RonRolheiser,OMI

Hướng Đến Sự Thấu Hiểu Về Tự Tử

Mỗi năm tôi đều cố gắng viết một bài báo về chủ đề tự tử, bởi vì đây có lẽ là cái chết bị hiểu lầm nhiều nhất và nó gây ra những tàn phá độc hại, riêng biệt lên gia đình cùng những người thân yêu ở lại.

Họ bị bỏ lại với một trận bão tuyết của những cảm xúc mâu thuẫn và giằng xé: sự hổ thẹn (Thật là một cách chết đáng xấu hổ); sự tội lỗi (Giá như mình làm được nhiều hơn); sự giằng xé (Tại sao mình không chú ý hơn?); sự giận dữ (Đây là một hành động ích kỷ); và sự băn khoăn (Làm sao người này có thể lên thiên đàng?). Hơn nữa, về bản chất, điều này làm tổn hại đến ký ức về người đã khuất.

Xuyên suốt các bài viết cũng như cuốn sách của mình (Bruised & Wounded: Struggling to Understand Suicide – Trầy xước & Đớn đau: Vật lộn để hiểu về tự tử), tôi luôn cố gắng nhấn mạnh rằng trong hầu hết các trường hợp tự tử:

  • Chúng ta đang đối diện với một con người cực kỳ nhạy cảm và tổn thương, một người mà ở một khía cạnh nào đó đã quá đau đớn đến mức không thể chạm vào.
  • Khi tự sát, một người ra đi trái với ý muốn của chính họ, tương tự như việc phải nhảy ra khỏi cửa sổ tòa nhà cao tầng vì quần áo trên người đang bốc cháy.
  • Một cái chết do tự sát tương đương về mặt cảm xúc và tâm lý với bệnh ung thư, đột quỵ hay một cơn đau tim. Vì lý do này, chúng ta không còn dùng từ “phạm tội” tự tử, bởi chẳng ai nói một người “phạm tội” ung thư, đột quỵ hay đau tim cả. Tự tử, trong hầu hết trường hợp, không phải là một hành vi tự nguyện.
  • Trong nhiều trường hợp, trầm cảm dẫn đến tự tử có gốc rễ từ sinh hóa.
  • Chúng ta không cần phải lo lắng về sự cứu rỗi đời đời của người đó. Họ có một trái tim lành thánh và Thiên Chúa là Đấng đọc được thấu suốt trái tim. Đôi khi một người rơi vào một trạng thái mà tình yêu con người, y học, và tâm thần học tốt nhất cũng không thể chạm tới, nhưng đức tin quả quyết với chúng ta rằng không có địa ngục trầm cảm nào mà Thiên Chúa không thể hạ mình đi xuống để thổi hơi bình an.
  • Chúng ta cần cho phép bản thân được cảm nhận tất cả những xúc cảm giằng xé mà mình sẽ có về người thân yêu và về cách ra đi của họ. Đó là một quá trình nguôi ngoai lành mạnh không nên bị cắt ngắn. Rốt cuộc, ký ức về người thân và linh hồn của họ sẽ trở về với chúng ta trong sự bình an và thấu hiểu.
  • Nhiệm vụ của chúng ta, sau thời gian chịu tang, là cứu chuộc ký ức về người thân yêu để cuộc đời họ không bị nhìn nhận và đánh giá qua lăng kính của cái chết. Hãy treo lại ảnh của họ lên tường, không còn nhắc về họ bằng giọng điệu thì thầm, hãy tưởng nhớ cuộc đời họ và nói một cách tự nhiên về tinh thần đặc biệt mà họ đã mang đến cho thế giới này.

Margaret Atwood từng nói rằng đôi khi có những điều cần phải được nói đi, nói lại và nói lại lần nữa, cho đến khi chúng không cần phải nói thêm nữa. Những góc nhìn này về tự tử vẫn cần phải được tiếp tục cất lời.

Bên cạnh những khẳng định trên, xin cho phép tôi bổ sung thêm hai góc nhìn về tự tử mà tôi thấy rất hữu ích.

Góc nhìn đầu tiên là một bài học từ thiên nhiên. Đây là chia sẻ của Elif Shafak, một nhà thực vật học, khi suy ngẫm về cái chết tự tử của mẹ người bạn mình: “Khi còn là một nhà thực vật học trẻ tuổi, tôi được nhờ chẩn đoán cho một cây xanh đang phát triển không tốt. Nó có vẻ như đang chết dần. Sau nhiều xét nghiệm không mang lại kết quả rõ ràng, tôi lấy xẻng và bắt đầu đào xuống, để rồi học được một bài học mà tôi không bao giờ quên: sự thắt nút đang diễn ra ngay bên dưới bề mặt. Cái cây đang bị siết cổ bởi chính rễ của nó. Nếu những chùm rễ quấn quanh không được phát hiện kịp thời, chúng sẽ bắt đầu tạo áp lực lên cây và mọi thứ trở nên quá sức chịu đựng… Cái chết của mẹ bạn không liên quan gì đến sự thiếu thốn tình yêu. Bà ấy đã nở hoa và phát triển nhờ tình yêu của bạn, và tôi tin là cả của tôi nữa, nhưng bên dưới lòng đất, có điều gì đó đang siết cổ bà: quá khứ, những ký ức, những chùm rễ.”

Đôi khi chính những chùm rễ của chúng ta (sự phức tạp, chấn thương, sự hỗn loạn, thất vọng, yếu tố sinh học) có thể quá áp đảo đến mức chúng quay sang triệt hạ thể xác. Như James Hillman đã viết trong cuốn sách Suicide and the Soul (Tự sát và Tâm hồn), đôi khi có những điều sâu thẳm bên trong không thể cất lên tiếng nói, và sự bế tắc của chúng rốt cuộc quay lại siết cổ thể xác. Chính những chùm rễ của chúng ta đôi khi là một sự pha trộn phức tạp giữa tâm hồn và sinh học khiến chúng ta bắt đầu rơi vào trạng thái ngạt thở.

Suy ngẫm thứ hai đến từ Jeffrey Monroe trong cuốn sách Reading Buechner: Exploring the Work of a Master Memoirist, Novelist, Theologian, and Preacher. Frederick Buechner, một mục sư Kitô giáo, đã phải đối mặt với cái chết tự tử của cha mình. Với tư cách là một người con, một người có đức tin, một mục sư cố gắng giúp người khác thấu hiểu, ông đã tìm kiếm những câu trả lời cho cái chết của cha. Những câu trả lời không dễ dàng đến, hoặc dường như chẳng hề xuất hiện. Rốt cuộc, Buechner đã đi đến sự thấu hiểu này về cái chết của cha mình.

Câu trả lời mục vụ tốt nhất trước một bi kịch không thể giải thích (cái chết tự tử của cha ông) không phải là một câu trả lời. Đó là sự hiện diện. Ở phía bên này của cõi đời đời, chúng ta sẽ không có được mọi câu trả lời, đặc biệt là câu hỏi về tự tử. Đôi khi không có câu trả lời nào thỏa đáng trong những khoảnh khắc đen tối nhất, như khi chúng ta mất đi người thân vì tự tử. Điều quan trọng nhất trong những khoảnh khắc đen tối đó là chúng ta có thể tin tưởng rằng Thiên Chúa không bỏ rơi người thân của chúng ta. Và điều chúng ta khao khát hơn cả những câu trả lời – chính là Thiên Chúa.

Khi Nào Chúng Ta Về Nhà?

Hơn bất cứ điều gì khác, chúng ta luôn khao khát một mái nhà. Nỗi khắc khoải sâu sắc của chúng ta về sự gắn kết, sự an toàn và niềm an ủi, đến cuối cùng, chẳng qua chỉ là niềm khao khát về nhà, không gì hơn. Chúng ta mãi bồn chồn tìm kiếm ai đó hoặc điều gì đó để đưa ta trở về nhà.

Nhưng nhà là gì? Là một gia đình? Một ngôi nhà? Một thành phố? Một quốc gia? Một người tình? Một ngôn ngữ? Hay một sắc tộc?

Khái niệm “nhà” vượt lên trên tất cả những điều đó. Chúng ta có thể tìm thấy một mái nhà trong nhiều gia đình, ngôi nhà, thành phố, quốc gia, sắc tộc và ngôn ngữ khác nhau; và chúng ta cũng có thể ở rất xa nhà ngay trong chính gia đình, ngôi nhà, thành phố, quốc gia hay dòng máu sắc tộc của mình.

Nhà là một chốn trong tim, chứ không phải là huyết thống, tòa nhà, thành phố hay chủng tộc. Nhà là chốn sâu thẳm, mong manh bên trong, nơi chúng ta gìn giữ và bảo vệ những gì quý giá nhất của bản thân. Đó là nơi mà bằng một cách mờ ảo nào đó, ta nhớ rằng đã từng có thời — trước khi nhận thức — ta được vuốt ve bởi những bàn tay dịu dàng hơn bất kỳ bàn tay nào ta từng gặp trong đời này, và nơi ta từng được hôn bởi một sự thật cùng một vẻ đẹp hoàn hảo đến mức chúng trở thành tiêu chuẩn vô thức để ta đo lường mọi thứ. Nhà là nơi những giá trị “vang lên sự chân thật”, nơi những gì quý giá nhất của ta được trân trọng, là chốn của lương tâm mềm mại, của sự gắn kết thấu hiểu.

Và chúng ta biết khi nào mình đang ở đó và khi nào không. Nhà là một cảm giác trực giác, một chốn nghỉ ngơi, một sự lành thánh, một niềm an toàn mà ta cảm nhận được hoặc không cảm nhận được.

Thỉnh thoảng có người hỏi tôi: “Làm sao tôi biết tình yêu tôi dành cho một người là thứ tình yêu có thể xây dựng một cuộc hôn nhân?” Câu trả lời của tôi: “Tình yêu là một ẩn số và không có gì đảm bảo; nhưng hãy tự hỏi mình điều này: Người này có mang lại cho tôi cảm giác về nhà hay không? Hay đây là một tình yêu — bất kể nó mạnh mẽ và phấn khích đến đâu — mà rốt cuộc tôi vẫn cần phải từ đó để đi về nhà?”

