RonRolheiser,OMI

CÁNH CỬA HẸP

Một linh mục mà tôi quen biết đã chia sẻ câu chuyện này. Gần đây, trong khóa tĩnh tâm của các linh mục, vị hướng dẫn đã bắt đầu bài thuyết trình khai mạc của mình bằng những lời này: “Chúng ta cứ mặc định coi là hầu hết mọi người đều sẽ phải xuống địa ngục.” Sau đó, ông cố gắng chứng minh cho khẳng định này bằng cách trích dẫn lời Chúa Giêsu: “Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong, và nhiều người đi qua đó. Nhưng cửa thì hẹp và đường thì chật dẫn đến sự sống, và ít kẻ tìm được lối vào.” (Mát-thêu 7, 13-14)

Nhìn bề ngoài, điều này thực sự dường như chỉ ra rằng hầu hết mọi người không đi con đường dẫn đến thiên đàng mà đang đi con đường dẫn đến địa ngục.

Có phải phần lớn chúng ta đều sẽ phải xuống địa ngục? Đó có phải là điều được ngụ ý ở đây không? Không! Đó không phải là điều đang được giảng dạy. Lời dạy này của Chúa Giêsu cần phải được phân tích và mổ xẻ đôi chút.

Đầu tiên, khi Chúa Giêsu nói: “Nhưng cửa thì hẹp và đường thì chật dẫn đến sự sống, và ít kẻ tìm được lối vào”, Ngài không nói nhiều về việc lên thiên đàng hay xuống địa ngục, mà là đang nói về cuộc sống của chúng ta, ngay tại đây và ngay lúc này.

Thật vậy, tất cả chúng ta đều có thể đồng cảm với lời Ngài nói rằng cánh cửa dẫn đến sự sống thì hẹp và ít ai tìm được. Bằng cách nào? Chỉ cần tự hỏi chính mình: Trong suốt cuộc đời, có bao nhiêu lần chúng ta có được một khoảnh khắc – chưa nói đến một giai đoạn dài – mà ta hoàn toàn không bị trầm cảm, không hối tiếc, không bồn chồn vô cớ, không ghen tị, không thất vọng, và không có cảm giác mình đang bỏ lỡ điều gì đó trong đời? Thay vào đó là một cảm nhận sâu sắc trong tâm hồn rằng ta đã chạm đến ý nghĩa sâu xa nhất của cuộc sống, đã tìm thấy bí mật ẩn giấu bấy lâu, và không còn điều gì để phải bon chen, khao khát nữa?

Đôi khi chúng ta có những khoảnh khắc như vậy khi đã bước qua cánh cửa hẹp dẫn đến sự sống, dẫu cho phần lớn thời gian chúng ta vẫn đang chật vật để tới được nơi đó.

Chúng ta có thể trải nghiệm điều này khi nhìn vào cuộc sống của người khác. Không phải với thái độ phán xét, nhưng theo cách mà đã bao nhiêu lần chúng ta nhìn vào cuộc sống của một ai đó ở chiều sâu tâm hồn và thốt lên: Anh ấy đã tìm thấy nó rồi! Cô ấy đã đạt đến nơi đó! Đó mới là một cuộc sống trọn vẹn! Chúng ta rất hiếm khi nói điều này về một ai đó.

Hơn nữa, chính xác thì cánh cửa đó là gì và tại sao nó lại hẹp?

Nói một cách đơn giản, cánh cửa dẫn đến sự sống, dẫn đến niềm hạnh phúc sâu sắc và trọn vẹn nhất của tất cả chúng ta, chính là lời mời gọi mà Chúa Giêsu đưa ra trong Bài Giảng Trên Núi. (Mát-thêu 5-7). Đối với Chúa Giêsu, đây là những điều làm nên sự viên mãn của cuộc sống, cụ thể là: có tinh thần nghèo khó; chạm được vào những tổn thương của thế giới và của chính mình; hiền lành; khao khát sự công chính; xót thương người; có tâm hồn trong sạch; biết xây dựng hòa bình; chịu đau khổ vì lẽ phải; và đặc biệt là yêu thương những kẻ ghét mình.

Đó chính là cánh cửa hẹp dẫn đến sự sống, và chúng ta phải chật vật để bước qua nó vì hầu như mọi thứ trong thế giới của chúng ta đều chống lại điều này. Thế giới bảo chúng ta rằng tốt nhất là nên giàu có, rằng sự hiền lành và thấu cảm là biểu hiện của sự yếu đuối, và chúng ta có thể đường hoàng ghét bỏ những kẻ ghét mình. Bản năng tự nhiên của chúng ta cũng đồng tình với điều đó. Cả thế giới và bản năng tự nhiên đều mời gọi chúng ta hướng đến một cánh cửa rộng lớn, nơi chúng ta có thể rủa sả những kẻ rủa sả mình một cách hợp lý và có thể xử tử những kẻ giết người.

Bài Giảng Trên Núi đề xuất một cánh cửa hẹp, và nó trở nên đặc biệt hẹp ở đoạn cuối của Bài Giảng, khi Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy có lòng trắc ẩn như Cha trên trời là Đấng trắc ẩn, và Ngài giải thích rõ điều đó có nghĩa là gì.

Lòng trắc ẩn của Thiên Chúa, không giống như bản năng tự nhiên của chúng ta, hướng đến kẻ xấu cũng như người tốt một cách công bằng, giống như ánh mặt trời chiếu sáng không phân biệt cỏ dại hay rau màu. Thiên Chúa yêu thương những người tội lỗi và những người đức hạnh như nhau.

Vào chúng ta cũng phải làm như vậy. Chúa Giêsu nói, đức hạnh của chúng ta phải đi sâu hơn bản năng tự nhiên – nơi mà một cách rất tự nhiên, chúng ta yêu kẻ yêu mình, ghét kẻ ghét mình, rủa sả kẻ rủa sả mình, và từ chối tha thứ cho kẻ đã sát hại người thân yêu của mình.

Cánh cửa hẹp dẫn đến sự sống trọn vẹn chính là cánh cửa của lòng trắc ẩn bao la; nghĩa là, chúng ta bước qua cánh cửa dẫn đến sự viên mãn của cuộc đời khi chúng ta yêu thương những kẻ ghét mình, chúc phúc cho những kẻ rủa sả mình, và tha thứ cho những kẻ sát hại mình.

Đáng buồn thay, phần lớn những gì bên trong chúng ta và bên trong thế giới này đều phản kháng lại cánh cửa hẹp đó.

Tuy nhiên, khi Chúa Giêsu nói: “Nhưng cửa thì hẹp và đường thì chật dẫn đến sự sống, và ít kẻ tìm được lối vào”, Ngài không có ý nói rằng hầu hết chúng ta sẽ phải xuống địa ngục và chỉ một số ít được lên thiên đàng. Thay vào đó, Ngài đang nói về cuộc sống của chúng ta ngay lúc này, và một cách sắc sảo, Ngài chỉ ra điều gì cuối cùng sẽ mang lại hạnh phúc và sự sống trọn vẹn ở thế gian này – cụ thể là sống theo Bài Giảng Trên Núi, đặc biệt là phần mời gọi chúng ta yêu kẻ ghét mình, chúc phúc cho kẻ rủa sả mình, và tha thứ cho kẻ sát hại mình.

Đó là cánh cửa mà chúng ta vẫn đang phải trầy trật để bước qua.

NGÀY CỦA CHA

Điều gì làm nên một người cha?

Năm mươi sáu năm trước, cha tôi qua đời vào một đêm cuối tháng Chạp muộn màng. Tôi nhớ rõ cái chết của ông bao nhiêu, thì cũng nhớ cái lạnh cắt da cắt thịt của đêm đó bấy nhiêu. Chỉ trong vòng một ngày, nhiệt độ đã giảm sâu xuống dưới âm 40 độ F (khoảng âm 40 độ C).

Khi ấy tôi còn trẻ; quá trẻ (tôi đã nghĩ vậy vào thời điểm đó) để phải mất cha. Sau này, tôi mới nhận ra mình đã nhầm. Chẳng có ai là quá trẻ để mất cha cả, dù rằng việc mất đi người cha trước khi những điều nhất định được trao đi và nhận lại có thể để lại những vết sẹo trong lòng.

Gia đình chúng tôi, những người ở lại, đã đủ may mắn. Chúng tôi đã có nhiều thời gian chuẩn bị cho sự ra đi của ông. Ông qua đời sau một năm trời chiến đấu với căn bệnh ung thư, và ông ra đi với đức tin, sự bao dung cùng khiếu hài hước vẫn còn vẹn nguyên; ông cũng đã kịp để lại lời chúc phúc cho chúng tôi. Hơn thế nữa, ông ra đi mà không một chút oán hận, luôn biết ơn và chúc phúc cho cuộc đời. Có những cách chết tồi tệ hơn thế, và có những cách mất cha đau đớn hơn thế rất nhiều. Trong các giờ kinh gia đình, chúng tôi vẫn luôn cầu xin ơn chết lành. Vài tháng sau khi ông mất, khi thời tiết đã ấm áp hơn, tôi nhận ra rằng ông đã ra đi thực sự bình an và hạnh phúc.

Nhưng những lời hồi tưởng này vào Ngày của Cha, sau hơn năm mươi năm kể từ cái ngày lạnh giá năm ấy, không nhằm mục đích làm một bài điếu văn (điều mà ông hẳn sẽ thấy không thoải mái), cũng không phải một bài giảng về việc thế nào là một cái chết bình an. Nó được viết ra như một sự chiêm nghiệm về điều gì làm nên một người cha, một người bố, và cách chúng ta được kết nối, được định hình, và đôi khi là bị biến dạng bởi một hình bóng như vậy.

Cha là ai? Một người cha có nhiệm vụ gì, vượt lên trên việc đơn thuần là một người bạn đời sinh học đưa chúng ta đến với thế giới này? Sự chăm sóc hay bỏ bê, tình yêu thương hay sự thờ ơ của người cha ảnh hưởng đến chúng ta như thế nào?

Các trường phái tâm lý học và nhân học khác nhau chỉ ra rằng cha và mẹ có những vai trò rất khác nhau trong việc hình thành nhân cách của bạn. Người mẹ là mối liên kết cộng sinh của bạn với sự sống, và chính từ mẹ, chứ không phải từ cha, bạn nhận được cảm giác được yêu thương, được chở che, được ôm ấp và trân trọng. Trong số tất cả các loài động vật có vú, chính người mẹ liếm sạch đứa con mới chào đời, giải thoát nó khỏi bất cứ thứ gì bó buộc khi sinh ra. Người mẹ, sau khi sinh, mở ra cơ thể bạn để đón nhận sự sống. Chính mẹ là người mang nặng đẻ đau, rồi ôm ấp và nuôi dưỡng đứa trẻ. Không có một đứa trẻ hay người trưởng thành nào ở một mức độ nhận thức nào đó lại quên được điều này, và cảm giác chúng ta có được yêu thương hay không gắn liền rất nhiều với người mẹ.

Nhưng chính người cha mới là người cho đứa trẻ cả “sự cho phép” để tận hưởng cuộc sống lẫn “thử thách” để rèn luyện kỷ luật. Người cha phải là người làm gương cho đứa trẻ – đặc biệt là qua cách chính ông sống – về sự kết hợp đúng đắn giữa hưởng thụ và khước từ. Chính từ cha, nhiều hơn từ mẹ, đứa trẻ học được sự kết hợp giữa buông thả và kiểm soát, giữa việc phục tùng các rào cản và sự tự do để bước đi trên con đường của riêng mình.

Và nhiệm vụ này là then chốt trong việc đưa chúng ta bước vào thế giới trưởng thành, giúp dẫn dắt chúng ta vượt qua giai đoạn làm một cậu bé hay cô bé, để trở thành một người lớn, một người đàn ông hay một người phụ nữ. Một người cha phải làm điều này, trước hết, bằng cách cho chúng ta thấy trong chính cuộc đời ông cách mà năng lượng yêu thương và năng lượng đối đầu để bảo vệ hình thành một sự hòa hợp; để những năng lượng hỗn loạn bên trong chúng ta được kiềm chế, tập trung, hòa quyện và mở ra một cách sáng tạo để phụng sự Thiên Chúa và tha nhân. Người cha phải chỉ ra cách sự tận hưởng và tính sáng tạo hòa quyện với sự quên mình cần thiết, và cách năng lượng yêu thương cùng năng lượng chiến đấu để bảo vệ cộng đồng (đặc biệt là những thành viên yếu thế nhất) có thể đồng hành cùng nhau chứ không phải là kẻ thù của nhau. Một người cha phải dạy chúng ta cách để vừa là một người tình (biết yêu thương), vừa là một chiến binh (biết chiến đấu).

Cha của tôi, cũng bất toàn như mọi người cha là con người khác, không phải lúc nào cũng tìm thấy, hay tỏa ra được sự cân bằng hoàn hảo giữa tận hưởng và kỷ luật, giữa người tình và chiến binh, giữa vui thú và sự quên mình. Là một trong những người con trai của ông, tôi do đó cũng không phải lúc nào cũng biết cách đi trên sợi dây thừng căng thẳng đó, và đôi khi cuộc sống của tôi có sự hỗn độn giữa lười biếng và làm việc quá sức, giữa tình yêu và sự tức giận, giữa nuông chiều bản thân và sự hành xác. Đôi khi tôi có thể bảo vệ cộng đồng, nhưng đôi khi tôi thậm chí chẳng thể bảo vệ nổi chính mình.

Tuy nhiên, phần lớn thời gian tôi vẫn giữ được sự vững vàng của cha, vượt lên trên những chao đảo đó. Tôi đã có một người bố tốt. Ông đã vừa yêu thương, vừa chiến đấu, dù đôi khi ông quá khắt khe với bản thân và đôi khi ông hoàn toàn tận hưởng cuộc sống của mình.

Đã hơn năm mươi năm trôi qua kể từ ngày nhiệt độ âm 40 độ khi ông mất, và đôi khi tâm hồn tôi vẫn cảm thấy cái lạnh của ngày hôm đó; khi ấy, tôi lại biến thành một cậu bé, một người chưa trưởng thành, cô độc, chờ đợi cha dẫn dắt mình vào thế giới của người lớn, vẫn chưa chắc chắn về cách dung hòa giữa tận hưởng và kỷ luật.

