở năm thứ 2023 kể từ biến cố đó. (Kitô giáo được khai sinh từ biến cố đó. Thời đại mới bắt đầu từ đó. Nhưng các học giả đã tính toán rằng Chúa Giêsu đã 33 tuổi khi Ngài chết, nên họ thêm 33 năm để thời gian được tính từ khi ngài ra đời).

Trong những gì mà sự phục sinh đã khai sinh, một điều nổi bật và vẫn cần được chúng ta làm bà đỡ, chính là hy vọng. Sự phục sinh khai sinh hy vọng. Các phụ nữ lần đầu tiên gặp Chúa Giêsu phục sinh chính là những người đầu tiên được trao cho lý do đích thực để hy vọng và họ là những người đầu tiên làm bà đỡ cho sự khai sinh mới này. Chúng ta cũng phải như thế. Chúng ta cần trở thành bà đỡ cho hy vọng. Nhưng hy vọng là gì, và nó được khai sinh thế nào trong sự phục sinh?

Hy vọng đích thực không bao giờ lẫn lộn với kiểu ý nghĩ mơ tưởng hay kiểu lạc quan nông nổi. Không như hy vọng, ý nghĩ mơ tưởng chẳng hề có căn cứ gì. Nó chỉ là mơ tưởng mà thôi. Còn sự lạc quan thì bắt nguồn từ sự nông nổi tự nhiên (kiểu “Tôi luôn thấy mặt tốt của vấn đề”) hoặc theo bản tin tối mỗi ngày, nhưng chúng ta biết tình hình đó có thể thay đổi hàng ngày. Hy vọng lại có một căn cứ khác hẳn.

Tôi xin đưa ra một ví dụ: Pierre Teilhard de Chardin, nhà khoa học gia đầy đức tin, có một lần trình bày với ý định thể hiện rằng câu chuyện lịch sử cứu độ khớp hoàn toàn với những thấu suốt của khoa học về nguồn gốc vũ trụ và sự tiến hóa. Cha Teilhard lấy ý từ câu 3-10, chương 1, thư gửi Tín hữu Êphêsô mà gợi ý rằng cái kết của toàn bộ tiến trình tiến hóa sẽ là sự hiệp nhất mọi sự trong một bản hòa âm tận cùng trong Đức Kitô. Một đồng nghiệp vô thần đã thách thức cha rằng: Những gì cha đưa ra là một giản đồ lạc quan tuyệt vời. Nhưng nếu như chúng thổi bay thế giới bằng bom nguyên tử thì sao. Lúc đó thì giản đồ lạc quan của cha sẽ thế nào? Cha Teilhard trả lời thế này: Nếu chúng ta thổi bay thế giới bằng bom nguyên tử, thì đó sẽ là một bước lùi, có khi là lùi hàng triệu năm. Nhưng điều mà tôi đưa ra sẽ thành sự, không phải vì tôi ước mơ nó hay vì tôi lạc quan. Nó sẽ thành sự vì Thiên Chúa đã hứa như thế, và trong biến cố phục sinh, Thiên Chúa cho thấy rằng Thiên Chúa có quyền năng để thực hiện lời hứa đó.

Điều mà những phụ nữ gặp Chúa Giêsu đầu tiên đã trải nghiệm chính là hy vọng, dạng hy vọng dựa trên lời hứa của Thiên Chúa sẽ đứng về phía sự thiện trước sự ác, sự sống trước sự chết, bất kể hoàn cảnh, bất chấp chướng ngại, bất kể tình hình, bất chấp cả cái chết và bất chấp chúng ta lạc quan hay bi quan. Họ là những bà đỡ đầu tiên đã giúp khai sinh hy vọng đó. Và bây giờ đó cũng là nhiệm vụ của chính chúng ta.