Có một sự khác biệt rất lớn giữa việc chia sẻ những xúc cảm mạnh mẽ với ai đó và việc cùng người đó xây dựng một cuộc đời, một mái nhà. Có một sự khác biệt rất lớn giữa một cuộc phiêu lưu tình cảm và một cuộc hôn nhân, giữa một kỳ nghỉ trăng mật hay việc gầy dựng tương lai với một người. Nhiều kiểu tình yêu có thể tạo nên một kỳ trăng mật, nhưng chỉ có một kiểu tình yêu mới đưa chúng ta về nhà.

Rồi sau khi đã tìm thấy nhà, chúng ta vẫn đối mặt với vấn đề làm sao để ở lại đó. Điều này không mang nghĩa đen, mà mang một ý nghĩa sâu sắc hơn. Bằng cách nào?

Trong các Sách Tin Mừng, ngay sau khi chối Đức Giê-su, chúng ta được kể rằng Phê-rô “đã đi ra ngoài”. Điều được mô tả ở đây không đơn thuần là một hành động thể lý — một ai đó bước qua cánh cửa để ra ngoài. Điều được ngụ ý là Phê-rô đã đi ra ngoài chính mình, ra ngoài bản ngã của ông, ra ngoài lương tâm, ra ngoài cách hiểu thông thường của ông về mọi việc. Ông “đi ra ngoài” theo cái cách một người đàn ông “đi ra ngoài” khi anh ta đến một quán bar dành cho người độc thân và kết nối với ai đó theo cách đưa anh ta “ra bên ngoài” ranh giới đạo đức bình thường của mình.

Và từ đó, anh ta phải đi về nhà. Tại sao? Bởi vì cũng như Phê-rô, anh ta đã “đi ra ngoài”. Những gì một người làm trong bất kỳ hành vi phân liệt nào về mặt đạo đức, về bản chất, đều đưa người đó rời xa ngôi nhà của mình (ngay cả khi hành vi đó được thực hiện ngay trong chính ngôi nhà của họ). Về mặt đạo đức và tâm lý, hành vi đó được thực hiện ở xa nhà. Nó được thực hiện ở “bên ngoài”.

Có một câu nói đùa hơi thô nhưng lột tả được điều này. Người ta hỏi: “Những người ngoại tình làm gì sau khi quan hệ?” Câu trả lời: “Họ đi về nhà!” Điều đó thể hiện một sự chua chát đáng buồn: Tình dục chưa bao giờ là điều mà từ đó chúng ta phải đi về nhà. Nó được thiết kế để đưa chúng ta về nhà, để cấu thành nên mái nhà. Sự gắn kết thấu hiểu chính là nhà, và nếu chúng ta cần phải rời khỏi một trải nghiệm để đi về nhà, thì đó là dấu hiệu không thể nhầm lẫn rằng những gì chúng ta vừa trải qua rốt cuộc không mang lại sự sống.

Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc hiểu cuộc sống. Trong các Sách Tin Mừng, Đức Giê-su nói: “Phần anh em (những người ở bên trong vòng tròn thấu hiểu), bí mật của Nước Trời được mạc khải; còn với những kẻ ở bên ngoài, mọi chuyện đều là câu đố.” Ai là người “ở bên trong” và ai là người “ở bên ngoài” vòng tròn thấu hiểu? Ai “nắm bắt” được bí mật và ai “không nắm bắt” được?

Việc “nắm bắt” hay “không nắm bắt” được bí mật không phải là vấn đề về trí thông minh, học thức, may mắn, hay việc tìm đúng sách, đúng thầy. Đúng hơn, chúng ta “ở bên trong” vòng tròn thấu hiểu và chúng ta “thấu hiểu” được Tin Mừng khi chúng ta “ở nhà”, khi chúng ta sống chân thật với những gì sâu thẳm nhất trong mình, khi chúng ta thành thật với lương tâm, khi chúng ta không “đi ra ngoài” về mặt đạo đức (như Phê-rô đã làm và như chúng ta vẫn làm khi thực hiện những hành vi không trung thực với chính bản thân). Khi chúng ta trung thành về mặt đạo đức, chúng ta “thấu hiểu” được Tin Mừng.

Ngược lại, chúng ta “không thấu hiểu” khi chúng ta “đi ra ngoài” — ra ngoài về mặt đạo đức — khi chúng ta “rời khỏi nhà” bằng sự bất toàn như Phê-rô đã từng.

Và chúng ta biết sự thật này từ trải nghiệm: Khi chúng ta trung thành, các Sách Tin Mừng trở nên dễ hiểu. Khi chúng ta bất toàn, gần như ngay lập tức, chúng ta ngập tràn những phản bác, trở nên cay đắng và bắt đầu vạch lá tìm sâu nơi những sự thật mà mình từng tin tưởng.

T.S. Eliot từng nói: “Nhà là nơi chúng ta bắt đầu.” Đó cũng là nơi mà từ đó, chúng ta hiểu điều gì mang lại sự sống cho mình và điều gì thì không.

Suy Tưởng Và Những Bài Thơ Viết Về Sự Tan Vỡ

Khi ngẫm lại về nền tảng tâm linh mà tôi được nuôi dưỡng, tôi cảm thấy biết ơn sâu sắc. Không có nền tảng tâm linh nào là hoàn hảo, nhưng những gì tôi được nhận qua truyền thống Kitô giáo phong phú của chúng ta hoàn toàn vững vàng trước những thử thách của cuộc sống và đức tin. Tuy nhiên, nếu phải đưa ra một lời phê bình, thì đó sẽ là: Dù rất giàu có về mặt nội dung, linh đạo Kitô giáo không phải lúc nào cũng cho phép chúng ta thừa nhận và đối diện với sự phức tạp của chính mình. Ít nhất là trong cách thể hiện phổ biến của nó, truyền thống này không phải lúc nào cũng nhìn nhận một cách nghiêm túc việc trở thành một con người phức tạp đến nhường nào.

Đó chẳng phải là một nhiệm vụ đơn giản. Như Nicole Krauss đã viết trong cuốn tiểu thuyết The History of Love (Lịch sử của tình yêu), chúng ta sống với “mâu thuẫn không thể dung hòa khi vừa là những động vật bị nguyền rủa với khả năng tự phản ánh, vừa là những sinh vật đạo đức bị nguyền rủa với bản năng động vật.” Đúng vậy, chúng ta là những sinh vật được tạo nên từ bụi đất mang hơi thở của Thiên Chúa.

Trong sâu thẳm tâm hồn, chúng ta mang hình ảnh và sự giống nhau của Thiên Chúa, nhưng điều đó không nên được hình dung như một biểu tượng tuyệt đẹp được in hằn trong tâm hồn chúng ta. Không. Đó là lửa, ngọn lửa thần thánh. Trong mỗi chúng ta đều có một hơi thở của sự vô tận khiến chúng ta luôn bồn chồn từ trong bản ngã, mang đến những khao khát chẳng thể lấp đầy trọn vẹn trong đời này, và như tác giả Kinh Thánh Qoheleth (Sách Giảng Viên) đã nói, điều đó giữ chúng ta mãi mãi lệch nhịp với các mùa. Như Thánh Âu-tinh đã viết trong câu nói nổi tiếng: “Lạy Chúa, Chúa đã tạo dựng nên con cho Chúa, và lòng con sẽ mãi bồn chồn cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa.” Là con người, chúng ta phức tạp và bồn chồn một cách mang tính bản chất.

Và đây là những gì điều đó có thể thể hiện trong một cuộc sống đức tin.

Khi bạn đọc tác phẩm Story of a Soul (Truyện một tâm hồn) của Thánh Tê-rê-sa Hài Đồng Giêsu, bạn sẽ thấy một nghịch lý, một sự mâu thuẫn gần như rõ rệt. Một mặt, ngài thể hiện một cách tuyệt vời tinh thần từ bỏ của Kitô giáo. Ngài là một hình mẫu của sự vị tha. Thế nhưng, ngài cũng gắn bó mạnh mẽ với những điều nhất định, chẳng hạn như gia đình, và có thể rơi vào một cơn trầm cảm nhẹ nếu gia đình lỡ một chuyến ghé thăm. Tê-rê-sa là một người phụ nữ phức tạp, không phải là một vị thánh không có những giằng xé nội tâm, và sự chia sẻ chân thành của ngài về những giằng xé đó là một trong những lý do khiến các tác phẩm của ngài chạm đến trái tim mọi người một cách sâu sắc.

Điều tương tự cũng đúng với Pierre Teilhard de Chardin — nhà khoa học, nhà viết sách tâm linh và nhà huyền học nổi tiếng. Đây là cách ông tự định nghĩa về mình (qua những lời lẽ mang ý nghĩa này): “Tôi sinh ra trong cuộc đời này với hai tình yêu lớn: tình yêu Thiên Chúa và tình yêu thế gian. Khi tôi nghĩ về Thiên Chúa, điều đó khiến tôi ngợp thở; nhưng khi tôi nhìn vào thế gian và vẻ đẹp trần thế của nó, điều đó cũng làm tôi ngợp thở. Cuộc đời tôi là một cuộc vật lộn giữa việc bái quỳ trước điều linh thiêng và bái quỳ trước vẻ đẹp trần gian.”

Tôi đưa ra bối cảnh này như một cách để giới thiệu và tiến cử cuốn sách gần đây của Maria Shriver: I Am Maria – My Reflections and Poems on Heartbreak, Healing, and Finding Your Way Home (Tôi là Maria – Những suy tưởng và bài thơ của tôi về sự tan vỡ, sự chữa lành và đường tìm về nhà).

Nhiều người trong chúng ta quen thuộc với Maria Shriver với tư cách là một thành viên của dòng họ Kennedy nổi tiếng và là cựu Đệ nhất Phu nhân Bang California; nhưng cuốn hồi ký này giới thiệu bà với chúng ta theo một cách rất khác. Đây không phải là một người nổi tiếng viết hồi ký dựa trên sự nổi tiếng của mình. Đây là một cuốn sách có chiều sâu, về bản chất, là một bản Story of a Soul của thời hiện đại.