Nhưng, khi tôi tìm kiếm cha mình, tìm kiếm linh hồn của ông, không phải giữa nắm xương tàn của tổ tiên, mà là trong sự thông công của các thánh, tôi thấy ông vẫn đang bước đi trên sợi dây thừng tinh tế mà ông đã đi trong đời. Và linh hồn ông đang dõi theo, chìa tay ra để giúp tôi trong cuộc chiến đấu giữa yêu thương và đối đầu, giữa tận hưởng và khước từ; và khi ấy, tôi cảm thấy mình vững vàng hơn một chút trong tư cách của một người trưởng thành.

Ngôn từ của chúng ta về vấn đề tự tử

Tôi nhìn chung luôn cố gắng nhạy bén trong việc sử dụng những ngôn từ chuẩn mực về mặt chính trị (politically correct language), mặc dù đôi khi điều đó có thể gây bực bội vì những phản ứng thái quá từ một số người quá dễ bị tổn thương. Nói một cách đơn giản, ai đó đều có thể chạnh lòng trước hầu như bất kỳ từ ngữ nào. Tuy nhiên, dẫu đôi lúc chúng ta có bực mình với những người quá nhạy cảm, chúng ta vẫn phải thừa nhận rằng trong quá khứ, chúng ta đã quá bất cẩn và nhẫn tâm khi gọi tên các sự vật, hiện tượng. Vốn từ vựng của chúng ta thường xuyên gây tổn thương cho chính những người đang đau khổ nhất. Chúng ta đã có quá nhiều thuật ngữ mang tính miệt thị và hạ thấp những người khác biệt với mình, hoặc những người phải chịu đựng các khuyết tật khác nhau.

Với tâm thế đó, tôi muốn đưa ra một gợi ý về cách chúng ta nói về việc tự tử. Cụm từ phổ biến mà người ta hay dùng là ai đó đã “phạm” tội tự tử. Động từ “phạm” (commit – thường dùng cho tội ác, sai lầm) này cần phải bị xóa bỏ khỏi từ vựng của chúng ta khi bàn về tự tử.

Rất ít người qua đời vì tự tử lại đi “phạm” tội tự tử. Nói một cách chính xác hơn, họ “bị khuất phục” trước nó, giống như cách một người gục ngã trước bệnh ung thư, một cơn đột quỵ hay một trận đau tim. Mười lăm năm trước, tôi được chẩn đoán mắc bệnh ung thư. Tôi không hề “phạm” phải bệnh ung thư; nó đã áp đảo hệ thống miễn dịch của tôi ngoài ý muốn của tôi. Đối với đột quỵ hay đau tim cũng vậy. Bạn không “phạm” phải một cơn đột quỵ hay đau tim. Chúng áp đảo sức đề kháng tự nhiên của bạn.

Về mặt thể chất, chúng ta có một hệ miễn dịch giống như lực lượng cảnh sát tuần tra, liên tục canh giữ sức khỏe của ta, tìm kiếm vi khuẩn, virus cùng các tế bào ác tính để tiêu diệt chúng trước khi chúng kịp bén rễ, nhân lên, tàn phá sức khỏe và gây ra cái chết. Nhưng như chúng ta đã biết, đôi khi vì đủ loại lý do, một khối u ác tính có thể áp đảo hệ miễn dịch, khiến sức khỏe của chúng ta suy sụp và chúng ta qua đời vì hàng rào bảo vệ tự nhiên chống lại bệnh tật đã bị khuất phục bởi vi khuẩn, virus, sự suy kiệt của một cơ quan nội tạng quan trọng, hoặc một vài tế bào ung thư. Chúng ta chết không phải do lựa chọn, mà do bị số phận cưỡng bách. Chúng ta không “phạm” phải một căn bệnh.

Điều tương tự cũng hoàn toàn đúng đối với sức khỏe tinh thần. Về mặt tâm lý, chúng ta cũng có một hệ miễn dịch tinh thần giống như cảnh sát tuần tra, canh giữ sức khỏe tâm lý và cảm xúc của mình. Nhưng, cũng giống như sức khỏe thể chất, đôi khi một yếu tố hoặc sự kết hợp của nhiều yếu tố (di truyền, tổn thương tâm lý, trầm cảm lâm sàng, hoàn cảnh sống bi kịch) có thể áp đảo hệ miễn dịch tâm lý và cảm xúc đó, khiến chúng ta phải đầu hàng trước một căn bệnh (ập đến ngoài ý muốn và không hề được chào đón) mang tên: tự tử.

Tôi mạo muội cho rằng điều này đúng với hầu hết những người qua đời vì tự tử. Tất nhiên vẫn có những ngoại lệ, dù đó chỉ là ngoại lệ chứ không phải lẽ thường. Một người thực sự có thể “phạm” tội tự tử khi họ không phải đang đầu hàng trong yếu đuối trước một căn bệnh, mà là đang dùng chút sức tàn để đưa ra một lựa chọn chủ động. Do đó, chúng ta có thể đưa ra một sự phân biệt giữa cái gọi là “tự sát” (giết chết chính mình) với “đầu hàng trước sự tự tử”.

Một người có thể tự kết liễu đời mình vì sự mạnh mẽ, kiêu ngạo và ngạo mạn: Tôi quá kiêu hãnh và đặc biệt để có thể chia sẻ cuộc sống này với những kẻ còn lại các người! Cuộc đời đã không tôn trọng sự đặc biệt của tôi. Tôi thà chết còn hơn tiếp tục sống trong thế giới này! Đó là sự khác biệt giữa cái chết tự tử kiểu Hitler với cái chết của một linh hồn quá đỗi nhạy cảm, người đã quá bầm dập và tổn thương đến mức không thể tiếp tục chiến đấu cho sự sống được nữa. Kẻ trước chọn tự tử vì sự ngạo nghễ; người sau chết vì sự yếu nhược. (Mặc dù, để công bằng, chúng ta thậm chí còn không thể phán xét Hitler. Ai biết được những mầm bệnh ác tính nào đã áp đảo hệ miễn dịch tinh thần của ông ta?)

Nói như vậy để thấy, xin cho phép tôi được nhắc lại một số sự thật cốt lõi đối với vấn đề tự tử – những điều cần phải được nói đi, nói lại và nói lại một lần nữa, cho đến khi chúng ta không cần phải nói về chúng nữa.

Trong hầu hết các trường hợp tự tử:

Chúng ta đang đối diện với một con người rất nhạy cảm hoặc bị tổn thương sâu sắc, một người đã quá đau đớn đến mức không thể chạm vào, hoặc quá kiệt quệ để có thể phản hồi lại bất kỳ sự giang tay giúp đỡ nào của chúng ta.

Người chết vì tự tử ra đi trái với ý muốn của chính họ.

Cách họ chết cũng giống như việc một người phải lao mình ra khỏi cửa sổ của một tòa nhà cao tầng vì quần áo trên người họ đang bốc cháy.

Cách họ chết tương đương với một căn bệnh ung thư cảm xúc, một cơn đột quỵ hoặc một trận đau tim tinh thần.

Trong nhiều trường hợp, chứng trầm cảm dẫn đến tự tử có nguồn gốc từ các yếu tố sinh hóa.

Tự tử không phải là một hành động tuyệt vọng. Người ta không chủ động lựa chọn từ bỏ hy vọng, mà chính tổn thương và bệnh tật đã bóp nghẹt hy vọng của họ.

Tự tử không phải là một hành động ích kỷ, dù vẻ ngoài của nó có vẻ như vậy.

Chúng ta không cần phải lo lắng về sự cứu rỗi linh hồn vĩnh cửu của những người chết vì tự tử. Sự thấu cảm và bao dung của Thiên Chúa sâu sắc hơn chúng ta tưởng tượng vô cùng tận.

Khi những người chúng ta biết và yêu thương qua đời vì tự tử, một trong những nhiệm vụ của chúng ta là cứu rỗi ký ức về họ, để món quà mà cuộc đời họ mang lại cho thế giới không bị bôi nhọ và xóa nhòa chỉ vì giờ đây chúng ta nhìn nhận toàn bộ cuộc sống của họ qua lăng kính của cách mà họ đã ra đi.

Qua đời vì một trận đau tim, vì ung thư hay đột quỵ có thể là điều đau buồn và bi thảm, nhưng không có gì là tủi hổ. Chết vì tự tử cũng vậy. Đó là điều đau buồn và bi thảm, nhưng không hề đáng xấu hổ. Thậm chí, đó có thể là cái chết âm thầm, khiêm nhường và ít hào nhoáng nhất trong số mọi cái chết, và vì thế, nó xứng đáng nhận được một sự thấu cảm và thấu hiểu đặc biệt.

Khi nói về tự tử, vốn từ vựng của chúng ta cần phải phản ánh được sự thấu cảm đặc biệt đó, và để làm được điều đó, chúng ta cần phải loại bỏ cụm từ: “ai đó phạm tội tự tử”.

Hành trình gian nan để chạm đến sự chân thật

Chúng ta thực sự là ai? Chúng ta là ai khi linh hồn bị lột trần: rũ bỏ cái tôi, rũ bỏ hình tượng tự huyễn hoặc về bản thân, rũ bỏ những lời tâng bốc, những xu hướng thời thượng và các hệ tư tưởng mà ta vô tình hấp thụ rồi để chúng định hình tư duy của mình; rũ bỏ cả những tổn thương quá khứ lẫn những vỏ bọc vô thức mà ta vẫn thường trưng ra hàng ngày?

Khi nào thì chúng ta thực sự chân thật?

Theo cách hiểu phổ biến, từ “sincere” (chân thật) trong tiếng Anh bắt nguồn từ hai từ Latinh: Sine (nghĩa là “không có”) và Cera (nghĩa là “sáp”). Trở nên chân thật (sincere) chính là “không có lớp sáp bọc ngoài” – nghĩa là sống đúng với con người thật của mình bên dưới tất cả những tầng lớp của cái tôi, hình tượng cá nhân, hệ tư tưởng, tổn thương và những vỏ bọc vô thức đang bủa vây. Việc sống chân thật chẳng dễ dàng gì, bởi tâm trí và trái tim con người là một mê lộ vô cùng phức tạp. Thật khó để đào sâu qua tất cả những lớp bọc đó nhằm chạm vào bản ngã đích thực của chính mình.

Vậy thì, khi nào chúng ta chân thật? Tôi xin chia sẻ hai câu chuyện để trả lời cho câu hỏi này.

Câu chuyện thứ nhất đến từ Ruth Burrows, một trong những tác giả thần học huyền bí sâu sắc của thời hiện đại. Bà kể lại câu chuyện về một ngày nọ, khi tất cả các lớp sáp bọc ngoài bị lột sạch và bà thấy linh hồn mình hoàn toàn trần trụi.

Bà lớn lên ở Anh, cả bà và gia đình đều không đặc biệt sùng đạo. Cha mẹ gửi bà vào một ngôi trường tư thục nữ sinh do các nữ tu điều hành, không phải vì lý do tôn giáo mà vì chất lượng giáo dục ở đó vượt trội so với các trường công lập địa phương.

Bà trải qua những năm tháng trung học tại đó mà chưa bao giờ thực sự nhập tâm vào đức tin của mình. Sau đó, để chuẩn bị cho lễ tốt nghiệp, các nữ tu đã đưa các học sinh đến một trung tâm tĩnh tâm để tham gia một khóa bồi dưỡng tinh thần. Ruth và một người bạn cùng lớp không hề nghiêm túc chút nào; họ cứ khúc khích cười, cười thầm và chuyền tay nhau những mảnh giấy ghi chú trong suốt các buổi trò chuyện của vị linh mục hướng dẫn. Thế là, đến một lúc, các nữ tu đã tách Ruth và bạn của bà ra khỏi nhóm. Trong lúc các bạn cùng lớp đang nghe giảng, Ruth và cô bạn phải ngồi im lặng trong nhà nguyện suốt nhiều giờ đồng hồ, dưới ánh mắt giám sát của một nữ tu. Ban đầu, Ruth thú nhận rằng bà và bạn mình vẫn cố tình chống đối sự nghiêm túc; họ vẫn khúc khích và nháy mắt với nhau.

Nhưng những giờ đồng hồ đó dài đằng đẵng! Và trong một khoảng lặng kéo dài đặc biệt, bà đã trải qua một khoảnh khắc của hồng ân, của sự thông suốt, của sự chân thật và của một linh hồn trần trụi. Ngay khoảnh khắc ấy, bà nhìn thấy con người thật của mình – một cô gái trẻ nông nổi, suy nghĩ chưa chín chắn, bị cuốn vào cái tôi và những lời phù phiếm, nhưng ẩn sâu dưới tất cả những điều đó lại là một con người tốt đẹp, giàu lòng nhân ái và được Thiên Chúa yêu thương nồng ấm. Chỉ một khoảnh khắc thông suốt duy nhất đó đã thay đổi hoàn toàn cuộc đời bà.

Khoảnh khắc hồng ân này đến với Ruth Burrows một cách tự nhiên như thể không hề báo trước, dù chắc chắn rằng những tầng sâu thẳm trong tâm trí và trái tim bà đã âm thầm mời gọi cuộc ghé thăm thiêng liêng ấy.

Câu chuyện thứ hai của tôi mang tính đời thường hơn, nhưng chính vì thế mà nó vô cùng mạnh mẽ. Cách đây vài năm, tôi có một người bạn thân, mới 54 tuổi, đang hấp hối vì căn bệnh ung thư. Khi anh vào trại tế bần, tôi mang đến cho anh cuốn sách Truyện một tâm hồn của Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu (Thérèse miền Lisieux). Vài ngày sau, khi chúng tôi trò chuyện qua điện thoại, anh chia sẻ thế này: “Cảm ơn ông vì cuốn sách của Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, đó là thứ duy nhất tôi còn đọc được lúc này. Khi người ta cận kề cái chết, nó gạt bỏ mọi điều nhảm nhí, giả tạo. Ông sẽ biết cái gì là thực và cái gì là hư vô.” Quá trình đối diện với cái chết chính là khoảnh khắc huyền bí của anh; nó đưa anh về với sự chân thật.

Vậy, làm thế nào để chúng ta đến được nơi đó? Làm thế nào để chúng ta xuyên qua tất cả những rào cản đang che lấp sự chân thật, che lấp sự trần trụi của linh hồn?