Shriver diễn đạt cuộc vật lộn của một tâm hồn nhạy cảm khi bà chia sẻ hành trình của chính mình, vừa với tư cách là một người phụ nữ của thế gian, vừa là một người phụ nữ của đức tin. Giống như Tê-rê-sa Hài Đồng Giêsu, bà có một sự buông bỏ lành mạnh, ngay cả khi vẫn bám víu vào một vài điều trong thế giới này. Giống như Teilhard de Chardin, Thiên Chúa và đức tin có thể làm bà ngợp thở, cũng giống như những an ủi trần thế trong đời này làm được điều đó. Bà nhìn nhận nghiêm túc cả thể xác lẫn tâm hồn mình và gọi tên, bằng sự chân thành, những căng thẳng mà bà phải sống cùng vì điều đó. Bà thể hiện một lòng đạo đức sâu sắc, ngay cả khi mang tinh thần phá vỡ những khuôn mẫu một cách lành mạnh. Bà gánh vác những căng thẳng này một cách trọn vẹn.

Hành trình của bà vừa mang tính hy vọng vừa mang tính thực tế cùng một lúc. Chẳng hạn, bà kết thúc bài thơ My Morning Meditation (Bài suy ngẫm buổi sáng của tôi) bằng những lời này:

Chắc chắn có những thứ khiến tôi sợ hãi, ví dụ như phải sống cô đơn suốt đời.
Nhưng nếu chuyện đó xảy ra thì cứ để vậy thôi.
Tôi sẽ tiếp tục bao quanh mình bằng những điều đẹp đẽ.
Nhờ vậy, tôi có thể tiếp cận vẻ đẹp, khía cạnh tâm linh và nữ tính trong mình.

Carl Rogers từng gợi ý rằng “những gì riêng tư nhất thường lại là những gì mang tính phổ quát nhất.” Shriver chia sẻ những vật lộn cá nhân sâu sắc mà chúng ta lập tức nhận ra đó là điều phổ quát. Và bà luôn là một nghệ sĩ trong việc chia sẻ chúng — sâu sắc và riêng tư, nhưng không bao giờ phô trương. Bà không bao giờ khiến bạn muốn ngoảnh mặt đi, đó chính là dấu ấn của một nhà văn giỏi.

Lần đầu tiên đọc Henri Nouwen, tôi có cảm giác như mình được giới thiệu với chính bản thân mình: Làm sao ông ấy lại hiểu mình rõ đến vậy? Có phải ông ấy đang viết riêng cho mình không? Nếu bạn là một người đang vật lộn với một tâm hồn nhạy cảm, bạn sẽ có cùng trải nghiệm đó khi đọc cuốn sách của Shriver.

Ai đó từng nói điều này về nữ ca sĩ quá cố Karen Carpenter: Khi nghe cô ấy hát, bạn có cảm giác như cô ấy đang hát cho riêng bạn và hát trực tiếp vào tai bạn. Cuốn sách của Maria Shriver cũng sẽ mang lại cho bạn chính cảm giác đó.

Tâm Linh Và Sự Kiên Định

Có một điều gì đó bên trong khiến chúng ta chẳng thể hài lòng với những điều bình dị. Có một điều gì đó nơi chốn bình thường khiến ta dễ nghĩ rằng những thói quen lặp lại, những nhịp sống gia đình và sự tận tụy với bổn phận có thể đè nặng, nhấn chìm và níu kéo chúng ta ra khỏi những dòng chảy tươi đẹp hơn của đam mê, lãng mạn, sáng tạo, khiêu vũ và lễ hội.

Chúng ta thường hay đố kỵ và lên án những điều bình dị. Tôi nhớ một sinh viên trẻ của mình từng chia sẻ trong lớp rằng nỗi sợ lớn nhất đời cô là đầu hàng trước những điều bình thường, “để rồi kết thúc bằng sự hài lòng khi trở thành một người nội trợ kiêm người mẹ nhỏ bé, vui vẻ làm quảng cáo bột giặt!”

Nếu bạn là một nghệ sĩ hoặc có tâm hồn nghệ sĩ, bạn rất dễ rơi vào thứ cảm xúc này. Đó là một trong những khuynh hướng của người làm nghệ thuật. Chẳng hạn, Doris Lessing từng nhận xét rằng George Eliot có lẽ đã có thể trở thành một nhà văn giỏi hơn “nếu bà không quá coi trọng đạo đức.” Điều mà Lessing muốn ám chỉ là Eliot đã giữ mình quá neo chặt vào những điều bình dị, quá an toàn, quá vững chãi và quá xa rời những bờ vực nguy hiểm.

Kathleen Norris, trong tác phẩm tiểu sử The Virgin of Bennington, đã chia sẻ về việc khi còn là một người viết trẻ, cô từng là nạn nhân của tư tưởng này như thế nào: “Tôi từng tin rằng các nghệ sĩ quá nghiêm túc để có thể sống một cuộc đời tỉnh táo và bình thường. Bị thúc đẩy bởi những thế lực không thể tránh khỏi trong một thế giới vô cảm, họ được định sẵn cho một cuộc đấu tranh không thể tránh, đôi khi chết chóc, nhưng luôn luôn cao thượng với sự u ám và diệt vong.”

Một cuộc vật lộn đầy cao cả với nỗi u sầu và tuyệt vọng! Điều đó nghe thật cuốn hút, nhất là đối với những ai trong chúng ta tự coi mình là người có tâm hồn nghệ sĩ, trí tuệ uyên bác hay thiên về đời sống tâm linh. Đó là lý do vì sao vào một ngày nào đó, bất kỳ ai trong chúng ta cũng có thể cảm thấy một sự thương hại trịch thượng đối với những người đạt được niềm hạnh phúc đơn sơ. Chúng ta nghĩ: Thật dễ dàng cho họ, nhưng họ đang tự hạ thấp giá trị của mình! Đó chính là tiếng nói của người nghệ sĩ bên trong chúng ta. Bạn sẽ chẳng bao giờ thấy một nghệ sĩ đi đóng quảng cáo bột giặt!

Xin đừng hiểu lầm tôi. Không phải tất cả những điều này đều tồi tệ. Chính Đức Giê-su cũng từng nói rằng con người sống không chỉ nhờ cơm bánh. Không một nghệ sĩ nào cần phải giải thích điều đó. Họ biết rằng những thói quen an toàn, trách nhiệm tẻ nhạt và một khoản thế chấp đã thanh toán hết chưa chắc đã tạo nên thiên đường. Chúng ta cần cơm bánh, nhưng chúng ta cũng cần vẻ đẹp, sắc màu và sự ăn mừng.

Doris Lessing, một nghệ sĩ vĩ đại, đã gia nhập đảng cộng sản khi còn trẻ nhưng sau đó đã rời bỏ khi trưởng thành hơn. Tại sao bà lại rời đi? Một câu nói đã gói gọn tất cả. Bà nói rằng mình rời bỏ đảng cộng sản “vì họ không tin vào sắc màu!”

Đức Giê-su quả quyết với chúng ta rằng cuộc sống không được thiết kế để sống theo hai màu đen và trắng, tức là đơn thuần chỉ là một chuỗi tuần hoàn vô tận của việc thức dậy, tắm rửa, đi làm, hoàn thành công việc một cách trách nhiệm, trở về nhà, ăn tối, chuẩn bị những thứ cho ngày hôm sau và rồi lại đi ngủ.

Thế nhưng, có rất nhiều điều đáng nói về nhịp điệu dường như tẻ nhạt ấy. Nhịp điệu của những điều bình dị, đến cuối cùng, lại chính là nguồn cội sâu xa nhất để chắt lọc niềm vui và ý nghĩa. Kathleen Norris, sau khi kể cho chúng ta nghe về sự cám dỗ thời trẻ là né tránh những điều bình thường để lao vào cuộc chiến cao quý hơn với sự ảm đạm và diệt vong, đã chia sẻ cách một người thầy tuyệt vời — Betty Kray — đã giúp cô thoát khỏi cái bẫy đó. Kray khuyến khích cô hãy viết ra từ niềm vui cũng như từ sự ảm đạm của mình, và hãy “từ bỏ sự lãng mạn hóa điên rồ như một trò giả tạo.” Như Norris đã diễn tả: “Bà ấy đã cố gắng hết sức để thuyết phục tôi về điều mà những người bạn từng phải điều trị tâm thần của bà biết rất rõ: rằng sự trân trọng thuần khiết, đơn sơ đối với những điều bình dị, hằng ngày là một kho báu không gì trên đời so sánh được.”

Đôi khi một người thầy khác lại dạy chúng ta bài học này. Khi chúng ta phục hồi sức khỏe và năng lượng sau khi bị bệnh, phải nghỉ làm và rời xa những thói quen, nhịp điệu sinh hoạt bình thường, không có gì ngọt ngào bằng việc được trở lại với những điều bình dị — công việc, lịch trình và những điều quen thuộc của cuộc sống thường nhật. Chỉ sau khi nó bị tước đoạt rồi được trả lại, chúng ta mới nhận ra rằng sự trân trọng đơn sơ, trong lành đối với những điều hằng ngày chính là kho báu quí giá nhất.

Dù vậy, các nghệ sĩ vẫn có một phần đúng. Những điều bình dị có thể đè nặng chúng ta, giữ chúng ta ở bên ngoài những vùng nước sâu hơn của sự sáng tạo, lãng mạn, sắc màu và sự hoang dại giúp ta cất bước nhảy múa. Tuy nhiên, khi đã thừa nhận điều đó, mỏ neo và sức nặng cũng có một chức năng tích cực. Chúng giữ cho chúng ta không bị cuốn trôi. Chúng neo giữ sự tỉnh táo của chúng ta. Chúng giữ cho chúng ta vững vàng. Nhịp điệu của những điều bình dị có lẽ là mỏ neo mạnh mẽ nhất để giữ chúng ta trong sự tỉnh táo.

Paul Simon, trong một bài hát thập niên 1970 có nhan đề An American Tune, đã hát về việc đối mặt với sự hỗn loạn, sai lầm, sự phản bội và những sự kiện làm tan vỡ sự bình yên của chúng ta. Và ông kết thúc bản khúc ca khá buồn ấy một cách vô cùng bình yên bằng những lời ca: “Nhưng ngày mai vẫn sẽ là một ngày làm việc khác, và tôi đang cố gắng nghỉ ngơi một chút. Tất cả những gì tôi đang cố gắng, chỉ là nghỉ ngơi một chút thôi.”