Chúng ta cần phải tỉnh thức mang điều đó vào lời cầu nguyện hàng ngày. Thật vậy, trong nửa sau của cuộc đời, cuộc đấu tranh cơ bản nhất trong lời cầu nguyện của chúng ta chính là cố gắng đưa bản thân về trạng thái trần trụi của linh hồn, để đứng trước Thiên Chúa và chính mình mà “không có lớp sáp bọc ngoài”. Chúng ta cần mang cuộc đấu tranh này đến với Thượng Đế. Đây chính là cốt lõi của lời cầu nguyện chiêm niệm, của sự chiêm niệm.

Thomas Merton từng nói: “Trước mặt Thượng Đế, chỉ một chút chân thật thôi cũng có thể đi một chặng đường rất, rất dài.” Chúng ta có thể tìm thấy niềm an ủi khi biết rằng Thượng Đế thấu hiểu cuộc đấu tranh này gian nan biết bao, và phần lớn thời gian, chúng ta ít nhất cũng giữ được một chút chân thật. Và chúng ta có thể chạm vào sự chân thật của mình thông qua một ý nguyện – một ý nguyện vượt lên trên sự giằng xé của những cảm xúc nhất thời.

Dưới đây là một ví dụ từ Thomas Merton về cách bày tỏ ý nguyện đó trong lời cầu nguyện:
“Lạy Chúa là Thiên Chúa của con, con tin rằng ước muốn làm đẹp lòng Ngài, trên thực tế, đã làm đẹp lòng Ngài rồi. Và con hy vọng rằng con sẽ không bao giờ làm bất cứ điều gì tách rời khỏi ước muốn đó. Con biết rằng nếu con làm như vậy, Ngài sẽ dẫn con đi trên con đường ngay thẳng, dẫu cho con có thể chẳng biết gì về con đường ấy.”

Tuy nhiên, khi chúng ta chạm đến sự chân thật và sự trần trụi của linh hồn, kết quả mang lại có thể sẽ khiến chúng ta ngạc nhiên. Như Merton đã viết: “Đừng ai hy vọng tìm thấy trong sự chiêm niệm một lối thoát khỏi xung đột, khỏi nỗi thống khổ, hay khỏi sự hoài nghi.” Ngược lại, niềm xác tín sâu sắc của trải nghiệm chiêm niệm sẽ đánh thức một nỗi đau thương cay đắng và mở ra nhiều câu hỏi trong sâu thẳm trái tim, tựa như những vết thương không thể ngừng rỉ máu.

Nhưng hãy luôn nhớ rằng: “Trước mặt Thượng Đế, chỉ một chút chân thật thôi cũng có thể đi một chặng đường rất, rất dài.”

Mời gọi nhau hướng về những bản ngã tốt đẹp

Tôi lớn lên ở một vùng nông thôn, nơi hầu hết mọi người đều là người nhập cư thế hệ thứ nhất hoặc thế hệ thứ hai. Phần lớn chúng tôi đều sống ngay sát vạch nghèo, vừa chật vật về kinh tế, vừa trầy trật để nói tiếng Anh cho đúng chuẩn. Chúng tôi cũng gặp khó khăn trong việc tiếp cận giáo dục đại học, một phần vì nhiều bạn bè cùng lứa với tôi phải nghỉ học sau lớp tám để phụ giúp gia đình, phần khác vì khái niệm “học đại học” khi ấy chưa hề nằm trong tư duy của hầu hết các gia đình.

Nhưng trong cộng đồng của chúng tôi, có một gia đình ngoại lệ. Họ có cuộc sống kinh tế dư dả, nhiều người trong số họ đã học lên đại học và hiện là những chuyên gia trong các lĩnh vực khác nhau. Họ là một gia đình có đặc quyền.

Thế nhưng, họ cư xử với đặc quyền đó rất chuẩn mực. Không hề có sự hợm hĩnh, khoe khoang hay tỏ vẻ bề trên. Ngược lại là đằng khác. Họ dùng những thế mạnh của mình để cố gắng giúp đỡ cộng đồng. Một trong những người con trai của họ đã trở thành giáo viên và giảng dạy tại một trường học địa phương, và trong nhiều năm liền, cứ mỗi mùa đông, gia đình họ lại dựng một sân băng chơi môn curling (bi đá trên băng) cho cả cộng đồng. Họ vừa được ngưỡng mộ, vừa được kính trọng.

Một ngày nọ, một trong những người con trai của gia đình này đang ngồi cùng một nhóm thanh niên. Họ đang cùng uống bia, tán gẫu và trêu đùa nhau một cách vui vẻ, thì anh con trai của gia đình danh giá kia bỗng đưa ra một lời nhận xét phân biệt chủng tộc một cách trắng trợn. Một bầu không khí im lặng đến ngượng ngùng bao trùm. Thế rồi, một người đàn ông trong nhóm, bằng một giọng rất nhẹ nhàng, đã nói với anh ta rằng:

“Cậu biết không, tôi rất ngạc nhiên khi thấy cậu nói một điều như thế. Gia đình cậu rất tử tế và có học thức. Tất cả chúng tôi đều ngưỡng mộ các bạn. Lời nói này nghe không giống cậu chút nào.”

Phản ứng của anh chàng kia diễn ra ngay lập tức và đầy hối lỗi: “Anh nói đúng. Tôi xin lỗi. Tôi cũng không hiểu sao mình lại nói những điều như vậy nữa. Thật là ngốc nghếch.”

Tôi có thể hình dung ra một phản ứng hoàn toàn khác nếu anh ta bị chỉ trích bằng những lời lẽ gay gắt kiểu như: “Đồ phân biệt chủng tộc! Sao anh có thể nói ra một điều như thế được hả!”

Khi chúng ta chất vấn nhau bằng những lời lẽ nặng nề, kết quả thường chỉ làm cho đối phương thêm phòng thủ và khư khư giữ chặt quan điểm của mình. Khi bị mắng nhiếc, khiển trách và làm cho xấu hổ, con người ta dễ có xu hướng cố chấp hơn là bị thuyết phục. Điều đó cũng chỉ làm tăng thêm sự căng thẳng và khoảng cách giữa đôi bên, thay vì mời gọi chúng ta hướng về những điều tốt đẹp và cao cả nhất trong bản thân mình.

Chúng ta cần phải mời gọi và thúc đẩy nhau hướng tới những điều tốt đẹp hơn, cao thượng hơn ở sâu thẳm bên trong mỗi người.

Vậy điều tốt đẹp và cao thượng hơn đó là gì?

Một số nhà văn Kitô giáo thời kỳ đầu (các Giáo phụ) từng gợi ý rằng mỗi chúng ta đều sở hữu một tính cách và một trái tim kép. Họ cho rằng, bên trong mỗi người luôn có một trái tim lớn lao, rộng lượng, cao thượng và vị tha. Nhưng đồng thời, ẩn sâu trong ta cũng có một trái tim tổn thương, nhỏ nhen và ích kỷ; và ở bất kỳ thời điểm nào, chúng ta cũng có thể đang hành xử dựa trên một trong hai trái tim đó. Chúng ta có thể rất rộng lượng, nhưng cũng có thể rất hẹp hòi, và điều này có thể thay đổi chỉ từ giờ này sang giờ khác, tùy thuộc vào những gì chúng ta gặp phải trong cuộc sống.

  • Một ví dụ thế này: Hãy tưởng tượng bạn thức dậy vào một buổi sáng với cảm giác vị tha và cao thượng tràn ngập trong lòng. Vào khoảnh khắc đó, bạn có tâm trí và trái tim của Chúa Giêsu. Trong trạng thái tinh thần thánh thiện ấy, bạn đi làm và ở đó, có một ai đó cư xử lạnh lùng, mỉa mai với bạn. Chỉ trong vòng một phút, mọi thứ có thể đảo lộn hoàn toàn; bạn không còn giữ được tâm trí và trái tim của Chúa Giêsu, hay những gì tốt đẹp nhất trong mình nữa. Trái tim nhỏ nhen, đầy tổn thương trong bạn đã lấn át trái tim bao dung; sự ấm áp và thấu hiểu biến mất, thay vào đó bạn cảm thấy lạnh lùng và cay đắng.
  • Bây giờ hãy tưởng tượng điều ngược lại: Bạn thức dậy vào một buổi sáng với cảm giác hoang mang, thấy mình bị hiểu lầm và đang gặm nhấm những tổn thương cũ. Vào khoảnh khắc đó, bạn không có tâm trí và trái tim của Chúa Giêsu, bạn cũng chẳng thể kết nối với những điều tốt đẹp, cao cả hơn trong suy nghĩ của chính mình. Bạn mang cái tâm thế u ám đó đi làm, và rồi thật bất ngờ, một người đồng nghiệp chào đón bạn một cách nồng nhiệt, chia sẻ rằng cô ấy trân trọng công việc và tình bạn của bạn đến nhường nào. Chỉ trong một phút, phần tâm trí cao thượng trong bạn đã chiến thắng sự nhỏ nhen, và tất cả những gì tốt đẹp, rộng lượng nhất trong bạn trỗi dậy. Bạn muốn trở thành một người tốt hơn. Bạn lật ngược trạng thái từ cay đắng sang nhã nhặn chỉ trong vòng một phút.

Chúng ta đang sống trong một thế giới phân cực ngày nay, nơi có quá nhiều vấn đề chia rẽ chúng ta một cách cay đắng. Chúng không hướng chúng ta đến sự cao thượng và tốt đẹp, mà lại khơi dậy những tổn thương, sự hoang mang và tâm lý phòng thủ. Chúng ta cần một tông giọng mới trong các cuộc đối thoại của mình — một tông giọng của sự mời gọi và tôn trọng; một tông giọng biết công nhận sự cao thượng và rộng lượng ở đối phương, để từ đó thúc đẩy họ sống đúng với bản ngã tốt đẹp nhất của chính họ.

Thay vì nhục mạ và tấn công nhau bằng những khẩu hiệu, chúng ta cần nói với nhau rằng: “Cậu biết không, tôi rất ngạc nhiên khi thấy cậu nói một điều như thế. Cậu vốn rất tử tế mà! Tất cả chúng tôi đều ngưỡng mộ cậu. Lời nói này nghe không giống cậu chút nào.” Lời mời gọi kiểu đó có thể giúp làm tan chảy phần nào sự lạnh giá vốn dĩ vẫn luôn bủa vây trái tim con người vì đủ mọi lý do trong cuộc sống.

Xét Lại Động Cơ Của Chúng Ta

Nhân vật chính trong vở kịch Murder in the Cathedral của T.S. Eliot là Thomas a Beckett – một giám mục, người theo mọi vẻ bề ngoài đều là một vị thánh. Ông cực kỳ trung thực, rộng lượng đến mức hy sinh, và là người bảo vệ đức tin đã chịu chết vì đạo. Tuy nhiên, vào một thời điểm nào đó trước khi tử đạo, ông nhận ra rằng có thể mình chưa phân biệt rõ giữa cám dỗ và ân sủng.
Nhiều người trong chúng ta quen thuộc với lời diễn tả nổi tiếng của ông:
Cám dỗ cuối cùng là sự phản bội lớn nhất:

Làm điều đúng vì lý do sai…
Vì những ai phục vụ cho đại nghĩa
Có thể biến đại nghĩa thành công cụ cho chính mình.

Vậy đâu là cám dỗ có thể dễ bị nhầm lẫn với ân sủng?

Nói đơn giản, chúng ta có thể đang làm rất nhiều việc tốt – nhưng với động cơ sai. Hơn nữa, điều này có thể rất tinh vi, đặc biệt nơi những người phục vụ cho “đại nghĩa,” bởi như T.S. Eliot nhấn mạnh, chúng ta rất dễ biến đại nghĩa ấy thành phương tiện phục vụ chính mình.

Làm thế nào chúng ta lại có thể khiến đại nghĩa phục vụ mình? Làm sao lại có thể làm điều tốt nhưng vì lý do sai?

Ví dụ: Tôi có thể đang làm rất nhiều điều tốt – giúp đỡ người khác, phục vụ mục đích của Thiên Chúa nơi trần gian. Tôi có thể quảng đại đến mức chấp nhận hy sinh như một vị tử đạo. Nhưng nếu lý do chính tôi làm tất cả những điều đó là vì chúng khiến tôi được ngưỡng mộ, cảm thấy đạo đức và chính trực, được khen ngợi, để lại một cái tên tốt đẹp sau này – thì sao?

Những câu hỏi ấy đi sâu vào ranh giới giữa cám dỗ và ân sủng. Tôi có thể làm điều đúng đắn, và dù không phải vì lý do xấu, tôi vẫn chủ yếu đang làm cho bản thân mình. Tôi có thể đang khiến đại nghĩa phục vụ tôi nhiều hơn là tôi phục vụ đại nghĩa.

Cha Dòng Tên quá cố Michael J. Buckley – một trong những người hướng dẫn tâm linh quan trọng trong đời tôi – từng thúc giục chúng ta phải can đảm xét mình một cách đau đớn: Tôi làm điều này để phục vụ Thiên Chúa và tha nhân – hay đang làm để mình cảm thấy và trông có vẻ tốt đẹp?

Trong quyển sách Bạn Tìm Gì Thế? – Những Câu Hỏi của Đức Giêsu Như Một Thách Đố và Lời Hứa, Buckley viết:

“Bằng hàng ngàn cách khác nhau, những người phục vụ cho đại nghĩa có thể khiến đại nghĩa ấy quay lại phục vụ họ. Điều này có thể vô cùng tinh tế. Đôi khi chỉ một sự lệch nhẹ ở bước khởi đầu của một hành động hay một đời sống cũng có thể dẫn đến một chuyển hướng sâu sắc nhưng không được nhận ra: lòng nhiệt thành che giấu một tham vọng ngấm ngầm nhưng tàn nhẫn. Tham vọng ấy được giấu kỹ vì ban đầu nó có vẻ giống với lòng nhiệt thành – dù thật ra hai điều này hoàn toàn đối lập. Khao khát đạt được một điều gì đó có thể trộn lẫn giữa giá trị nội tại của một dự án với hào quang phản chiếu từ thành quả đạt được.”

Là một linh mục đã phục vụ hơn 50 năm, tôi thấy đây là một lăng kính đầy thách thức để nhìn lại chính mình và hành trình mục vụ ấy. Tôi đã phục vụ cho đại nghĩa bao nhiêu – và tôi đã, trong vô thức, biến nó phục vụ cho chính mình bao nhiêu? Ai là người “được lợi” hơn: Thiên Chúa và Hội Thánh – hay tôi và danh tiếng của mình?

Tất nhiên, động cơ là điều rất khó nhận diện, và trong cuộc đời này, động cơ hiếm khi nào hoàn toàn thuần khiết. Ta là một hỗn hợp phức tạp của nhiều động lực – có cái phục vụ người khác, có cái phục vụ chính mình – và như Buckley nhấn mạnh, ban đầu chúng trông rất giống nhau. Hơn nữa, có những lời dạy của Đức Giêsu dường như cho thấy rằng đôi khi việc làm đúng điều còn quan trọng hơn động cơ rõ ràng đằng sau nó.

Chẳng hạn, Đức Giêsu nói: “Không phải những ai thưa với Thầy: ‘Lạy Chúa! Lạy Chúa!’ là được vào Nước Trời, nhưng chỉ những ai thi hành ý muốn của Cha Thầy” (Mt 7,21). Và trong bài học về việc phán xét cuối cùng, Đức Giêsu dạy rằng chúng ta sẽ bị xét xử dựa trên cách ta đối xử với người nghèo – “Điều gì các con làm cho một trong những người bé mọn nhất này, là làm cho chính Ta” (Mt 25). Điều đáng chú ý là cả nhóm được thưởng lẫn bị phạt đều không ý thức rõ việc mình làm. Họ được xét xử hoàn toàn dựa trên hành động.

Vậy, liệu ta có thể đang làm điều đúng với lý do sai? Và nếu đúng là ta làm như vậy – vì muốn được ngưỡng mộ, được kính trọng, được tiếng tốt hay cảm thấy tự hào – thì điều đó có nghiêm trọng không? Nó có làm giảm hoặc phá hủy giá trị của điều tốt ta đang làm? Khao khát được công nhận, có danh tiếng tốt và cảm thấy dễ chịu về bản thân – có thật sự đối nghịch với lòng vị tha? Hay cả hai có thể đồng hành? Thiên Chúa đánh giá ta nhiều hơn dựa vào động cơ – hay dựa vào hành động?

Tôi đang phục vụ cho đại nghĩa – hay đang khiến đại nghĩa phục vụ mình?
Đó là một câu hỏi sống còn để tự xét mình.

Tại sao? Vì chúng ta rất dễ mù quáng trước sự giả hình của chính mình – cũng như rất dễ khắt khe quá mức với bản thân.

Đức Giêsu – Kiểm Lại Cảm Xúc Của Chúng Ta

Có một cảnh cảm động trong loạt phim The Chosen mà bất kể phản ứng của ta thế nào, cũng mời gọi ta suy gẫm sâu xa.

Cảnh phim như sau: Trước khi chữa lành mẹ vợ của Phêrô khỏi cơn sốt, Đức Giêsu có một cuộc trò chuyện riêng với vợ của Phêrô. Người bắt đầu bằng cách nói rằng Người biết họ là một đôi vợ chồng rất gần gũi và yêu thương nhau, rồi bày tỏ sự cảm thông với cô vì việc Người kêu gọi Phêrô đã thực chất rút anh ra khỏi mái ấm gia đình. Sau đó, với giọng nhẹ nhàng, Người hỏi cô cảm thấy thế nào về điều này. Câu trả lời của cô bảo đảm với Người rằng – dù có đau đớn – cô (như chồng mình) sẵn sàng hy sinh.

Cảnh này, ngoài những khía cạnh khác, cho thấy một thực tế rằng khi một người (như Phêrô) từ bỏ mọi sự để theo Chúa Giêsu, thì người đó không phải là người duy nhất trả giá. Những người thân yêu quanh họ cũng phải hy sinh. Các bà vợ của các tông đồ đã đánh đổi điều gì khi Đức Giêsu kêu gọi chồng họ?

Hơn nữa, tình tiết này (dù là hư cấu trong phim) cũng giúp chúng ta hiểu rõ hơn rằng Đức Giêsu không vô cảm trước những “cuộc đóng đinh tình cảm” mà đôi khi chúng ta phải chịu để đáp lại tiếng gọi của Người. Cảnh này là một bảo đảm rằng Đức Giêsu thấu hiểu – và ban cho chúng ta một “giấy phép thiêng liêng” – để không phải cảm thấy tội lỗi vì những đau đớn tình cảm ta trải qua.

Chắc chắn sẽ có nhiều người nghi ngờ giá trị của cảnh phim này vì nó không có cơ sở lịch sử rõ ràng. Chúng ta không biết liệu Đức Giêsu có thực sự từng có cuộc trò chuyện như thế với vợ Phêrô hay với vợ của bất kỳ tông đồ nào không.
Nhưng câu hỏi ở đây không phải là cảnh đó có đúng sự thật lịch sử hay không. Điều quan trọng là: Đức Giêsu chắc chắn không phải là người vô tâm hay thờ ơ trước nỗi đau của những người bị các tông đồ rời bỏ để theo Người.

Thông thường, chúng ta tránh đặt câu hỏi này vì quá thường xuyên hiểu một cách quá đen trắng các lời dạy của Chúa Giêsu về việc phải từ bỏ cha mẹ, vợ con để theo Người. Chẳng hạn, có lúc Đức Giêsu nói: “Ai đến với tôi mà không từ bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi.” (Lc 14,25-27). Một đoạn khác còn nghe có vẻ lạnh lùng hơn: “Người bảo một người khác: ‘Hãy theo tôi.’ Người ấy thưa: ‘Thưa Thầy, xin cho phép con về chôn cha trước đã.’ Nhưng Đức Giêsu đáp: ‘Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ; còn anh, hãy đi loan báo Nước Thiên Chúa.’ Người khác lại nói: ‘Thưa Thầy, con xin theo Thầy, nhưng xin cho phép con từ biệt gia đình trước đã.’ Đức Giêsu trả lời: ‘Ai đã tra tay vào cày mà còn ngoái lại đằng sau, thì không xứng đáng với Nước Thiên Chúa.’” (Lc 9,60-62)

Rất dễ hiểu sai những lời này nếu ta tiếp cận chúng theo nghĩa đen. Hình ảnh mà Đức Giêsu dùng thật mạnh mẽ, dứt khoát, và tưởng chừng như vô cảm. Nhưng đây chỉ là hình ảnh – không phải những chỉ dẫn tâm linh được hiểu một cách cứng nhắc. Những lựa chọn cảm xúc đau đớn mà ta phải đưa ra để trung thành với Tin Mừng quả thật có thể được gọi là đóng đinh tình cảm. Khi chọn Đức Giêsu, ta cũng chọn thập giá – và nơi đó có cái chết thật sự, có nỗi đau thật sự, mà không thể làm nhẹ đi bằng lời lẽ.

Tuy nhiên – và điều này rất quan trọng – những chọn lựa để từ bỏ chính mình và sống hy sinh không được thực hiện ở mức độ tâm lý hay cảm xúc. Chúng được quyết định ở mức sâu hơn – ở bình diện luân lý – nơi có một tiếng nói sâu thẳm hơn cả cảm xúc hay suy nghĩ chi phối. Chính vì thế, khi Đức Giêsu nói “ai không từ bỏ gia đình mình thì không thể theo Thầy,” Người đang hướng về cốt lõi luân lý trong ta – nơi ta chọn giữa đúng và sai, giữa ý nghĩa và sự trống rỗng. Người không lên án cảm xúc. Người cũng không kêu gọi chúng ta sống trong một sự dửng dưng cảm xúc phi nhân.

Khi kêu gọi chúng ta từ bỏ mọi sự để làm môn đệ, Đức Giêsu không hề làm ngơ trước nỗi đau tâm lý và tình cảm mà điều đó gây ra. Khi mời gọi ta vác thập giá và bước theo Người, Đức Giêsu biết rằng đó là một cuộc đóng đinh cảm xúc. Nhưng trong khi trao cho ta lời mời gọi ấy, Người cũng đồng thời cho phép chúng ta được cảm nhận nỗi đau ấy mà không thấy tội lỗi vì điều đó. Người không kêu gọi một thứ “khổ hạnh cảm xúc” lạnh lẽo và phi nhân – một thái độ mà trong đó, vì yêu Chúa, ta không được phép cảm thấy đau buồn vì mất đi những mối quan hệ thân thiết hay tự do quý giá.

Giống như Đức Giêsu trong phim The Chosen, nhẹ nhàng hỏi vợ Phêrô xem cảm xúc của cô thế nào khi Người yêu cầu gia đình họ hy sinh, Đức Giêsu cũng hỏi từng người chúng ta: Con sẵn sàng từ bỏ, nhưng trái tim con đang cảm thấy gì?
Người mời gọi ta bước vào con đường từ bỏ chính mình – và cùng lúc đó, Người cúi xuống, nhân từ hỏi:

“Cảm xúc của con lúc này ra sao?”

ĐỨC TIN – VƯỢT QUA CÁI ĐẦU VÀ TRÁI TIM

C.S. Lewis, một trong những nhà biện giáo Kitô giáo vĩ đại nhất, đã không trở thành người Kitô hữu một cách dễ dàng hay không chút kháng cự. Ông trưởng thành trong một thái độ hoài nghi và thiên về thuyết bất khả tri. Đức tin và Đức Kitô không phải là điều tự nhiên thu hút ông. Tuy nhiên, ông luôn giữ cho mình sự thành thật tận căn khi lắng nghe những tiếng nói sâu thẳm nhất trong nội tâm, và vào một thời điểm nhất định, ông nhận ra rằng Đức Kitô và giáo huấn của Người có một sức hút mãnh liệt đến mức khiến ông không còn tự do để chối từ. Với lương tâm ngay thẳng, ông buộc phải trở thành một người Kitô hữu.

Nhiều người trong chúng ta từng nghe những lời ông viết vào đêm đầu tiên khi ông quỳ gối và trao mình cho niềm tin vào Đức Kitô. Sau một cuộc tản bộ dài và một cuộc trò chuyện tôn giáo với J.R.R. Tolkien (người đồng nghiệp của ông tại Đại học Oxford), ông kể lại rằng ông đã quỳ xuống và dâng mình cho đức tin. Nhưng như chính ông thừa nhận, đây không phải là một hành động quỳ gối dễ dàng: “Tôi quỳ xuống như một kẻ cải đạo miễn cưỡng nhất trong lịch sử Kitô giáo.” Quả thật, không phải là hình ảnh mà người ta thường nghĩ đến khi nói đến “lửa mến ban đầu” của đức tin.

Nhưng ông tiếp tục chia sẻ lý do tại sao, bất chấp mọi sự do dự tự nhiên, ông lại quyết định trở thành một người tin: “Vì tôi đã nhận ra rằng sự khắc nghiệt của Thiên Chúa còn nhân từ hơn sự dịu dàng của con người, và sự cưỡng ép của Thiên Chúa chính là sự giải thoát của chúng ta.” Vậy, sự cưỡng ép của Thiên Chúa là gì?

Sau đây là một ví dụ. Trong Tin Mừng Gioan, có một sự kiện nổi tiếng mà ở đó Phêrô – cũng như C.S. Lewis – là một người môn đệ miễn cưỡng. Câu chuyện là thế này:

Chúa Giêsu vừa đồng hóa chính mình với Bánh Hằng Sống và kết thúc bài giảng bằng lời tuyên bố rằng nếu không ăn thịt và uống máu Người, thì không thể có sự sống nơi họ. Dễ hiểu khi giáo huấn này gây hoang mang và khó tiếp nhận với người nghe; đến mức Tin Mừng ghi rằng đám đông đã bỏ đi, vừa đi vừa nói: “Lời này chói tai quá!” Sau đó, khi mọi người đã rút lui, Chúa Giêsu quay sang các môn đệ và hỏi: “Còn anh em, anh em cũng muốn bỏ đi sao?” Phêrô đã không trả lời một cách hào hứng hay dứt khoát. Ông chỉ đáp: “Bỏ Thầy thì chúng con biết theo ai bây giờ?” Tuy nhiên – và đây là một trong những khoảnh khắc rạng ngời nhất của Phêrô trong các sách Tin Mừng – ông tiếp thêm: “Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời.”

Nếu ta phân tích kỹ câu trả lời của Phêrô, thì nội dung thật ra là thế này: Phêrô vừa nghe một giáo huấn mà ông không hiểu, và phần ông hiểu thì ông lại không thích. Trong khoảnh khắc đó, Đức Giêsu dường như hoàn toàn trái ngược với chân lý và sự sống. Cả lý trí lẫn con tim của Phêrô đều kháng cự. Nhưng sâu hơn cả lý trí và con tim, vẫn còn một phần nào đó trong ông biết rằng – bất chấp sự chống đối bên trong – giáo huấn này sẽ mang lại sự sống.

Vào thời điểm ấy, Phêrô – như C.S. Lewis – là một “tông đồ miễn cưỡng.” Thế nhưng ông vẫn trao phó đời mình cho Đức Kitô, dù đầu óc và con tim ông còn nghi ngờ. Tại sao? Vì ông đã nghiệm ra rằng “sự cưỡng ép của Thiên Chúa chính là sự giải thoát của chúng ta.”

Tôi còn nhớ có lần xem một cuộc phỏng vấn với cha Daniel Berrigan. Người dẫn chương trình hỏi: “Thưa cha, đức tin của cha đặt ở đâu? Ở cái đầu hay ở trái tim?” Cha Berrigan trả lời một cách rất dí dỏm nhưng sâu sắc: “Đức tin hiếm khi nằm ở cái đầu, và còn hiếm hơn nữa khi nằm ở con tim. Đức tin nằm ở… cái mông của bạn!” Rồi cha giải thích thêm: “Ai từng sống một cam kết dài lâu sẽ hiểu: sẽ có những lúc đầu óc không còn trong cuộc, trái tim không còn cảm xúc gì, nhưng bạn vẫn ở lại trong đó, bởi vì bạn biết rằng con đường dẫn đến sự sống là ở lại trong cam kết đó.”