Sự tuân phục mệnh lệnh đó giúp neo giữ sự tỉnh táo của chúng ta. Có rất nhiều điều tuyệt vời để nói về việc trở thành một người bình thường, biết hài lòng, được neo giữ trong nhịp điệu của những điều bình dị, và cố gắng nghỉ ngơi một chút khi kết thúc một ngày làm việc mệt mỏi.

Khi Hoa Hồng Đã Nhạt Phấn Phai Hương

Có một sự khác biệt lớn giữa việc “rực rỡ đơm hoa” và việc “kết thành quả ngọt”. Hãy lấy một bông hoa làm ví dụ.

Nó bắt đầu từ một nụ hoa nhỏ bé, khó ai nhận ra, rồi dần dần nở rộ thành một bông hoa tuyệt đẹp. Khi nở rộ, nó thu hút mọi ánh nhìn. Đó là khoảnh khắc huy hoàng nhất của vẻ đẹp, của sự ngưỡng mộ và vinh quang. Thế nhưng, đây lại chưa phải là mục đích cuối cùng, cũng chẳng phải là thời điểm trưởng thành hoàn toàn của nó. Ở giai đoạn này, bông hoa chưa thực sự sinh hoa kết trái, dù sự rực rỡ ấy rất đỗi tuyệt vời và đang cống hiến cho đời một điều gì đó đặc biệt. Nó chỉ thực sự kết trái trọn vẹn về sau, khi sắc hoa đã tàn héo trong quá trình lụi tàn. Đó là lúc bông hoa phát tán hạt giống và gieo mầm cho sự sống mới.

Có một bài học cuộc đời trong hình ảnh này mà chúng ta thường vật lộn để hiểu và chấp nhận. Chúng ta thấu hiểu và đón nhận thời kỳ rực rỡ, nhưng lại chối bỏ sự tàn phai. Chúng ta thấy gần như không thể tin rằng những khoảnh khắc tràn đầy sức sống nhất của chúng ta lại đến sau khi bông hoa tàn, trong lúc bông hoa héo tàn.

Ta có thể thấy ví dụ điển hình nhất về điều này nơi Đức Giê-su. Trong thời kỳ đỉnh cao của sứ vụ, khi Ngài vô cùng nổi tiếng, làm nhiều phép lạ, thu hút đám đông hàng ngàn người và người ta chen lấn chỉ để chạm vào Ngài, sứ vụ của Ngài đang ở độ nở rộ nhất. Ngài mang lại hoa trái và đã ban sự sống cho người khác, nhưng không sâu sắc bằng khi sứ vụ của Ngài tàn lụi, khi đám đông bỏ rơi Ngài, khi Ngài bị sỉ nhục và khinh bỉ trong cuộc khổ nạn, và khi Ngài chết trong sự bất lực, bị hầu hết mọi người bỏ rơi.

Tương tự như bông hoa, chính trong cái chết của mình, Ngài đã gieo rắc những hạt giống của sự sống mới theo cách sâu sắc hơn nhiều so với khi Ngài ở thời kỳ ẩn dụ của sự “rực rỡ đơm hoa”.

Thánh Gioan Thánh Giá, một nhà thần bí nổi tiếng, đã đưa hình ảnh so sánh này vào tâm điểm trong đời sống tâm linh của mình. Ngài viết: “Trung tâm sâu thẳm nhất của một vật thể chính là điểm xa nhất mà bản thể, năng lực, hoạt động và sự chuyển động của vật thể đó có thể đạt tới.” Đối với ngài, khác với quan niệm thông thường của chúng ta, trung tâm sâu thẳm nhất không phải là điểm trinh nguyên sâu trong tâm hồn. Không phải vậy. Đối với Thánh Gioan Thánh Giá, trung tâm sâu thẳm nhất chính là đỉnh cao của sự trưởng thành tự nhiên (nhờ ơn biến đổi) mà bất kỳ ai hay bất kỳ điều gì có thể đạt tới trong đời này.

Đối với một bông hoa, như chúng ta đã thấy, đó không phải là lúc nó nở rộ, mà là khi nó trút hạt gieo mầm trong sự héo tàn. Điều tương tự cũng đúng với con người chúng ta; trung tâm sâu thẳm nhất không phải là thời kỳ rực rỡ — tức là vẻ đẹp và năng lượng của tuổi trẻ. Đúng hơn, trung tâm sâu thẳm nhất là sự trưởng thành trọn vẹn nhất mà tâm hồn chúng ta có thể đạt được trong đời này, và thường thì chúng ta chỉ chạm tới điều đó sau khi vẻ đẹp thể xác bắt đầu tàn phai. Điều này nghe có vẻ u ám, nhưng nếu nhìn theo một cách sâu sắc hơn, nó hoàn toàn ngược lại. Xin cho phép tôi đưa ra một ví dụ:

Hãy nhìn vào sự phát triển tính dục tự nhiên của con người. Trung tâm sâu thẳm nhất của nó là gì?

Trung tâm sâu thẳm nhất của tính dục không phải là thời kỳ rực rỡ — tức là giai đoạn cơ thể chúng ta quyến rũ nhất và khao khát ân ái mạnh mẽ nhất. Nó thậm chí cũng không phải là sau khi chúng ta sinh ra một sinh linh mới qua sự hòa hợp thể xác, dù đó là một sự kết trái tuyệt vời và là một trong những mục đích tối cao của Thiên Chúa và tự nhiên khi tạo dựng chúng ta thành những sinh vật có tính dục. Đó là một trung tâm sâu sắc, nhưng chưa phải là trung tâm sâu thẳm nhất của tính dục.

Con người sống một mình thì không tốt! Bản năng tình dục của chúng ta được thiết kế để đưa chúng ta vượt qua sự cô độc của chính mình. Vì vậy, tính dục thôi thúc chúng ta hướng ra bên ngoài, vượt lên trên bản thân để hướng tới sự gắn kết cộng đồng với người khác. Nhưng vượt qua sự cô độc không phải là điều dễ dàng. Chúng ta có thể rất cô đơn, ngay cả khi đang trong cuộc ân ái. Như một người đồng nghiệp đã lập gia đình từng chia sẻ với tôi: “Còn gì cô đơn hơn việc ngủ một mình? Đó là ngủ một mình ngay cả khi đang không ngủ một mình.” Ngoài ra, khi tính dục của chúng ta vẫn đang trong quá trình phát triển, bộc phát tự nhiên của nó là muốn sở hữu vẻ đẹp thay vì chiêm ngắm nó — và điều này vẫn giữ chúng ta lại trong sự cô độc.

Điều gì giúp chúng ta vượt qua sự cô độc của chính mình? Đó là khi ta đứng trước vẻ đẹp và trao cho nó ánh nhìn chiêm ngắm thuần khiết. Vào khoảnh khắc ấy, cái tôi không còn chia rẽ chúng ta khỏi sự hiệp thông với người khác, và trong khoảnh khắc đó, chúng ta không còn cô độc nữa. Chúng ta đã chạm tới trung tâm sâu thẳm nhất của mình.

Trung tâm sâu thẳm nhất của chúng ta với tư cách là một con người mang tính dục là khi chúng ta có thể nhìn một ai đó (ví dụ như một đứa trẻ hoặc một đứa cháu) và trao cho chúng ánh nhìn chiêm ngắm thuần khiết. Đó là khi chúng ta có thể nhìn vào sức sống và vẻ đẹp đang độ nở rộ để chiêm ngắm và chúc lành cho chúng, bằng cách nhìn nhận chúng như cách Thiên Chúa đã nhìn ngắm vũ trụ buổi khởi nguyên: Thật tốt đẹp! Thật là tốt đẹp! Trong ánh nhìn chiêm ngắm ấy, chúng ta chúc lành cho công trình sáng tạo theo cùng một cách mà Thiên Chúa đã chúc lành cho Đức Giê-su khi Ngài chịu phép rửa với lời tuyên bố: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Con!”

Khi ở thời kỳ rực rỡ nhất, chúng ta được người khác ngưỡng mộ; nhưng chúng ta chỉ hoàn toàn vượt qua sự cô độc khi đứng chiêm ngắm sức sống cùng vẻ đẹp của người khác cũng như của vạn vật, để rồi tự đáy lòng cất lên những lời chúc phúc.

Luyện Ngục là gì?

Hầu hết các giáo phái Kitô giáo không tin vào luyện ngục. Đây là một niềm tin đặc biệt của Giáo hội Công giáo La Mã. Và trong suy nghĩ phổ biến của người Công giáo, luyện ngục thường bị hiểu sai là một nơi tách biệt với thiên đường, một nơi mà con người được thanh tẩy và chuẩn bị cho thiên đường.

Nhưng luyện ngục không phải là một nơi tách biệt với thiên đường và địa ngục. Người Tin Lành và Tin Lành phái Phúc Âm đều đúng khi chỉ ra rằng Kinh Thánh chứng thực chỉ có hai trạng thái sau khi chết, đó là thiên đường và địa ngục. Vậy làm sao người Công giáo La Mã lại có thể đưa ra giả thuyết về một trạng thái thứ ba, đó là luyện ngục?

Bởi vì luyện ngục không phải là một vùng đất, một nơi tách biệt với thiên đường, mà là nỗi đau được thanh tẩy bởi tình yêu và nỗi đau từ bỏ ảo tưởng về sự tự túc.

Dưới đây là ví dụ cho mỗi loại.

Nhiều năm trước, tôi đã tư vấn cho một chàng trai trẻ đang trải qua một nỗi đau dữ dội mà anh ấy chưa từng trải qua trước đây. Anh ấy đã yêu một cô gái trẻ tuyệt vời và đang chuẩn bị kết hôn với cô ấy. Trước khi gặp cô ấy, anh ấy sống thiếu trách nhiệm, quan hệ tình dục bừa bãi, và trong trạng thái đó, anh ấy khá tự mãn và vô tâm. Người phụ nữ mà anh ấy yêu biết về quá khứ của anh ấy nhưng không hề nhắc lại điều đó. Ngược lại, cô ấy yêu thương và tha thứ cho anh ấy vô điều kiện.