Cuối cùng, điều gì là đủ đáng tin để ta dâng cả đời mình cho nó? Tôi tin rằng chúng ta không thể trả lời câu hỏi này chỉ bằng lý trí hay cảm xúc. Không phải đầu óc hay con tim là bất xứng, nhưng thực tế cho thấy chúng không luôn phản ánh điều sâu thẳm nhất trong ta. Sự cưỡng ép của Thiên Chúa nằm dưới cả tư duy và cảm xúc. Đầu óc nói cho ta điều hợp lý nên làm. Trái tim cho ta biết điều ta khao khát. Nhưng có một tiếng nói sâu hơn – nói điều ta phải làm.

Tiếng nói sâu thẳm nhất của Thiên Chúa trong lòng ta không phải lúc nào cũng hòa thuận với cái đầu hay trái tim. Đó chính là sự cưỡng ép thánh thiêng – có thể biến ta thành “kẻ cải đạo miễn cưỡng nhất trong lịch sử Kitô giáo,” có thể khiến ta đứng trước mặt Đức Giêsu mà thấy Người như phản ngược với chân lý và sự sống, có thể làm ta thất vọng tột cùng trước sự bất trung triền miên nơi Hội Thánh, và dẫu thế – ta vẫn thốt lên: “Bỏ Thầy, con biết theo ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời.”

Hoài nghi, thất vọng và không hiểu biết không phải là nhân đức. Nhưng đôi khi chính chúng lại dẫn ta đến điểm mấu chốt, nơi ta buộc phải quyết định: trước điều gì, cuối cùng, ta phải quỳ gối?

NGHỊCH LÝ, SỰ CÓ VẺ MÂU THUẪN VÀ CĂNG THẲNG

Tư tưởng của một số nhân vật vĩ đại và có ảnh hưởng nhất trong lịch sử – như Chúa Giêsu, thánh Augustinô, Socrates, Aristote và nhiều người khác – đôi khi dường như đầy những mâu thuẫn. Họ đôi lúc có vẻ như tự mâu thuẫn với chính mình. Không phải lúc nào chúng ta cũng dễ dàng nhận ra cách mọi điều trong giáo huấn của họ gắn kết và tương hợp với nhau.

Chính vì thế mà các tôn giáo và triết thuyết lớn trên thế giới thường dễ bị giải thích theo nhiều cách khác nhau. Chẳng hạn, với chiều sâu và bề rộng trong giáo huấn của Chúa Giêsu, Kitô giáo đặc biệt dễ dàng mở ra cho những lối hiểu đa dạng. Không phải ngẫu nhiên mà trong Kitô giáo có hàng trăm hệ phái, cùng vô số kiểu linh đạo và phụng vụ khác nhau. Giáo huấn của Chúa Giêsu phong phú đến mức dường như không ai có thể mang trọn vẹn như một bậc thầy. Thay vào đó, mỗi người chúng ta chọn lấy một vài phần, cố gắng giữ cho chúng có phần nào nhất quán, và rốt cuộc lại trở nên thu hẹp hơn nhiều so với Người Thầy.

Có người từng nói đùa rằng: Tính nhất quán là sản phẩm của một trí óc nhỏ hẹp, còn sự không nhất quán lại là dấu hiệu của một trí tuệ lớn. Điều đó có phần đúng, dù cần được hiểu cho đúng. Chẳng hạn, đôi khi chúng ta đạt được một thứ gọi là “tính nhất quán” – một cái nhìn dường như không có mâu thuẫn nội tại nào – nhưng phải trả giá đắt: đó là sự thu hẹp, loại trừ, phiến diện, nghèo nàn và giản lược hóa. Dù người ta có nói gì đi nữa, thì phân biệt chủng tộc, cực đoan, bảo thủ mù quáng, hay chủ nghĩa dân tộc quá khích đều là những lập trường “nhất quán”. Tuy nhiên, sự nhất quán đó dựa trên một tổng hợp quá hẹp, đến mức bỏ qua và coi thường nhiều khía cạnh quan trọng của cuộc sống.

Ngược lại, đôi khi cái có vẻ như là mâu thuẫn thực ra lại là một nỗ lực giữ nhiều chân lý quan trọng trong một tổng hợp cao hơn. Người ấy có vẻ mâu thuẫn, nhưng thật ra đang cố giữ những chân lý tưởng như đối nghịch trong một sự căng thẳng sáng tạo. Ai thực hiện kiểu “tung hứng” này thường sẽ cảm thấy áp lực lớn, nhưng (nói theo ẩn dụ) họ cũng sẽ thấy mình không có “động mạch bị tắc” và có “buồng phổi khoẻ mạnh”, máu lưu thông đến mọi phần của con người họ, và họ có thể hít thở nguồn khí sự sống từ bất cứ môi trường nào mình hiện diện.

Chúa Giêsu là một người như thế. Người nắm giữ những chân lý quan trọng trong sự căng thẳng sáng tạo, và vì thế, hầu như ai cũng hiểu lầm Người. Người làm chướng tai gai mắt cả hai phía cả tôn giáo và ý thức hệ. Giáo huấn của Người nghiêng về “cả hai/ và” hơn là “hoặc cái này/ hoặc cái kia”. Chúng ta thì lại chật vật với điều đó. Dễ dàng hơn khi chỉ chọn một vài chân lý để mang theo, thay vì cố gắng ôm lấy tất cả.

Vậy đâu là những chân lý tưởng chừng mâu thuẫn mà Chúa Giêsu đã giữ và sống trong sự căng thẳng sáng tạo? Sau đây là mười cặp chân lý tiêu biểu – được chọn bởi vì một đời sống thiêng liêng lành mạnh luôn cần giữ cả hai mặt:
1/ Ý thức mạnh mẽ về cá nhân, chú trọng đến sự chính trực và cầu nguyện riêng tư – nhưng đồng thời gắn liền với cam kết vững chắc với cộng đồng, gia đình, xã hội, Giáo hội và công bằng xã hội.

2/ Khả năng lành mạnh để thưởng thức cuộc sống và tận hưởng mà không thấy tội lỗi, đồng thời làm bạn với khả năng khổ chế và từ bỏ cũng lành mạnh không kém.

3/ Sự tự tin và khả năng tự khẳng định trong việc sử dụng những tài năng Thiên Chúa ban – nhưng luôn giữ được khiêm tốn và thói quen xóa mình.
4/ Cái nhìn tiên tri, cảm thông với những gì ở ngoài trung tâm, với người bị gạt ra bên lề, cất lên tiếng nói cho người bị loại trừ – trong khi vẫn biết trân trọng tổ chức, bảo vệ trật tự và vun trồng điều thiêng liêng trong gia đình, Giáo hội và truyền thống.

5/ Luôn cởi mở với cái mới, cái lạ, cái gây khó chịu, khuynh hướng cấp tiến – đồng thời bám rễ vững vàng nơi những giá trị bảo tồn, quen thuộc, mang lại nhịp điệu và sự ổn định.

6/ Hướng nhìn vào điều thiêng liêng, Thiên Chúa và cõi vĩnh hằng, nhưng đồng thời yêu mến thế giới này, niềm vui, thành tựu và khoảnh khắc hiện tại của nó.

7/ Niềm đam mê đối với tính dục và sự khẳng định điều tốt lành và trần thế của nó, cùng với sự bảo vệ mạnh mẽ cho đức khiết tịnh và lòng tôn kính.

8/ Tầm nhìn về cộng đồng thế giới, mở rộng khỏi biên giới nơi ta sinh ra, ôm lấy người xa lạ, người khác biệt – nhưng vẫn trung thành sâu sắc với gia đình, cội nguồn và lòng hiếu khách tại gia.

9/ Hy vọng và lý tưởng vượt lên trên thực tế, tin vào lời hứa của Thiên Chúa hơn là bản tin buổi tối, không để sự thật Phục Sinh bị bóp nghẹt bởi biến cố lịch sử – nhưng gắn liền với tinh thần hiện thực, có phương pháp, và sẵn sàng góp phần lao động cụ thể.

10/ Hướng đến đời sau, đến cuộc sống sau cái chết, ý thức rằng nơi đây không phải là quê hương vĩnh viễn – nhưng đồng thời gìn giữ giá trị và vẻ đẹp của cuộc sống trần thế này.

Chúa Giêsu đã nắm giữ tất cả những điều này trong một tổng hợp duy nhất – và Người đã phải trả giá: sự hiểu lầm. Câu hỏi đặt ra là: chúng ta có sẵn sàng trả giá đó để thể hiện một cách đầy đủ hơn chân dung của Đức Kitô không?

Một Người Bạn Tâm Hồn

Một trong những vị thánh chạm đến tôi là Têrêsa Hài Đồng Giêsu, thường được gọi là “Bông Hoa Nhỏ”. Nhưng đó không phải là “yêu ngay từ cái nhìn đầu tiên”. Trong nhiều năm, tôi cảm thấy khó gần, thậm chí lạnh nhạt với hình ảnh của ngài, vì nó bị phủ lên một lớp đạo đức quá “ngọt ngào”. Ngài quá dịu dàng, quá đạo đức. Không phải mẫu thánh dành cho tôi! Điều đó chỉ thay đổi nhờ một người bạn nói với tôi: “Đừng đọc sách viết về ngài – hãy đọc chính ngài!” Và khi tôi đọc, tôi đã tìm thấy nơi ngài một người bạn tâm hồn.

Têrêsa là ai? Ngài là một nữ tu dòng Kín Carmêlô, qua đời vì bệnh lao năm 1897. Khi mất, ngài mới 24 tuổi. Là một nữ tu sống ẩn dật trong một tu viện nhỏ ở miền quê nước Pháp, ngài qua đời trong âm thầm, có lẽ chưa đến một trăm người biết đến. Tuy nhiên, trong hai năm cuối đời, khi đang hấp hối vì bệnh lao, ngài đã viết nhiều nhật ký. Sau khi ngài qua đời, các chị em trong tu viện gửi những bản thảo chưa xuất bản ấy đến vài tu viện khác, chỉ với ý định cho một nhóm nhỏ nữ tu biết về cái chết và cuộc đời của ngài.

Nhưng rồi mọi sự đã vượt ngoài dự tính. Các bản thảo được lan truyền rộng rãi, và chưa đầy mười năm sau, các nhà in không đáp ứng nổi nhu cầu in cuốn tự truyện của ngài. Tu viện nhỏ ở Lisieux nhận hơn năm trăm lá thư mỗi ngày, và người từ khắp nơi trên thế giới bắt đầu hành hương đến đó. Hơn một trăm ba mươi năm trôi qua, điều đó hầu như không thay đổi. Ngài vẫn có sức thu hút lạ thường.

Tại sao? Điều gì nơi Têrêsa khiến người ta bị cuốn hút lâu bền như vậy? Vì nơi ngài có một điều gì đó chạm đến tâm hồn con người một cách rất sâu sắc và đầy cảm thông. Tại sao vậy?

Têrêsa có một hoàn cảnh rất đặc biệt, tạo nên một con người phi thường. Tuổi thơ của ngài, xét theo nhiều khía cạnh, là bi kịch. Mẹ ngài bị bệnh ngay khi sinh ngài, nên không thể chăm sóc ngài trong năm đầu đời – giai đoạn rất quan trọng. Ngài được một người vú nuôi và một người dì chăm sóc. Khi mới một tuổi, ngài trở về với mẹ, nhưng mẹ lúc đó đã bệnh nặng, và khi ngài lên bốn, mẹ qua đời. Sau đó, Têrêsa chọn chị Pauline làm “mẹ mới”. Nhưng năm năm sau, Pauline vào dòng, và Têrêsa – lúc đó mới chín tuổi – lại một lần nữa mất mẹ.

Không lâu sau, ngài lâm bệnh nặng, suýt chết. Nguyên nhân khởi phát là một lần đến thăm Pauline trong tu viện. Khi Pauline đang bận trò chuyện với người lớn, Têrêsa cảm thấy bị bỏ rơi. Trong cơn tủi thân, cô bé đứng trước mặt chị, kéo váy mình và khóc.

“Có chuyện gì vậy?” Pauline hỏi.

“Chị không để ý!” Têrêsa khóc, “Em đang mặc chiếc váy chị may cho em!”

Sau đó, ngài rơi vào trạng thái tuyệt vọng, về nhà nằm liệt giường nhiều tuần, dù gia đình và bác sĩ cố gắng hết sức, vẫn ở lằn ranh giữa sống và chết. Cuối cùng ngài hồi phục. Đó là chiều sâu bi kịch và sự nhạy cảm của tuổi thơ ngài.

Nhưng đây mới là điều nghịch lý lớn: Têrêsa cũng được yêu thương theo cách mà rất ít đứa trẻ từng được. Cha, các chị và cả gia đình mở rộng xem ngài như “nữ hoàng nhỏ”, luôn nâng niu và khiến ngài cảm thấy mình vô cùng quý giá, độc nhất. Chị Céline còn ghi lại từng khoảnh khắc của ngài bằng hình ảnh. Ít có đứa trẻ nào lớn lên trong sự yêu thương và khẳng định mạnh mẽ như Têrêsa.

Chính vì vậy, nơi con người ngài mang dấu ấn của cả bi kịch lẫn tình yêu. Một mặt, ngài có thể u buồn, sâu lắng, khép kín và hướng về cõi siêu nhiên. Ngài sớm làm quen với cái chết, trở thành một “nhà thần bí của bóng tối”, một người trưởng thành khắc khổ – một “bé gái mà như người lớn”, lớn lên quá sớm vì những vết thương. Nhưng mặt khác, ngài luôn giữ được tâm hồn trẻ thơ, như Cinderella – vì được yêu quá nhiều nên phát triển một lòng tự trọng mạnh mẽ, một sự tự tin và khả năng yêu thương hiếm có.

Được yêu thương như vậy từ nhỏ, một phần trong ngài mãi mãi là cô bé – biểu tượng của sự đơn sơ, hồn nhiên và vui tươi. Chỉ có một Têrêsa như thế mới có thể kết thúc mọi lá thư bằng câu: “Con hôn với tất cả trái tim con!”

Chính trong một tâm hồn được hình thành như vậy mà ta thấy điều làm nên sức hấp dẫn của ngài: một sự kết hợp độc đáo giữa chiều sâu, trực giác thiêng liêng và tính siêu việt – đồng thời vẫn bám chặt vào những món quà nhỏ bé từ gia đình và những dấu chỉ yêu thương rất đời thường.

Chỉ một tâm hồn như thế mới có thể, ở tuổi 22, viết nên một tác phẩm thần học và thần bí sánh ngang với các bậc tiến sĩ Hội Thánh. Và cũng chỉ một tâm hồn như thế mới có thể vừa cực kỳ nhạy cảm, vừa kiên cường lạ thường.

Một vị thánh phức tạp đến mức như “bệnh lý” như vậy lại có thể trở thành một người bạn tâm hồn cho chính những tâm hồn phức tạp của chúng ta.

Vật Lộn Với Chính Sự Phức Tạp Của Bản Thân

Catherine de Hueck Doherty, người sáng lập Madonna House, đã từng có một cuộc phỏng vấn rất sâu sắc. Là một nhân vật thiêng liêng nổi tiếng và được kính trọng, bà thẳng thắn thừa nhận rằng con đường của mình không hề dễ dàng, rằng bà cũng có rất nhiều giằng co nội tâm. Tại sao? Vì, giống như tất cả chúng ta, bà mang một sự phức tạp gần như “bệnh lý”. Làm người – bà nói – không hề đơn giản.

Bà mô tả chính mình như thế này (diễn lại ý):

“Trong tôi,” bà nói, “dường như có ba con người. Có một người tôi gọi là ‘Nữ Bá tước’. ‘Nữ Bá tước’ là người thiêng liêng, hiệu quả, sống cầu nguyện và khổ chế. Đó là con người đạo đức trong tôi. Chính người này đã lập nên một cộng đoàn tu trì, viết sách thiêng liêng, thách đố người khác, và hiến dâng đời mình cho Thiên Chúa và người nghèo. ‘Nữ Bá tước’ đọc Tin Mừng và cảm thấy thiếu kiên nhẫn với những chuyện trần thế. Đối với bà, cuộc sống hiện tại phải được hy sinh cho đời sau.

Nhưng trong tôi cũng có một người khác, tôi gọi là ‘Catherine’. ‘Catherine’ là người phụ nữ thích những điều đẹp đẽ, xa hoa, tiện nghi và khoái lạc. Bà muốn tận hưởng sự nhàn rỗi, những bồn tắm dài, quần áo đẹp, trang điểm, thức ăn ngon, và (khi còn kết hôn) từng tận hưởng đời sống vợ chồng lành mạnh. ‘Catherine’ yêu thích cuộc sống này và không thích hy sinh. Bà không mấy đạo đức và thường không ưa ‘Nữ Bá tước’. Hai người này không phải lúc nào cũng hòa hợp.

Nhưng vẫn còn một con người nữa trong tôi – không phải ‘Catherine’, cũng không phải ‘Nữ Bá tước’. Trong tôi còn có một cô bé nằm trên sườn đồi ở Phần Lan, nhìn mây và mơ mộng. Cô bé này không đặc biệt thích cả ‘Catherine’ lẫn ‘Nữ Bá tước’. … “và khi tôi già đi, tôi cảm thấy mình giống ‘Nữ Bá tước’ hơn, vẫn còn khao khát ‘Catherine’, nhưng tôi nghĩ con người thật trong tôi có lẽ là cô bé đang mơ mộng trên đồi.”

Nếu những lời này được nói bởi một người còn đang loay hoay với việc hoán cải căn bản, thì có lẽ không gây ấn tượng mạnh. Nhưng đây lại là lời của một “người khổng lồ thiêng liêng”, một người đã từ lâu sống đời môn đệ cách nghiêm túc và dấn thân triệt để phục vụ Thiên Chúa và người nghèo.

Nếu các vị thánh còn giằng co như vậy, thì chúng ta sẽ thế nào?

Sự thật là: tất cả chúng ta đều phải vật lộn, bởi vì tất cả chúng ta đều phức tạp. Làm người vốn đã không đơn giản, và còn phức tạp hơn nữa khi ta cố gắng sống vượt lên trên những gì tự nhiên nơi mình.

Giống như Catherine, trong mỗi chúng ta đều có nhiều “con người”. Trong ta có một phần có đức tin, muốn sống các Mối Phúc, muốn hòa nhịp với chân lý Tin Mừng. Trong ta có một vị tử đạo muốn hy sinh vì người khác, một vị thánh muốn phục vụ người nghèo, một “nghệ sĩ luân lý” muốn sống nội tâm sâu sắc.

Nhưng đồng thời, trong ta cũng có một phần muốn tận hưởng cuộc sống và mọi khoái lạc của nó. Trong ta có một kẻ hưởng thụ, một người chạy theo cảm giác, một kẻ buông thả, một người duy vật, một kẻ hoài nghi, và một cái tôi ích kỷ.

Chưa hết, trong mỗi chúng ta còn có một đứa trẻ – vô tư, mơ mộng, nằm nhìn mây trên một sườn đồi nào đó – không hẳn nghiêng về phía “thánh” hay “tội nhân”.

Vậy con người thật là ai? Tất cả đều là ta. Ta vừa là thánh vừa là kẻ tìm khoái lạc, vừa vị tha vừa ích kỷ, vừa tử đạo vừa hưởng thụ, vừa có đức tin vừa hoài nghi, vừa nghệ sĩ luân lý vừa buông thả, vừa trẻ thơ vừa chai sạn. Và nhiệm vụ của đời sống không phải là tiêu diệt phần này để giữ phần kia, mà là giúp tất cả những phần đó hòa giải với nhau.

Và bình an – ta biết – không chỉ đơn giản là không có xung đột. Nó là một phẩm chất tích cực. Điều gì tạo nên bình an? Hai điều: hòa hợp và trọn vẹn.

Hòa hợp: Một giai điệu trở nên êm đẹp khi các nốt nhạc khác nhau được kết nối thành hòa âm. Có bình an là không còn chói tai, không còn lệch tông.

Trọn vẹn: Muốn chơi một bản nhạc phức tạp, bạn cần một bàn phím đầy đủ. Bình an đòi hỏi bạn có đủ “phím” để chơi tất cả những nốt mà cuộc đời yêu cầu.

Điều này cũng đúng với bản tính con người. Sự phức tạp của ta không phải là kẻ thù mà là người bạn. Tất cả những đối nghịch trong ta đòi hỏi một “bàn phím đầy đủ”. Vì ta vừa là tội nhân vừa là thánh, vừa hưởng thụ vừa hy sinh, vừa người lớn vừa trẻ thơ – ta cần đầy đủ các “phím” để chơi những bản nhạc mà cuộc đời trao cho.

Bí quyết là đạt tới sự hòa hợp – nơi các phần khác nhau trong đời ta tạo thành một giai điệu. Nói cách khác, ta phải vượt qua kiểu “gõ loạn” trên bàn phím tạo ra âm thanh hỗn độn. Đồng thời, ta cũng phải sử dụng trọn vẹn bàn phím để chơi được tất cả những nốt mà cuộc sống đòi hỏi.

Kinh nghiệm sống đủ lâu sẽ dạy ta điều này:

bình an đến khi ta biết sắp xếp tất cả những mảnh phức tạp trong mình thành một bản nhạc đẹp.

Và dĩ nhiên, càng nhiều nốt, bản nhạc càng phong phú – và giai điệu cuối cùng càng sâu sắc.

Những Vấn Đề Đức Tin Của Chúng Ta Hôm Nay – Chẩn Đoán Và Phương Thuốc

Năm 2007, Charles Taylor đã viết cuốn sách A Secular Age, mang lại cho chúng ta một phân tích rõ ràng và toàn diện về thời đại thế tục mà chúng ta đang sống, cũng như những hệ quả của nó đối với đức tin. Hơn một ngàn năm trước đó, một tác giả vô danh vào thế kỷ XIV đã viết cuốn The Cloud of Unknowing, và (theo cách không dễ nhận ra ngay) tác phẩm này lại trả lời chính câu hỏi căn bản mà Taylor để lại.

Tôi đã đọc cả hai cuốn sách ấy mà không hề thấy được mối liên hệ giữa chúng. Mối liên hệ đó được chỉ ra cho tôi bởi một nghiên cứu sinh tiến sĩ mà tôi đang hướng dẫn. Đề tài của cô? Cô đang kết nối phân tích của Taylor về tính thế tục với trực giác nền tảng của tác giả vô danh trong The Cloud of Unknowing. Tóm lại luận điểm của cô như sau:

Một trong những cách Taylor định nghĩa thời đại thế tục là thế này: “Sự chuyển sang tính thế tục là sự chuyển từ một xã hội nơi niềm tin vào Thiên Chúa là điều hiển nhiên và không bị chất vấn, sang một xã hội nơi niềm tin ấy chỉ là một lựa chọn giữa nhiều lựa chọn khác – và thường không phải là lựa chọn dễ chấp nhận nhất.” Taylor cho rằng có hai yếu tố đang góp phần tạo nên tình trạng này.

Thứ nhất, ngày nay chúng ta trở thành cái mà ông gọi là “những con người được bảo bọc” (buffered persons), nghĩa là chúng ta đã chuyển từ một cái tôi dễ bị ảnh hưởng bởi những nỗi sợ tôn giáo và mê tín, sang một cái tôi được che chắn khỏi mọi “thần linh” trong một thế giới từng được xem là huyền nhiệm. Tôi đủ lớn để từng sống trong thế giới huyền nhiệm đó, nơi người ta tin rằng có các thần linh, ma quỷ, quyền lực siêu nhiên ở khắp nơi, nơi người ta rảy nước thánh quanh nhà khi có giông bão.

Thứ hai, theo Taylor, chúng ta đang sống trong một “nhãn quan nội tại” (immanent worldview), nơi thế giới bị thế tục hóa khiến ta nghĩ rằng không có thế giới nào khác ngoài thế giới này, và rằng ta không cần điều gì vượt trên thế giới này để đạt được ý nghĩa, sự viên mãn và hạnh phúc.

Taylor – một Kitô hữu đạo đức – kết luận rằng tình trạng mới này không phải là một cuộc khủng hoảng đức tin, mà là một cuộc khủng hoảng của trí tưởng tượng. Những hình dung cũ mà qua đó ta hiểu đức tin không còn phù hợp nữa. Chúng ta cần một trí tưởng tượng mới để hình dung lại đức tin của mình.

Vậy trí tưởng tượng mới đó đến từ đâu?

Theo nghiên cứu sinh của tôi, trí tưởng tượng mới mà ta cần để tái hình dung đức tin có thể được tìm thấy trong lời khuyên cốt lõi của The Cloud of Unknowing. Nhưng điều này không dễ thấy ngay.

Thoạt nhìn, điều mà tác giả vô danh thế kỷ XIV này đề nghị chỉ là một thực hành cầu nguyện đơn giản, giống như điều ngày nay người ta gọi là “cầu nguyện tĩnh lặng” (centering prayer), tức là đến với cầu nguyện mà không có chương trình, không yêu cầu, không lời nói. Chỉ đơn giản ngồi trong thinh lặng, không kỳ vọng, hoàn toàn tin tưởng rằng Thiên Chúa sẽ ban cho bạn điều bạn thực sự cần.

Tuy nhiên, đối với tác giả của The Cloud, đây không chỉ là một phương pháp cầu nguyện, mà là một thái độ căn bản trước chính cuộc sống. Đó là thái độ của sự chân thật triệt để, của sự thành thật tận căn – nơi bạn đứng trần trụi trong linh hồn trước chính mình, trước cuộc sống và trước Thiên Chúa. Điều này có nghĩa là gì?

Nói ngắn gọn: vì chúng ta là những “con người được bảo bọc” và sống trong một ý thức nội tại, nên hầu như chúng ta không bao giờ thật sự trần trụi trong tâm hồn, không bao giờ hoàn toàn chân thật (sine cere – không pha tạp), và cũng không bao giờ thực sự là chính mình. Rất hiếm khi ta có thể vượt qua mọi phân tâm, ý thức hệ, ám ảnh văn hóa, vết thương tâm lý, mộng tưởng và tâm thức bầy đàn – những thứ luôn nhuộm màu ý thức của ta.

Điều mà The Cloud đề nghị là: như một thái độ thường xuyên trước thực tại, ta hãy cố gắng gỡ bỏ mọi điều không chân thật nơi mình, để đứng ra khỏi mọi phân tâm và cơ chế tự vệ, đứng trần trụi trong linh hồn, bất lực không thể nghĩ hay tưởng tượng, chỉ đơn giản xin cuộc sống và Thiên Chúa ban cho điều mà ta thậm chí không thể hình dung là tốt nhất cho mình.

Taylor nói rằng chúng ta cần một trí tưởng tượng mới để hình dung lại đức tin. The Cloud lại cho thấy rằng trí tưởng tượng mới ấy không đến từ việc suy nghĩ để tạo ra một cách hiểu mới về đức tin. Trái lại, nó được ban cho khi ta đứng trước Thiên Chúa với tâm hồn trống rỗng, không còn tưởng tượng riêng của mình, hoàn toàn bất lực. Chính lúc đó – nghịch lý thay – khi ta không còn có thể tự giúp mình, ta lại được trợ giúp từ Đấng vượt trên cái tôi được bảo bọc của ta và vượt khỏi “nhà tù nội tại” mà ta đang sống trong đó. Sự sống và Thiên Chúa có thể tuôn chảy vào ta – và tuôn chảy cách tinh tuyền, bởi vì ta đang đứng đó trần trụi, bất lực và không biết gì, trước mầu nhiệm của chính mình, của cuộc sống và của Thiên Chúa.

Thánh Gioan Thánh Giá đã diễn tả lời mời gọi này như sau: Hãy học hiểu bằng cách không hiểu, hơn là bằng cách hiểu.

Điều đó có nghĩa là: nghịch lý thay, đức tin bắt đầu chính ở nơi ta tưởng rằng nó chấm dứt – nơi ta thấy mình trần trụi và bất lực, không thể hình dung về đức tin và về Thiên Chúa.
Vậy đâu là cuộc chiến thật sự của chúng ta hôm nay về đức tin? Charles Taylor đưa ra chẩn đoán. Còn chúng ta phải làm gì trong cuộc chiến ấy? The Cloud of Unknowing đưa ra phương thuốc.

Và Thời Gian Bắt Đầu Lại

Với sự phục sinh của Chúa Giêsu, thời gian đã bắt đầu lại. Nói đơn giản: trước khi Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết, mọi sự đã chết thì vẫn ở trong cái chết. Nhưng sau sự phục sinh của Người, không còn gì ở mãi trong cái chết nữa. Thời gian đã được khai mở lại từ đầu.