Nhưng vấn đề nằm ở chỗ đó! Việc yêu một người tốt bụng, hào phóng và có đạo đức tuyệt vời như vậy đã giúp anh nhìn nhận bản thân một cách rõ ràng hơn. Tình yêu của cô ấy như một lăng kính giúp anh bắt đầu nhìn thấy sự non nớt của chính mình (điều mà tình yêu vô điều kiện luôn làm được). Tình yêu của cô ấy như một ánh sáng soi rọi giúp anh có cái nhìn mới và những gì anh thấy bên trong mình (sự ích kỷ, thiếu trách nhiệm, tự mãn) đã gây ra cho anh rất nhiều đau khổ. Điều đáng khen là anh đã tìm kiếm sự giúp đỡ – xưng tội, tìm kiếm sự hướng dẫn tâm linh, tư vấn tâm lý.

Tình yêu thuần khiết và vô điều kiện của cô dành cho anh đã gây ra cho anh những nỗi đau đớn tột cùng mà anh chưa từng phải chịu đựng. Đó là lần đầu tiên anh nếm trải địa ngục trần gian.

Đây là ví dụ thứ hai: Cách đây vài năm, tôi đã tham dự tang lễ của một người đàn ông qua đời ở tuổi chín mươi. Theo mọi dấu hiệu, ông ấy là một người tốt, sùng đạo, là cha của một gia đình đông con, một người được kính trọng trong cộng đồng và một người có tấm lòng rộng lượng. Tuy nhiên, ông ấy cũng là một người mạnh mẽ, tài năng, một nhà lãnh đạo bẩm sinh, một người mà mọi người thường trông cậy vào để lãnh đạo. Do đó, ông ấy nắm giữ nhiều vị trí quan trọng trong cộng đồng. Ông ấy là một người rất có năng lực.

Một trong những người con trai của ông, một linh mục Công giáo, đã giảng lễ tang cho cha mình. Ông bắt đầu bằng những lời này: Kinh Thánh dạy rằng tuổi thọ trung bình của con người là bảy mươi năm, tám mươi năm đối với người khỏe mạnh. Cha chúng tôi sống đến chín mươi năm. Tại sao lại thêm hai mươi năm nữa? Chà, điều đó không có gì bí ẩn. Ông quá khỏe mạnh và quá quán xuyến mọi việc để chết ở tuổi bảy mươi hay tám mươi. Chúa đã cần thêm hai mươi năm để làm cho ông trở nên hiền hòa hơn. Và điều đó đã có hiệu quả. Mười năm cuối đời của ông là những năm suy giảm sức khỏe nghiêm trọng. Vợ ông qua đời, và ông không bao giờ vượt qua được nỗi đau đó. Ông bị đột quỵ và phải vào viện dưỡng lão, đó là một cú sốc lớn đối với ông. Sau đó, ông trải qua những năm cuối đời với sự giúp đỡ của người khác trong việc chăm sóc các nhu cầu cơ bản về thể chất. Đối với một người như ông, điều đó thật đáng suy ngẫm. Nhưng nó đã làm cho ông trở nên hiền hòa hơn.

Trong những năm cuối đời, mỗi khi bạn đến thăm ông, ông đều nắm lấy tay bạn và nói, “Hãy giúp tôi.” Ông đã không thể nói những lời đó kể từ khi năm tuổi và có thể tự buộc dây giày. Đến lúc qua đời, ông đã sẵn sàng. Khi gặp Chúa Giêsu và Thánh Phêrô ở thế giới bên kia, tôi chắc chắn ông chỉ đơn giản là đưa tay ra và nói, “Hãy giúp tôi.”

Đó là một dụ ngôn nói sâu sắc và trực tiếp về một nơi mà tất cả chúng ta cuối cùng đều phải đến, hoặc bằng sự lựa chọn chủ động hoặc bằng sự khuất phục trước hoàn cảnh. Tất cả chúng ta cuối cùng đều phải đến một nơi mà chúng ta chấp nhận rằng mình không tự túc được, rằng chúng ta cần sự giúp đỡ, rằng chúng ta cần người khác, rằng chúng ta cần cộng đồng, rằng chúng ta cần ân điển, rằng chúng ta cần Chúa – và nỗi đau mà chúng ta trải nghiệm khi từ bỏ ảo tưởng về sự tự túc chính là nỗi đau của luyện ngục.

Luyện ngục không phải là một nơi chốn, một vùng địa lý tách biệt với thiên đường. Nó là nỗi đau, theo nghĩa bóng, khi hạt lúa mì rơi xuống đất và chết đi để rồi được sinh sôi nảy nở trở lại. Và đó là số phận của tất cả mọi người và mọi vật hữu hình, không chỉ riêng người Công giáo La Mã.

Khi chúng ta qua đời, trừ khi trái tim chúng ta đã hoàn toàn chai sạn đến mức không thể từ chối vòng tay yêu thương vô điều kiện, thì Chúa sẽ ôm lấy chúng ta – trọn vẹn, trìu mến, nồng nhiệt và vô điều kiện. Trong vòng tay ấy, chừng nào chúng ta chưa hoàn toàn trở thành thánh nhân, chúng ta sẽ, giống như hai người đàn ông mà tôi đã chia sẻ câu chuyện, trải qua một số nỗi đau thanh tẩy.

Nghịch lý thay, trong niềm hân hoan của cái ôm lại ẩn chứa nỗi đau đớn của sự thanh tẩy.

Những Điều Còn Dang Dở và Mầu Nhiệm Các Thánh Thông Công

Khi tôi còn nhỏ, trong những buổi cầu nguyện gia đình, chúng tôi thường cầu xin một cái chết an lành. Trong suy nghĩ non nớt của mình, tôi có một hình dung nhất định về điều đó. Một cái chết an lành sẽ là được chết trong ân điển, được ôm ấp trong vòng tay yêu thương của gia đình và nhà thờ, hoàn toàn bình an với Chúa và những người khác, và có thời gian để nói những lời cuối cùng bày tỏ tình yêu thương và lòng biết ơn.

Đáng tiếc là không phải ai cũng được chết theo cách đó.

Tai nạn, hoàn cảnh không may và sự phức tạp của các mối quan hệ giữa người với người đôi khi kết hợp theo những cách tai hại khiến người ta chết trong những tình huống không mấy lý tưởng: giận dữ, bị tổn thương, không tha thứ, cay đắng, thiếu chín chắn, không hòa giải.

Đôi khi, chính nguyên nhân cái chết lại nói lên một sự chia ly không mấy vui vẻ: say rượu, dùng thuốc quá liều, trầm cảm, liều lĩnh, tự tử. Cái chết thường đến trước khi người ta kịp nói và làm những điều tạo nên một lời tạm biệt thanh thản. Chắc chắn sẽ còn những việc chưa hoàn thành.

Chúng ta đều biết những ví dụ về điều này: Một người đàn ông chết trong tai nạn mà những lời cuối cùng nói với gia đình đầy giận dữ; một người phụ nữ chết vì sốc thuốc mà đã nhiều năm không nói chuyện với gia đình; một đồng nghiệp tự tử; một người bạn chết trong cay đắng, không thể tha thứ; hoặc đơn giản là người thân yêu bị cướp đi bởi một cơn đau tim đột ngột trước khi họ có cơ hội nói những lời yêu thương và tạm biệt cuối cùng. Hiếm khi có ai chết mà không còn việc gì dang dở.

Nỗi đau này có thể kéo dài rất lâu. Tôi nhớ có lần tư vấn cho một người đàn ông ngoài 50 tuổi, người vẫn còn mang trong mình nỗi đau và mặc cảm tội lỗi từ cái chết của mẹ mình hơn 40 năm trước. Ông được đưa đến bên giường bệnh của mẹ trong bệnh viện; nhưng không hề biết rằng bà đang hấp hối. Bà đã yêu cầu ông ôm bà và ông, một đứa trẻ, sợ hãi và rụt rè trong tình huống căng thẳng đó, đã lùi lại. Ngày hôm sau bà qua đời, vì vậy ký ức cuối cùng của ông về mẹ là việc ông từ chối ôm bà. 40 năm sau và ông vẫn chưa thể nguôi ngoai nỗi đau đó.

Nhiều người trong chúng ta đã từng mất đi những người thân yêu mà ta còn dang dở, những tổn thương chưa được hàn gắn, những bất công chưa được sửa chữa, những cay đắng không bao giờ nguôi ngoai. Cái chết đã chia lìa chúng ta, và những chuyện dang dở vẫn cứ dang dở, khiến ta chỉ còn biết nói: “Giá như có thêm một cơ hội nữa!”

Nhưng vẫn còn một cơ hội khác. Một trong những giáo lý Kitô giáo an ủi nhất (mặc dù bị lãng quên) là niềm tin vào sự hiệp thông của các thánh. Đó là một giáo lý được ghi trong chính Kinh Tin Kính của các Tông đồ và nó yêu cầu chúng ta tin rằng chúng ta vẫn đang có sự giao tiếp mật thiết với những người đã qua đời. Hơn nữa, nó cho chúng ta biết rằng sự giao tiếp mà chúng ta hiện có với họ không còn bị ảnh hưởng bởi nhiều căng thẳng đã từng chi phối mối quan hệ của chúng ta với họ khi họ còn sống.

Do đó, tin vào sự hiệp thông của các thánh có nghĩa là tin rằng chúng ta vẫn có thể giải quyết những vấn đề còn dang dở trong các mối quan hệ của mình, ngay cả sau khi chết. Nói một cách đơn giản, chúng ta vẫn có thể trò chuyện với những người đã khuất, và ngay cả bây giờ, chúng ta vẫn có thể nói những lời yêu thương, tha thứ, biết ơn và hối tiếc mà lẽ ra nên được nói ra sớm hơn. Thật vậy, trong sự hiệp thông của các thánh, sự hòa giải mà chúng ta đã không thể đạt được khi người đó còn sống giờ đây có thể dễ dàng diễn ra hơn. Tại sao?

Bởi vì trong sự hiệp thông của các Thánh, sự giao tiếp của chúng ta với người đã khuất được đặc ân. Cái chết thanh tẩy. Nó làm sáng tỏ quan điểm và loại bỏ nhiều căng thẳng trong các mối quan hệ. Tại sao tôi lại nói vậy? Bởi vì cả đức tin và kinh nghiệm đều dạy chúng ta điều này.

Ví dụ, tất cả chúng ta đều từng trải qua những tình huống mà trong gia đình, nhóm bạn bè, cộng đồng hoặc nhóm đồng nghiệp, mâu thuẫn gay gắt với một cá nhân nào đó nảy sinh và âm ỉ đến mức cuối cùng dẫn đến rạn nứt không thể hàn gắn. Những chuyện đã xảy ra không thể sửa chữa được nữa. Rồi người gây ra căng thẳng qua đời và cái chết của họ thay đổi mọi thứ. Một cách kỳ lạ, cái chết mang đến sự bình yên, sự sáng suốt và sự thấu hiểu mà trước đó không thể có được.

Tại sao lại như vậy? Không chỉ đơn giản vì cái chết đã thay đổi bầu không khí trong nhóm, hay vì, như chúng ta có thể kết luận một cách đơn giản, nguồn gốc của sự căng thẳng hoặc cay đắng đã biến mất. Điều này xảy ra bởi vì, như Lu-ca dạy trong câu chuyện về cuộc khổ nạn của Chúa Giê-su, cái chết có thể gột rửa mọi thứ và ban sự tha thứ, giống như cách Chúa Giê-su đã tha thứ cho tên trộm tốt lành trên thập tự giá khi Ngài qua đời.

Đây hẳn là một niềm an ủi vô cùng lớn. Nếu chúng ta chú tâm đến sự hiệp thông của các Thánh, những gì chúng ta không thể đạt được sự trọn vẹn và bình an trong cuộc sống này có thể được hoàn thành sau đó. Chúng ta vẫn có sự giao tiếp, sự giao tiếp đặc biệt, với những người thân yêu của mình sau khi chết.

Một trong những điều kỳ diệu đó là chúng ta vẫn còn cơ hội để sửa chữa những điều mà sau khi người thân yêu qua đời, những điều mà chúng ta không thể làm được trước khi cái chết cướp đi người thân yêu.

Những Con Tim Đôi Khi Quá Keo Kiệt

John Muir từng hỏi: “Tại sao người Kitô giáo lại ngần ngại cho phép động vật vào thiên đường keo kiệt của họ?”

Điều tương tự cũng có thể nói về chúng ta, những hội thánh: tại sao đôi khi chúng ta lại ngần ngại chào đón người khác vào lòng thương xót của Chúa và đến bàn tiệc thánh của chúng ta?

Chúng ta chắc chắn không thể lấy Chúa Giê-su làm hình mẫu trong việc này. Nhìn vào các sách Phúc Âm, không hề có ghi chép nào cho thấy Chúa Giê-su đặt ra điều kiện đạo đức hay tôn giáo nào để được ngồi ăn cùng Ngài.

Hình mẫu của chúng ta chính là những môn đệ tốt bụng của Chúa Giê-su, những người, giống như chúng ta, đã cố gắng bảo vệ Chúa Giê-su bằng cách che chở Ngài khỏi nhiều nhóm người khác nhau, kể cả trẻ nhỏ. Nhưng trong hoàn cảnh đó, chúng ta luôn nghe thấy Chúa Giê-su nói rõ ràng: Hãy để họ đến với Ta! Chẳng có gì lạ khi Ngài sai các môn đệ đi để gặp người phụ nữ Sa-ma-ri đã lấy chồng năm lần.

Điều tôi sắp đề xuất là một rủi ro, bởi vì, phải thừa nhận rằng, vấn đề hiệp thông phức tạp hơn nhiều so với việc chỉ đơn giản nói rằng Chúa Giê-su chào đón tất cả mọi người (mặc dù chúng ta có thể không bao giờ phủ nhận điều đó).

Về vấn đề hiệp thông giữa các giáo phái: Có sự đồng thuận rộng rãi về mặt thần học rằng phép rửa tội cho phép bạn tham dự bàn tiệc thánh. Là các giáo phái Kitô giáo, chúng ta công nhận tính hợp lệ của phép rửa tội của nhau. Vậy tại sao bất kỳ người Kitô hữu nào cũng không thể đến bất kỳ nhà thờ Kitô giáo nào và được chào đón tại bàn tiệc thánh?

Bởi vì mỗi giáo phái là một gia đình riêng – và thông thường các gia đình sẽ ăn cơm cùng nhau. Thông thường, bạn sẽ đến nhà thờ thuộc giáo phái của mình để dự lễ rước Thánh Thể. Nhưng đây là vấn đề mục vụ chứ không phải vấn đề thần học.

Tuy nhiên, đôi khi chúng ta vẫn ăn ở nhà và bàn ăn của người khác. Hầu hết các học thuyết thần học chính thống về Bí tích Thánh Thể đều dựa trên sự phân biệt này và phân biệt giữa việc hiệp thông “ thỉnh thoảng” (tang lễ, đám cưới, các buổi nhóm họp tôn giáo) và việc hiệp thông “thường xuyên” . Việc hiệp thông “thỉnh thoảng” thì hợp lý về mặt mục vụ, còn việc hiệp thông “thường xuyên” thì không. Bạn chỉ ăn thường xuyên ở bàn ăn của người khác nếu bạn là thành viên của gia đình hoặc hộ gia đình đó.

Xuất phát từ mối quan tâm mục vụ đó, các nhà thờ đã có những quy tắc khác nhau, từ sự chào đón rộng rãi đến sự loại trừ nghiêm ngặt, tùy thuộc vào cách mà giới lãnh đạo đánh giá tình hình. Ví dụ, trong Giáo hội Công giáo La Mã, suốt những năm 1960 và 1970, người Công giáo La Mã nói chung chào đón những người khác tham dự Thánh lễ trong những dịp đặc biệt. Sau đó, trong những năm 1980 và 1990, ngày càng nhiều người chủ trì Thánh lễ trong những dịp đó được yêu cầu không công khai mời những người từ các nhà thờ khác tham dự Thánh lễ. Hơn nữa, sau năm 2000, những người chủ trì Thánh lễ được yêu cầu công khai không mời những người từ các nhà thờ khác tham dự Thánh lễ. Gần đây hơn, đã có sự chuyển dịch ngày càng tăng trở lại lập trường chào đón hơn.

Có thể nói gì về sự thay đổi qua lại này? Thứ nhất, đây là vấn đề mục vụ hơn là thần học, và về mặt mục vụ, có thể tranh luận một cách chính đáng theo nhiều cách khác nhau. Điểm chung là mọi người đều mong muốn các Giáo hội Kitô giáo khác nhau một ngày nào đó sẽ trở thành một gia đình duy nhất với một bàn tiệc thánh cho tất cả. Sự bất đồng nằm ở cách thức để đạt được điều đó.

Một số người tin và lập luận rằng việc phải “kiêng” hiệp thông giữa các giáo phái sẽ khiến chúng ta khao khát hơn nữa việc trở thành một Giáo hội và sẽ thúc đẩy chúng ta tích cực hơn trong công tác đại kết. Những người khác lại không đồng ý và lập luận rằng việc cởi mở hơn trong việc hiệp thông giữa các giáo phái sẽ thúc đẩy chúng ta tích cực hơn trong công tác đại kết. Ai đúng?

Cả hai lập luận đều có lý lẽ riêng, nhưng tôi thú nhận rằng tôi nghiêng về nhóm thứ hai hơn. Theo kinh nghiệm của tôi, việc loại trừ nhau khỏi bàn tiệc Thánh Thể thường làm sâu sắc thêm chứ không làm dịu đi sự chia rẽ giữa chúng ta, cũng giống như việc chào đón nhau tại bàn tiệc Thánh Thể thường làm giảm bớt những nghi ngờ lẫn nhau mà chúng ta đã nuôi dưỡng trong suốt năm trăm năm qua kể từ cuộc Cải cách.

Tôi cũng không đồng ý với quan điểm cho rằng bất kỳ một giáo hội nào (trong trường hợp của tôi là Giáo hội Công giáo La Mã) là biểu hiện duy nhất hoàn toàn chân chính của Giáo hội, và các giáo phái khác bằng cách nào đó thiếu đi sự môn đệ chân chính, do đó chúng ta sẽ làm giảm giá trị Bí tích Thánh Thể và sự hiện diện thực sự của Chúa Kitô bằng cách cho phép những người không phải là tín hữu Công giáo La Mã được rước lễ tại bàn tiệc Thánh của chúng ta.

Ở đây, giống như những môn đệ tốt bụng nhưng lầm lạc của Chúa Giê-su, chúng ta đang cố gắng bảo vệ Chúa Giê-su khỏi những người mà chúng ta cảm thấy chưa sẵn sàng cho cuộc gặp gỡ và sự thân mật này với Ngài. Chúng ta cần nhớ rằng Chúa Giê-su luôn đáp lại điều này bằng những lời: ” Hãy để họ đến với Ta!” Chúa Giê-su không cần và cũng không muốn sự bảo vệ của chúng ta.

Hơn nữa, tình yêu thương, lòng thương xót và sự bao dung của Thiên Chúa mà Chúa Giê-su đã thể hiện và rao giảng, hoàn toàn trái ngược với sự keo kiệt. Tình yêu ấy rộng lớn, mời gọi và bao trùm tất cả mọi người. Thiên Chúa không thiên vị ai, ngoại trừ việc mỗi người trong chúng ta đều là người được Thiên Chúa yêu thương đặc biệt. Thiên Chúa không phải là một vị thần riêng tư hay thuộc về một bộ lạc nào, bị sở hữu và kiểm soát bởi bất kỳ một tín ngưỡng, tôn giáo, giáo phái hay Giáo hội nào.

Điều này không có nghĩa là tất cả các tín ngưỡng, tôn giáo và Giáo hội đều bình đẳng và tất cả các ranh giới ngăn cách chúng nên được xóa bỏ. Không. Nhưng điều đó có nghĩa là chúng ta không nên quá ngần ngại đón nhận những người khác vào sự hiểu biết hạn hẹp của chúng ta về vòng tay yêu thương phổ quát của Chúa Giê-su.

Sự Ngây Thơ của Con Tim

Bóng tối chỉ trở nên xấu xa khi có ánh sáng. Tội lỗi chỉ có thể xảy ra nếu trước đó đã có tình yêu.