Trình thuật phục sinh trong Tin Mừng Luca mở đầu bằng lời: “vào buổi sáng ngày thứ nhất”. Đây là một cách nói có hai ý nghĩa: vừa chỉ ngày Chúa nhật – ngày đầu tuần, vừa chỉ ngày đầu tiên của một công trình tạo dựng mới. Với biến cố phục sinh, thời gian được bắt đầu lại. Thực vậy, thế giới đo thời gian từ chính ngày ấy: chúng ta đang ở năm 2026 kể từ buổi sáng Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết.

Từ thuở ban đầu cho đến khi Chúa Giêsu phục sinh, mọi sự hữu hạn đều chết và ở lại trong cái chết. Trong truyền thống Do Thái – Kitô giáo, qua câu chuyện Adam và Eva sa ngã, người ta tin rằng ban đầu con người không được tạo dựng để phải chết; cái chết đi vào thế gian do tội lỗi của nguyên tổ. Ngày nay, vì những lý do thần học và khoa học vững chắc, câu chuyện ấy – cũng như các trình thuật “thuở ban đầu” trong Sách Sáng Thế – được hiểu mang tính biểu tượng và mẫu mực hơn là theo nghĩa đen. Làm người nghĩa là mang thân phận phải chết.

Dù bạn hiểu câu chuyện Adam và Eva theo nghĩa đen hay không, kết luận vẫn giống nhau: từ nguyên tổ trở đi, mọi sự đã chết thì vẫn ở trong cái chết.

Nhưng điều đó đã thay đổi với sự phục sinh của Chúa Giêsu. Khi Thiên Chúa cho Người sống lại, chính nền tảng của tạo thành đã bị biến đổi. Tự nhiên được đổi mới. Một thân xác đã chết được đưa vào sự sống mới. Có phải là điều không thể? Đúng – nếu không có việc thời gian bắt đầu lại! Đã có một “ngày thứ nhất” mới, một Sáng Thế mới, một lần nữa ta có thể nói: “thuở ban đầu”.

Và giờ đây, không còn gì ở mãi trong cái chết nữa, bởi Chúa Giêsu là “hoa quả đầu mùa” của thụ tạo mới. Điều đã xảy ra nơi Người cũng sẽ xảy ra nơi chúng ta. Chúng ta sẽ không ở mãi trong cái chết nhưng sẽ sống lại trong sự sống mới. Hơn nữa, điều này không chỉ đúng cho con người mà còn cho chính trái đất và mọi sự trên đó. Chúa Giêsu đến để cứu độ cả thế giới, không chỉ những con người sống trong thế giới.

Thánh Phaolô Tông đồ nói rất rõ điều này trong Thư Rôma: muôn loài thụ tạo – tức là thế giới vật chất – đang rên siết như trong cơn đau sinh nở, và chính nó cũng sẽ được giải thoát khỏi ách nô lệ của sự hư nát, để bước vào tự do và vinh quang của con cái Thiên Chúa (Rm 8,21-23).

Trái đất của chúng ta, cũng như thân xác con người, là hữu hạn – nó cũng đang tiến tới cái chết. Như ta biết, mặt trời rồi sẽ tàn lụi, và điều đó đồng nghĩa với cái chết của hành tinh này. Trái đất cũng cần được phục sinh, và Kinh Thánh bảo đảm rằng điều đó sẽ xảy ra.

Tất cả những điều này vượt quá sức tưởng tượng của chúng ta. Điều đó có nghĩa là gì? Phải chăng các loài vật cũng sẽ có sự sống đời đời? Những thú cưng thân yêu của ta có ở trên thiên đàng không? Cây cối có bước vào thiên đàng không? Toàn thể vũ trụ và trái đất này có được biến đổi và bước vào thiên đàng không?

Câu trả lời là có – nhưng “như thế nào” thì vượt quá trí tưởng tượng của chúng ta. Trí óc con người quá giới hạn. Điều này không thể hình dung được, trừ khi ta nhớ rằng Thiên Chúa – Cha của Chúa Giêsu Kitô – là Đấng vượt trên mọi hiểu biết, có thể làm những điều không thể tưởng tượng, kể cả việc biến đổi mọi sự thành sự sống mới.

Tin Mừng Tin Mừng Gioan có một đoạn rất sâu sắc nối kết sự phục sinh với công trình tạo dựng ban đầu. Trong lần hiện ra đầu tiên với các tông đồ, Chúa Giêsu thấy họ đang co cụm vì sợ hãi trong căn phòng đóng kín cửa. Người bước qua cửa đóng, đứng giữa họ, chào bình an, cho họ xem tay và cạnh sườn, rồi thổi hơi trên họ (Ga 20,21).

Hơi thở ấy gợi lại việc Thiên Chúa đã thổi hơi trên hỗn mang lúc khởi đầu, khi ánh sáng tách khỏi bóng tối và công trình tạo dựng bắt đầu hình thành.

Sau phục sinh, Chúa Giêsu thổi hơi trên các môn đệ, và một lần nữa trong lịch sử, ánh sáng bắt đầu tách khỏi bóng tối. Sự hoang mang, sợ hãi, yếu đuối của các tông đồ – “hỗn mang” của họ – bắt đầu nhường chỗ cho ánh sáng mới của phục sinh: ánh sáng của bác ái, niềm vui, bình an, kiên nhẫn, nhân hậu – những hoa trái của Thánh Thần.
Vì thế, thật chính xác khi nói rằng: với sự phục sinh của Chúa Giêsu, thời gian đã bắt đầu lại. Có một “ngày thứ nhất” mới, nơi ánh sáng một lần nữa tách khỏi bóng tối. Biến cố phục sinh là điều trọng đại nhất đã xảy ra kể từ khi Thiên Chúa phán: “Hãy có ánh sáng!” cách đây gần mười bốn tỷ năm. Trái đất, con người, muôn loài và toàn thể vũ trụ giờ đây được ban cho sự sống vượt trên cái chết.

Trước khi Chúa Giêsu phục sinh, mọi sự đã chết thì vẫn ở trong cái chết. Điều đó không còn đúng nữa.

Thời gian đã bắt đầu lại.

Và Bức Màn Đền Thờ Đã Xé Ra Làm Đôi Từ Trên Xuống Dưới

Có rất nhiều dòng chữ đầy ám ảnh trong các bài tường thuật về cuộc thương khó. Có tâm hồn nào mà không lay động khi bài thương khó được đọc vang lên trong nhà thờ, và chúng ta đến đoạn Đức Giêsu trút hơi thở cuối cùng, rồi tất cả cùng quỳ xuống trong một phút thinh lặng đầy xúc động? Chẳng bài giảng nào có thể hiệu quả hơn dòng chữ duy nhất ấy (và Người đã trao thần khí) cùng sự thinh lặng sâu thẳm theo sau đó.

Một dòng chữ khác cũng luôn ám ảnh tôi là câu tiếp theo ngay sau đó. Chúng ta được kể rằng, vào khoảnh khắc Đức Giêsu qua đời, bức màn trong đền thờ đã xé ra làm đôi, từ trên xuống dưới.

Trí tưởng tượng của tôi, đặc biệt là khi còn nhỏ, luôn hình dung cảnh tượng đó theo một cách khá đáng sợ: Trời bỗng tối sầm lại giữa ban ngày, rồi vào lúc Đức Giêsu tắt thở, như thể có một tia sét kinh hoàng giáng xuống, bức màn đền thờ bị xé toạc trước mắt bao người đang đứng sững sờ — những kẻ giờ đây đã nhận ra, nhưng quá muộn, rằng người mà họ vừa nhạo báng và đóng đinh chính là Đấng Kitô.

Nhưng thực sự, ý nghĩa của cụm từ “bức màn đền thờ xé làm đôi” vào khoảnh khắc Đức Giêsu qua đời là gì?

Các học giả Kinh Thánh cho biết bức màn đó chính là tấm màn ngăn cách, không cho dân chúng nhìn thấy những gì diễn ra phía sau, cụ thể là các nghi lễ thánh thiêng do các tư tế thực hiện. Tấm màn ấy che chắn người thờ phượng bình thường khỏi sự huyền nhiệm.

Vì vậy, khi các sách Tin Mừng nói rằng vào lúc Đức Giêsu chết, bức màn đền thờ bị xé từ trên xuống dưới, ý nghĩa không phải là — như tôi từng tưởng tượng — Thiên Chúa xé nát thứ quý giá nhất của những kẻ đã đóng đinh Ngài để cho họ thấy họ đã sai lầm thế nào. Ngược lại mới đúng.

Bức màn đền thờ vốn được hiểu là để ngăn cách con người khỏi mầu nhiệm, khỏi việc nhìn thấu vào bên trong mầu nhiệm của Thiên Chúa. Trong cuộc đóng đinh, bức màn đó bị xé tan để giờ đây mọi người đều có thể nhìn vào bên trong Nơi Cực Thánh thực sự — chính là tâm can của Thiên Chúa.

Giờ đây, chúng ta thấy dung mạo thực sự của Thiên Chúa: Ngài là Đấng yêu thương chúng ta vô điều kiện đến mức dù chúng ta có đóng đinh Ngài, Ngài cũng chẳng ngừng yêu ta dù chỉ một giây. Thiên Chúa đổ chính máu mình ra để chạm đến ta, thay vì muốn ta phải đổ máu mình để chạm đến Ngài. Điều này nghĩa là gì?

Có một câu hỏi từ hàng thế kỷ nay: Tại sao Đức Giêsu phải chết theo cách khủng khiếp như vậy? Tại sao phải có máu? Cuộc chơi vũ trụ hay thần linh nào đang diễn ra ở đây? Phải chăng máu của Chúa Kitô, máu của con chiên, bằng cách nào đó đang “trả nợ” cho Thiên Chúa vì tội lỗi của Adam, Eva và của chính chúng ta? Tại sao máu phải đổ xuống?

Đây là một câu hỏi phức tạp và mọi câu trả lời đều chỉ là một phần sự thật. Chúng ta đang đối diện với một mầu nhiệm lớn lao. Tuy nhiên, ngay cả những mầu nhiệm lớn cũng có thể được hiểu một phần. Một trong những lý do khiến Đức Giêsu chết theo cách này, một trong những lý do của việc đổ máu, là rất rõ ràng với những hàm ý sâu sắc. Đó là gì?

Nó liên quan mật thiết đến ý nghĩa của “máu”. Từ thuở sơ khai cho đến trước cuộc đóng đinh của Đức Giêsu, nhiều nền văn hóa đã hiến tế máu cho các thần linh của họ. Tại sao lại là máu? Vì máu được đồng nhất với nguyên lý sự sống. Máu mang theo sự sống, là chính sự sống, và mất máu nghĩa là chết. Vì vậy, vì đủ loại lý do tôn giáo và nhân chủng học, trong nhiều nền văn hóa cổ đại luôn tồn tại ý niệm rằng chúng ta nợ Thiên Chúa bằng máu, rằng Thiên Chúa cần được nguôi giận, rằng dâng máu là cách chúng ta xin ơn tha thứ và bày tỏ lòng biết ơn — rằng máu là ngôn ngữ duy nhất mà Thiên Chúa thực sự thấu hiểu.

Thế nên, những người mộ đạo chân thành cảm thấy họ nên dâng máu cho Chúa. Và họ đã làm vậy — trong một thời gian dài, bao gồm cả máu người. Con người bị sát hại trên các bàn thờ khắp nơi. Thật may mắn là hầu hết các nền văn hóa cuối cùng đã bãi bỏ việc tế người và dùng động vật thay thế.

Vào thời Đức Giêsu, đền thờ Jerusalem thực sự đã trở thành một lò sát sinh với các tư tế giết hại động vật gần như không ngừng nghỉ. Một số học giả cho rằng khi Đức Giêsu lật đổ bàn của những người đổi tiền, có khoảng 90% hoạt động thương mại ở Jerusalem liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc tế lễ động vật. Chẳng trách hành động của Đức Giêsu lại bị coi là một mối đe dọa lớn đến thế!
Vậy tại sao lại có máu trong cái chết của Đức Giêsu?

Như Richard Rohr đã diễn đạt rất xác đáng: Suốt nhiều thế kỷ, chúng ta đã đổ máu để cố gắng chạm tới Thiên Chúa, nhưng trong cuộc đóng đinh, mọi thứ đã đảo ngược: Thiên Chúa đổ chính máu mình để cố gắng chạm đến chúng ta. Sự đảo ngược này xé tan bức màn sợ hãi cũ kỹ, xé tan niềm tin sai lầm rằng Thiên Chúa muốn máu, xé tan ảo tưởng rằng Thiên Chúa không phải là tình yêu vô điều kiện, và rằng chúng ta cần phải sống trong sự sợ hãi Ngài.

Thiên Chúa không cần máu để được xoa dịu. Ngài chưa bao giờ ngừng yêu thương chúng ta dù chỉ một giây. Khi bức màn đền thờ bị xé toang, sự thật kinh ngạc này đã được hé lộ.

Đừng Keo Kiệt Với Lòng Thương Xót Của Thiên Chúa

Chẳng bao lâu sau khi chịu chức linh mục, trong lúc đi làm mục vụ thay tại một giáo xứ, tôi có dịp ở cùng một vị linh mục già đức độ. Ngài đã ngoài tám mươi, mắt gần như mù lòa, nhưng lại là người được rất nhiều người tìm đến xin lời khuyên và kính trọng. Một tối nọ, khi chỉ có hai người, tôi đã hỏi ngài một câu: “Nếu được sống lại đời linh mục một lần nữa, cha có thay đổi điều gì không?”

Từ một con người đầy chính trực như ngài, tôi vốn đinh ninh rằng ngài sẽ chẳng có gì phải hối tiếc. Vì vậy, câu trả lời của ngài làm tôi vô cùng ngạc nhiên. Ngài bảo có, ngài có một nỗi hối tiếc rất lớn: “Nếu được làm lại đời linh mục, lần tới tôi sẽ bao dung với mọi người hơn. Tôi sẽ không quá bủn xỉn với lòng thương xót của Chúa, với các bí tích và sự tha thứ. Anh thấy đó, điều được nhồi nhét vào đầu tôi hồi ở chủng viện là câu: Sự thật sẽ giải phóng anh em. Thế nên, tôi tin rằng trách nhiệm của mình là luôn đưa ra những thách đố khó khăn, và điều đó cũng có cái tốt. Nhưng tôi e rằng mình đã quá khắt khe với mọi người. Họ đã đủ đau khổ rồi, không cần tôi và Giáo hội phải chất thêm gánh nặng lên vai họ nữa. Lẽ ra tôi nên dám mạo hiểm vào lòng thương xót của Chúa hơn nữa!”

Điều này làm tôi sững sờ, vì chỉ chưa đầy một năm trước đó, khi tôi thi vấn đáp cuối kỳ ở chủng viện, một trong những linh mục giám khảo đã cảnh báo tôi thế này: “Hãy cẩn thận, đừng bao giờ để cảm xúc xen vào. Đừng có mềm yếu, như vậy là sai. Hãy nhớ rằng, dù có khắc nghiệt đến đâu, chính sự thật mới giải phóng con người!” Đó dường như là một lời khuyên chí lý cho một linh mục trẻ.

Thế nhưng, sau năm mươi năm thi hành tác vụ, tôi lại nghiêng về lời khuyên của vị linh mục già kia hơn: Chúng ta cần dám mạo hiểm hơn với lòng thương xót của Thiên Chúa. Vị trí của công lý và sự thật không bao giờ được phép phớt lờ, nhưng chúng ta phải dám để cho lòng thương xót vô biên, không bờ bến, không điều kiện và không đòi hỏi công trạng của Chúa được tuôn trào tự do hơn. Lòng thương xót của Chúa luôn sẵn có như một vòi nước gần nhất, và vì thế, giống như ngôn sứ Isaiah, chúng ta phải loan báo một lòng thương xót không hề dán nhãn giá: Đến đây, hãy đến mà không cần tiền bạc, không cần đức hạnh, hãy đến uống thỏa thuê lòng thương xót của Chúa! (Isaiah 55:1)

Điều gì đang kìm hãm chúng ta? Tại sao chúng ta lại ngần ngại khi loan báo lòng thương xót vô tận, hào phóng và không phân biệt của Ngài?

Một phần động cơ của chúng ta là tốt, thậm chí là cao quý. Sự quan tâm đến sự thật, công lý, tính chính thống, đạo đức chuẩn mực, hình thức công khai hay việc chuẩn bị bí tích kỹ lưỡng không phải là không quan trọng. Tình yêu cần được định hướng bởi sự thật, cũng như sự thật phải được điều hòa bởi tình yêu.

Nhưng đôi khi động cơ của chúng ta lại kém cao quý hơn, và sự ngần ngại đó nảy sinh từ sự rụt rè, sợ hãi, chủ nghĩa lề luật, sự tự mãn kiểu những người biệt phái, và một hiểu biết nghèo nàn về Thiên Chúa. Thế là, chúng ta quyết không để bất kỳ một “ân sủng rẻ tiền” nào được ban phát dưới sự canh chừng của mình!

Khi làm như vậy, tôi e rằng chúng ta đang đi lạc đường, chưa làm tròn vai trò của người mục tử nhân lành, và không cùng nhịp đập với Thiên Chúa mà Đức Giêsu đã nhập thể để bày tỏ. Lòng thương xót của Thiên Chúa, như Đức Giêsu mặc khải, ôm ấp tất cả không phân biệt ai, giống như ánh mặt trời chiếu soi đồng đều trên người tốt cũng như kẻ xấu, người xứng đáng cũng như kẻ không xứng đáng, người trong đạo cũng như kẻ ngoài đời.

Một trong những thấu thị thực sự gây chấn động mà Đức Giêsu mang lại cho chúng ta là: lòng thương xót của Thiên Chúa không thể không đến với tất cả mọi người. Nó luôn miễn phí, không do công trạng, không điều kiện, mang tính phổ quát, vượt lên trên mọi tôn giáo, phong tục, luật lệ, đảng phái chính trị, các chương trình bắt buộc, ý thức hệ, và thậm chí vượt lên trên cả chính tội lỗi.

Về phần mình, đặc biệt là những người làm cha mẹ, những người làm mục vụ, thầy cô giáo, giáo lý viên và những người đi trước, chúng ta phải dám loan báo đặc tính hào phóng của lòng thương xót Chúa. Chúng ta không được ban phát lòng thương xót của Chúa như thể nó là của riêng mình để ban ơn; không được phân phát sự tha thứ của Chúa như thể đó là một món hàng có hạn; không được đặt điều kiện cho tình yêu của Chúa như thể Chúa cần được bảo vệ; hay ngăn chặn con đường đến với Chúa như thể chúng ta là người giữ cổng thiên đàng. Chúng ta không phải là người giữ cổng. Nếu chúng ta trói buộc lòng thương xót của Chúa vào sự rụt rè và sợ hãi của chính mình, chúng ta đang giới hạn nó trong tầm vóc nhỏ bé của tâm trí mình. Đó là một sai lầm.

Thật thú vị khi để ý trong các sách Tin Mừng rằng các tông đồ — dĩ nhiên là với ý tốt — thường cố gắng ngăn cản một số người đến gần Đức Giêsu vì cho rằng họ không xứng đáng, hoặc họ là sự xúc phạm đến sự thánh thiện của Ngài, hay bằng cách nào đó sẽ làm vấy bẩn sự thanh sạch của Ngài. Thế là họ cố đuổi trẻ em, những người hành nghề mại dâm, những người thu thuế, những tội nhân khét tiếng và đủ mọi thành phần chưa được khai tâm đi. Nhưng lần nào Đức Giêsu cũng bác bỏ những nỗ lực đó bằng những lời đại ý rằng: “Cứ để họ đến với Ta. Ta muốn họ đến.”

Mọi chuyện vẫn không thay đổi. Theo năm tháng, chúng ta — những người đầy thiện chí — vì những lý do y hệt như các tông đồ, vẫn tiếp tục cố gắng giữ một số cá nhân và nhóm người tránh xa lòng thương xót của Chúa vốn luôn sẵn có trong Lời Chúa, Bí tích và Cộng đoàn. Ngày xưa Đức Giêsu đã dàn xếp được mọi chuyện; tôi tin rằng ngày nay Ngài cũng làm được. Thiên Chúa không cần chúng ta làm người gác cổng.

Điều Thiên Chúa muốn là tất cả mọi người, bất kể tuổi tác, tôn giáo, văn hóa, sự yếu đuối cá nhân hay việc thiếu thực hành đạo đức, hãy đến với nguồn nước vô tận của lòng thương xót thần linh.

Nhà tự nhiên học nổi tiếng John Muir từng thách thức các Kitô hữu bằng những lời này: Tại sao các Kitô hữu lại ngần ngại để các loài vật bước chân vào cái thiên đàng bủn xỉn của họ đến thế?

Tôi e rằng, chúng ta cũng đang bủn xỉn với lòng thương xót hào phóng của Thiên Chúa như vậy.

Mọi Sinh Mạng Đều Đáng Quý

Theodore Roethke đã mở đầu bài thơ In a Dark Time (Trong thời khắc đen tối) của mình bằng những dòng chữ này: “Trong thời khắc đen tối, đôi mắt bắt đầu nhìn thấu.”

Chúng ta đang sống trong một thời điểm đen tối, một thời đại bị bủa vây bởi hận thù, bởi những chia rẽ cay đắng và những cuộc chiến đang hằng ngày gieo rắc cái chết cùng những tổn thương không thể đong đếm cho hàng triệu con người. Nhưng liệu đôi mắt chúng ta đã bắt đầu “nhìn thấu” chưa?

Đôi khi, trong bóng tối, một chút hài hước suồng sã lại có thể giúp ta nhìn rõ sự việc hơn. Đây là một ví dụ: Gần đây, tôi có hướng dẫn một khóa tĩnh tâm tại một trung tâm gần bờ biển. Khi đi dạo trên bãi biển vào giờ nghỉ, tôi bắt gặp ba chàng trai trẻ ngồi trên thùng sau của một chiếc xe bán tải. Tiếng nhạc từ loa xe chát chúa vang xa hàng trăm mét, và ba thanh niên đó, mũ lưỡi trai đội ngược, đang hớn hở nâng lon bia vẫy chào mọi người xung quanh. Phía trên chiếc xe, một lá cờ lớn tung bay với dòng chữ: Drunk lives matter! (Những người say xỉn cũng đáng được trân trọng!). Sự suồng sã đầy vui vẻ của họ đã vực dậy tinh thần tôi, và nó cũng làm những người tham gia khóa tĩnh tâm bật cười khi tôi chia sẻ câu chuyện này.

Đúng vậy, đôi khi chúng ta thấy rằng ngay cả mạng sống của những kẻ say xỉn cũng đáng quý. Mọi mạng sống đều đáng quý.

Việc “mọi mạng sống đều đáng quý” cần phải được nhấn mạnh ngay lúc này, bởi ngày nay, chúng ta đang bị vây quanh bởi những ấn tượng mạnh mẽ từ các quan chức chính phủ và những người khác rằng: có những mạng sống chẳng hề quan trọng, hoặc ít nhất là không quan trọng bằng mạng sống của chính chúng ta và những người thân yêu của ta. Đây là mấu chốt của vấn đề:

Trong những tuần qua, Mỹ và Israel đã tham chiến với Iran, một cuộc chiến đã gây bất ổn cho cuộc sống của hàng triệu người. Trong thời gian này, đã có 15.000 vụ đánh bom ở Iran và Lebanon, và Iran đã đáp trả bằng vô số cuộc tấn công nhắm vào các lợi ích của Mỹ và Israel.

Phía Mỹ và Israel, một số người lính và thường dân đã ngã xuống và hàng trăm người đã bị thương. Chúng ta đã để tang họ một cách thành kính, xót xa cho những mạng sống quý giá đã mất đi. Lòng trắc ẩn đã giúp chúng ta thấy rằng những sinh mạng đó là vô giá, và khi mỗi người trong số họ ra đi, một hơi thở không thể thay thế đã rời khỏi hành tinh này. Chúng ta công nhận rằng mạng sống của họ đáng quý. Và đó là một điều đáng ghi nhận.

Tuy nhiên, cũng trong thời gian đó, hơn 2000 mạng sống khác ở Iran và Libăng – tức “phía bên kia” cũng đã mất đi, và hàng trăm ngàn người khác bị xé toạc cuộc đời một cách vĩnh viễn, nhưng (ít nhất là trước công chúng) chúng ta lại không dành cho họ cùng một lòng trắc ẩn như đã dành cho người của mình. Đối với chúng ta, dường như mạng sống của họ không quý giá bằng mạng sống của ta.

Có lẽ điều này có thể được tha thứ (hoặc ít nhất là thấu hiểu) bởi thực tế là chúng ta không trực tiếp nhìn thấy những cuộc đời đó. Họ ở xa chúng ta, chỉ là những khái niệm trừu tượng, những khuôn mặt không hình hài, những cái tên xa lạ, những người Iran, những người Libăng.

Thế nhưng, điều không thể bào chữa được chính là cái cách hời hợt và nhẫn tâm mà cuộc chiến này và những cái chết đó đang được bàn luận bởi một số nhà lãnh đạo. Ngôn từ của họ trước những cái chết và ly tán của hàng triệu người lại là ngôn từ của sự ăn mừng; giống như cái cách người ta nghe thấy trong một trận bóng đá khi đội nhà đang hạ nhục đối thủ. Chúng ta đang đánh bại chúng! Chúng ta đang làm nhục chúng! Chúng ta đang ném bom chúng đến mức chúng bị xóa sổ! Hoan hô!

Lòng trắc ẩn của chúng ta ở đâu trước nỗi đau của họ, trước những người đã chết, trước hàng triệu cuộc đời đang bị xé nát bởi tang thương và tuyệt vọng? Cứ như thể cái chết của “phía bên kia” những người Iran, Libăng là không có thật, chỉ như những lần tiêu diệt ảo trong một trò chơi điện tử. Ngay cả cái tên của cuộc chiến này cũng sặc mùi game: Epic Fury! (Cơn Thịnh Nộ Sử Thi). Nhưng đây không phải là trò chơi. Những con người bằng xương bằng thịt đang chết đi. Hàng trăm người đã nằm xuống và hàng triệu người đang sống với trái tim tan vỡ hay trong tuyệt vọng.

Phần tốt đẹp nhất bên trong mời gọi chúng ta chạm vào nơi sâu thẳm nhất của trái tim — nơi chúng ta biết quan tâm đến nhiều người hơn là chỉ người của mình. Chúng ta cần chạm tới phần trắc ẩn sâu xa đó để có thể thốt lên (và nói thật to): Mạng sống người Iran đáng quý! Mạng sống người Libăng đáng quý! Mọi mạng sống đều đáng quý! Mọi mạng sống đều quý giá như chính mạng sống của tôi.

Tất cả mạng sống con người đều quý giá như nhau trong mắt Thiên Chúa. Như Thánh Phao-lô đã nói trong Thư gửi tín hữu Ga-lát (3,28): “Không còn chuyện phân biệt Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà; vì tất cả anh em chỉ là một trong Đức Kitô Giêsu.” Thực chất, điều đó có nghĩa là trong Đức Kitô, không có người Mỹ hay người Iran, không có người Israel hay người Libăng, không có mạng sống nào là không quan trọng hay kém quan trọng hơn những mạng sống khác.

Chiến tranh là chiến tranh, và thậm chí có thể có những cuộc chiến tranh chính nghĩa, và đương nhiên là người ta sẽ chết trong chiến tranh. Điều đó có thể chấp nhận được.

Nhưng, chúng ta có một tấm lòng cao thượng hơn là rơi vào sự đồng cảm có chọn lọc. Chúng ta có một tấm lòng cao thượng hơn là ăn mừng cái chết và sự hủy diệt của những sinh mạng—như thể chúng ta đang ăn mừng chiến thắng của đội thể thao yêu thích khi họ đè bẹp một đối thủ đáng ghét. Chúng ta có một tấm lòng cao thượng hơn là coi cái chết và sự hủy diệt của vô vàn sinh mạng như những điều không hoàn toàn có thật—giống như những nhân vật đã chết trong các trò chơi điện tử vậy.

Chúng ta xứng đáng hơn thế nhiều!