Thần học gia Karl Rahner đưa ra một nhận xét rất sâu sắc về đoạn văn trong Phúc Âm, nơi Chúa Giê-su bị đóng đinh và nói về những kẻ hành hình Ngài: “ Xin Cha tha thứ cho họ, vì họ không biết mình đang làm gì!”

Rahner cho rằng họ biết chính xác mình đang làm gì. Họ biết mình đang giết một người vô tội, rằng họ đang đổ máu người vô tội. Vậy tại sao Chúa Giê-su lại nói như vậy?

Sự ngây thơ của họ là gì? Sự cả tin của họ là gì?

Câu trả lời của Rahner: Họ không biết mình đang làm gì vì họ không biết mình được yêu thương nhiều đến mức nào. Và điều đó có thể dẫn đến sự ngây thơ trong tâm hồn. Tại sao vậy?

Có một nơi sâu thẳm bên trong mỗi chúng ta, một nơi mà chúng ta hiếm khi ý thức được, nơi mỗi người được Chúa yêu thương vô điều kiện. Những người đóng đinh Chúa Giê-su không biết mình đang làm gì vì họ không nhận thức được điều đó. Đó là sự mù quáng, sự thiếu hiểu biết của họ. Mặc dù bề ngoài có vẻ như vậy, nhưng họ không biết mình đang làm gì.

Điều này cũng đúng với chúng ta. Quá thường xuyên chúng ta đóng đinh người khác và chính mình vì sự thiếu hiểu biết này: chúng ta không biết mình được yêu thương nhiều đến mức nào . Hậu quả là, đôi khi chúng ta tàn nhẫn trong phán xét và dễ làm những điều làm tổn hại đến phẩm giá của mình. Chúng ta đấu tranh để không trở thành một trong những kẻ hành quyết trên thập tự giá bởi vì, cuối cùng, chúng ta hành động vì thiếu hiểu biết. Chúng ta không biết gì hơn, giống như sự ngây thơ của đứa trẻ tự làm tổn thương mình vì thiếu hiểu biết.

Nhưng đây không phải là một nhận định mới.

Thần học cổ điển đã phân biệt giữa sự ngu dốt có lỗi và sự ngu dốt không có lỗi . Loại thứ hai, còn được gọi là sự ngu dốt không thể khắc phục , được xem là biện minh cho việc người ta không phạm tội và không chịu trách nhiệm. Do đó, có quan điểm cho rằng bạn có thể làm những việc sai trái nhưng không phạm tội vì bạn hành động trong sự ngu dốt. Điều này dựa trên niềm tin rằng bạn chỉ có thể hành động một cách đạo đức và có trách nhiệm nếu bạn thực sự biết mình đang làm gì. Để phạm tội, bạn phải hành động một cách “có chủ ý”. Tuy nhiên, đó là một điều kiện khá phức tạp.

Tuy nhiên, nhìn vào thế giới ngày nay, tôi dám khẳng định rằng trong một số vấn đề đạo đức quan trọng, chúng ta đang hành động trong sự ngu dốt không thể cứu vãn. Nói một cách đơn giản, chúng ta không biết điều gì tốt hơn. Chỉ có kiểu ngu dốt đã cho phép những người chân thành đóng đinh Chúa Giê-su mới có thể giải thích tại sao chúng ta, những người tốt và chân thành, lại có thể mù quáng đến vậy, cả về mặt cộng đồng và cá nhân, đối với người nghèo, đối với những đòi hỏi về kinh tế và xã hội mà đức tin của chúng ta đặt ra. Lý do thực sự khiến chúng ta có thể sống thoải mái trong khi khoảng cách giữa người giàu và người nghèo ngày càng nới rộng không phải vì chúng ta xấu xa và vô lương tâm, mà đúng hơn, như Rahner nói, chúng ta không biết mình được yêu thương đến mức nào.

Điều tương tự cũng đúng với thái độ của chúng ta đối với tình dục. Chúng ta đã có thể coi thường tình dục, tách rời nó khỏi sự thiêng liêng của hôn nhân, và biến nó thành một phần mở rộng của việc hẹn hò (hoặc đơn giản là tình dục giải trí) chỉ vì một sự thiếu hiểu biết cố hữu nào đó. Chúng ta không biết điều gì tốt hơn, không phải vì chúng ta thiếu lương tâm, mà vì chúng ta thiếu bất kỳ cảm nhận thực sự nào về tình yêu sâu sắc của Chúa và phẩm giá mà nó ban cho chúng ta.

Giống như những kẻ hành quyết Chúa Giê-su, chúng ta có khả năng đáng kinh ngạc trong việc hợp lý hóa, coi nhẹ và bù đắp chính vì chúng ta không biết mình đang làm gì. Chúng ta không có nhận thức rõ ràng về tình yêu thương của Chúa dành cho mình. Do đó, rất dễ đánh mất cái nhìn khách quan, cảm thấy bị loại trừ và làm những điều mà chúng ta sẽ không bao giờ làm nếu nhận thức đầy đủ hơn về phẩm giá của mình.

Chẳng có gì lạ khi chúng ta chấp nhận những điều kém cỏi hoặc bất cứ thứ gì hứa hẹn sự thoải mái và an toàn. Chắc chắn Chúa Giê-su đang nhìn chúng ta và nói: “ Xin Cha tha thứ cho họ, vì họ không biết mình đang làm gì!”

Nhưng liệu điều đó có đúng không? Chúng ta có thể thực sự viện cớ thiếu hiểu biết và vô tội để nói rằng mình không biết gì hơn được không?

Tôi nói có, không phải vì chúng ta ngu ngốc hay thiếu thông minh. Đây là sự ngây thơ trong tâm hồn . Chúng ta vô tình không nhận thức được tình yêu thương vô bờ bến của Chúa dành cho chúng ta.

Rất ít người trong chúng ta, ở bất kỳ cấp độ hiện sinh nào, từng nghe Chúa nói với mình: “Ta yêu con!” Rất ít người trong chúng ta từng nghe và cảm nhận được những gì Chúa Giê-su hẳn đã cảm nhận khi chịu phép báp-têm, khi Ngài nghe Cha mình phán: “Con là con yêu dấu của Ta; Ta vui mừng vì con! ” Thật vậy, rất ít người trong chúng ta từng nghe một người khác, từ tâm hồn đến tâm hồn, nói với mình: “ Ta yêu con vô điều kiện! Ta vui mừng vì con !” Vậy thì có gì đáng ngạc nhiên khi, giống như những kẻ hành hình Chúa Giê-su, chúng ta có khả năng đáng kinh ngạc, với lương tâm trong sáng, đôi khi lại mù quáng và không trung thực với chính mình?

Bóng tối chỉ trở nên xấu xa khi có ánh sáng. Tội lỗi chỉ có thể xảy ra nếu trước đó đã có tình yêu. Sự phản bội chỉ có thể xảy ra nếu trước đó người ta đã nghe những lời: “Tôi yêu bạn”. Những kẻ hành hình Chúa Giê-su đã hành động trong bóng tối xuất phát từ việc chưa bao giờ nghe thấy điều đó. Tôi cho rằng điều tương tự cũng đúng với nhiều người trong chúng ta.

CÁNH CỬA HẸP

Một linh mục mà tôi quen biết đã chia sẻ câu chuyện này. Gần đây, trong khóa tĩnh tâm của các linh mục, vị hướng dẫn đã bắt đầu bài thuyết trình khai mạc của mình bằng những lời này: “Chúng ta cứ mặc định coi là hầu hết mọi người đều sẽ phải xuống địa ngục.” Sau đó, ông cố gắng chứng minh cho khẳng định này bằng cách trích dẫn lời Chúa Giêsu: “Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong, và nhiều người đi qua đó. Nhưng cửa thì hẹp và đường thì chật dẫn đến sự sống, và ít kẻ tìm được lối vào.” (Mát-thêu 7, 13-14)

Nhìn bề ngoài, điều này thực sự dường như chỉ ra rằng hầu hết mọi người không đi con đường dẫn đến thiên đàng mà đang đi con đường dẫn đến địa ngục.

Có phải phần lớn chúng ta đều sẽ phải xuống địa ngục? Đó có phải là điều được ngụ ý ở đây không? Không! Đó không phải là điều đang được giảng dạy. Lời dạy này của Chúa Giêsu cần phải được phân tích và mổ xẻ đôi chút.

Đầu tiên, khi Chúa Giêsu nói: “Nhưng cửa thì hẹp và đường thì chật dẫn đến sự sống, và ít kẻ tìm được lối vào”, Ngài không nói nhiều về việc lên thiên đàng hay xuống địa ngục, mà là đang nói về cuộc sống của chúng ta, ngay tại đây và ngay lúc này.

Thật vậy, tất cả chúng ta đều có thể đồng cảm với lời Ngài nói rằng cánh cửa dẫn đến sự sống thì hẹp và ít ai tìm được. Bằng cách nào? Chỉ cần tự hỏi chính mình: Trong suốt cuộc đời, có bao nhiêu lần chúng ta có được một khoảnh khắc – chưa nói đến một giai đoạn dài – mà ta hoàn toàn không bị trầm cảm, không hối tiếc, không bồn chồn vô cớ, không ghen tị, không thất vọng, và không có cảm giác mình đang bỏ lỡ điều gì đó trong đời? Thay vào đó là một cảm nhận sâu sắc trong tâm hồn rằng ta đã chạm đến ý nghĩa sâu xa nhất của cuộc sống, đã tìm thấy bí mật ẩn giấu bấy lâu, và không còn điều gì để phải bon chen, khao khát nữa?

Đôi khi chúng ta có những khoảnh khắc như vậy khi đã bước qua cánh cửa hẹp dẫn đến sự sống, dẫu cho phần lớn thời gian chúng ta vẫn đang chật vật để tới được nơi đó.

Chúng ta có thể trải nghiệm điều này khi nhìn vào cuộc sống của người khác. Không phải với thái độ phán xét, nhưng theo cách mà đã bao nhiêu lần chúng ta nhìn vào cuộc sống của một ai đó ở chiều sâu tâm hồn và thốt lên: Anh ấy đã tìm thấy nó rồi! Cô ấy đã đạt đến nơi đó! Đó mới là một cuộc sống trọn vẹn! Chúng ta rất hiếm khi nói điều này về một ai đó.

Hơn nữa, chính xác thì cánh cửa đó là gì và tại sao nó lại hẹp?

Nói một cách đơn giản, cánh cửa dẫn đến sự sống, dẫn đến niềm hạnh phúc sâu sắc và trọn vẹn nhất của tất cả chúng ta, chính là lời mời gọi mà Chúa Giêsu đưa ra trong Bài Giảng Trên Núi. (Mát-thêu 5-7). Đối với Chúa Giêsu, đây là những điều làm nên sự viên mãn của cuộc sống, cụ thể là: có tinh thần nghèo khó; chạm được vào những tổn thương của thế giới và của chính mình; hiền lành; khao khát sự công chính; xót thương người; có tâm hồn trong sạch; biết xây dựng hòa bình; chịu đau khổ vì lẽ phải; và đặc biệt là yêu thương những kẻ ghét mình.

Đó chính là cánh cửa hẹp dẫn đến sự sống, và chúng ta phải chật vật để bước qua nó vì hầu như mọi thứ trong thế giới của chúng ta đều chống lại điều này. Thế giới bảo chúng ta rằng tốt nhất là nên giàu có, rằng sự hiền lành và thấu cảm là biểu hiện của sự yếu đuối, và chúng ta có thể đường hoàng ghét bỏ những kẻ ghét mình. Bản năng tự nhiên của chúng ta cũng đồng tình với điều đó. Cả thế giới và bản năng tự nhiên đều mời gọi chúng ta hướng đến một cánh cửa rộng lớn, nơi chúng ta có thể rủa sả những kẻ rủa sả mình một cách hợp lý và có thể xử tử những kẻ giết người.

Bài Giảng Trên Núi đề xuất một cánh cửa hẹp, và nó trở nên đặc biệt hẹp ở đoạn cuối của Bài Giảng, khi Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy có lòng trắc ẩn như Cha trên trời là Đấng trắc ẩn, và Ngài giải thích rõ điều đó có nghĩa là gì.

Lòng trắc ẩn của Thiên Chúa, không giống như bản năng tự nhiên của chúng ta, hướng đến kẻ xấu cũng như người tốt một cách công bằng, giống như ánh mặt trời chiếu sáng không phân biệt cỏ dại hay rau màu. Thiên Chúa yêu thương những người tội lỗi và những người đức hạnh như nhau.

Vào chúng ta cũng phải làm như vậy. Chúa Giêsu nói, đức hạnh của chúng ta phải đi sâu hơn bản năng tự nhiên – nơi mà một cách rất tự nhiên, chúng ta yêu kẻ yêu mình, ghét kẻ ghét mình, rủa sả kẻ rủa sả mình, và từ chối tha thứ cho kẻ đã sát hại người thân yêu của mình.

Cánh cửa hẹp dẫn đến sự sống trọn vẹn chính là cánh cửa của lòng trắc ẩn bao la; nghĩa là, chúng ta bước qua cánh cửa dẫn đến sự viên mãn của cuộc đời khi chúng ta yêu thương những kẻ ghét mình, chúc phúc cho những kẻ rủa sả mình, và tha thứ cho những kẻ sát hại mình.

Đáng buồn thay, phần lớn những gì bên trong chúng ta và bên trong thế giới này đều phản kháng lại cánh cửa hẹp đó.

Tuy nhiên, khi Chúa Giêsu nói: “Nhưng cửa thì hẹp và đường thì chật dẫn đến sự sống, và ít kẻ tìm được lối vào”, Ngài không có ý nói rằng hầu hết chúng ta sẽ phải xuống địa ngục và chỉ một số ít được lên thiên đàng. Thay vào đó, Ngài đang nói về cuộc sống của chúng ta ngay lúc này, và một cách sắc sảo, Ngài chỉ ra điều gì cuối cùng sẽ mang lại hạnh phúc và sự sống trọn vẹn ở thế gian này – cụ thể là sống theo Bài Giảng Trên Núi, đặc biệt là phần mời gọi chúng ta yêu kẻ ghét mình, chúc phúc cho kẻ rủa sả mình, và tha thứ cho kẻ sát hại mình.

Đó là cánh cửa mà chúng ta vẫn đang phải trầy trật để bước qua.

NGÀY CỦA CHA

Điều gì làm nên một người cha?

Năm mươi sáu năm trước, cha tôi qua đời vào một đêm cuối tháng Chạp muộn màng. Tôi nhớ rõ cái chết của ông bao nhiêu, thì cũng nhớ cái lạnh cắt da cắt thịt của đêm đó bấy nhiêu. Chỉ trong vòng một ngày, nhiệt độ đã giảm sâu xuống dưới âm 40 độ F (khoảng âm 40 độ C).

Khi ấy tôi còn trẻ; quá trẻ (tôi đã nghĩ vậy vào thời điểm đó) để phải mất cha. Sau này, tôi mới nhận ra mình đã nhầm. Chẳng có ai là quá trẻ để mất cha cả, dù rằng việc mất đi người cha trước khi những điều nhất định được trao đi và nhận lại có thể để lại những vết sẹo trong lòng.

Gia đình chúng tôi, những người ở lại, đã đủ may mắn. Chúng tôi đã có nhiều thời gian chuẩn bị cho sự ra đi của ông. Ông qua đời sau một năm trời chiến đấu với căn bệnh ung thư, và ông ra đi với đức tin, sự bao dung cùng khiếu hài hước vẫn còn vẹn nguyên; ông cũng đã kịp để lại lời chúc phúc cho chúng tôi. Hơn thế nữa, ông ra đi mà không một chút oán hận, luôn biết ơn và chúc phúc cho cuộc đời. Có những cách chết tồi tệ hơn thế, và có những cách mất cha đau đớn hơn thế rất nhiều. Trong các giờ kinh gia đình, chúng tôi vẫn luôn cầu xin ơn chết lành. Vài tháng sau khi ông mất, khi thời tiết đã ấm áp hơn, tôi nhận ra rằng ông đã ra đi thực sự bình an và hạnh phúc.

Nhưng những lời hồi tưởng này vào Ngày của Cha, sau hơn năm mươi năm kể từ cái ngày lạnh giá năm ấy, không nhằm mục đích làm một bài điếu văn (điều mà ông hẳn sẽ thấy không thoải mái), cũng không phải một bài giảng về việc thế nào là một cái chết bình an. Nó được viết ra như một sự chiêm nghiệm về điều gì làm nên một người cha, một người bố, và cách chúng ta được kết nối, được định hình, và đôi khi là bị biến dạng bởi một hình bóng như vậy.

Cha là ai? Một người cha có nhiệm vụ gì, vượt lên trên việc đơn thuần là một người bạn đời sinh học đưa chúng ta đến với thế giới này? Sự chăm sóc hay bỏ bê, tình yêu thương hay sự thờ ơ của người cha ảnh hưởng đến chúng ta như thế nào?

Các trường phái tâm lý học và nhân học khác nhau chỉ ra rằng cha và mẹ có những vai trò rất khác nhau trong việc hình thành nhân cách của bạn. Người mẹ là mối liên kết cộng sinh của bạn với sự sống, và chính từ mẹ, chứ không phải từ cha, bạn nhận được cảm giác được yêu thương, được chở che, được ôm ấp và trân trọng. Trong số tất cả các loài động vật có vú, chính người mẹ liếm sạch đứa con mới chào đời, giải thoát nó khỏi bất cứ thứ gì bó buộc khi sinh ra. Người mẹ, sau khi sinh, mở ra cơ thể bạn để đón nhận sự sống. Chính mẹ là người mang nặng đẻ đau, rồi ôm ấp và nuôi dưỡng đứa trẻ. Không có một đứa trẻ hay người trưởng thành nào ở một mức độ nhận thức nào đó lại quên được điều này, và cảm giác chúng ta có được yêu thương hay không gắn liền rất nhiều với người mẹ.

Nhưng chính người cha mới là người cho đứa trẻ cả “sự cho phép” để tận hưởng cuộc sống lẫn “thử thách” để rèn luyện kỷ luật. Người cha phải là người làm gương cho đứa trẻ – đặc biệt là qua cách chính ông sống – về sự kết hợp đúng đắn giữa hưởng thụ và khước từ. Chính từ cha, nhiều hơn từ mẹ, đứa trẻ học được sự kết hợp giữa buông thả và kiểm soát, giữa việc phục tùng các rào cản và sự tự do để bước đi trên con đường của riêng mình.

Và nhiệm vụ này là then chốt trong việc đưa chúng ta bước vào thế giới trưởng thành, giúp dẫn dắt chúng ta vượt qua giai đoạn làm một cậu bé hay cô bé, để trở thành một người lớn, một người đàn ông hay một người phụ nữ. Một người cha phải làm điều này, trước hết, bằng cách cho chúng ta thấy trong chính cuộc đời ông cách mà năng lượng yêu thương và năng lượng đối đầu để bảo vệ hình thành một sự hòa hợp; để những năng lượng hỗn loạn bên trong chúng ta được kiềm chế, tập trung, hòa quyện và mở ra một cách sáng tạo để phụng sự Thiên Chúa và tha nhân. Người cha phải chỉ ra cách sự tận hưởng và tính sáng tạo hòa quyện với sự quên mình cần thiết, và cách năng lượng yêu thương cùng năng lượng chiến đấu để bảo vệ cộng đồng (đặc biệt là những thành viên yếu thế nhất) có thể đồng hành cùng nhau chứ không phải là kẻ thù của nhau. Một người cha phải dạy chúng ta cách để vừa là một người tình (biết yêu thương), vừa là một chiến binh (biết chiến đấu).

Cha của tôi, cũng bất toàn như mọi người cha là con người khác, không phải lúc nào cũng tìm thấy, hay tỏa ra được sự cân bằng hoàn hảo giữa tận hưởng và kỷ luật, giữa người tình và chiến binh, giữa vui thú và sự quên mình. Là một trong những người con trai của ông, tôi do đó cũng không phải lúc nào cũng biết cách đi trên sợi dây thừng căng thẳng đó, và đôi khi cuộc sống của tôi có sự hỗn độn giữa lười biếng và làm việc quá sức, giữa tình yêu và sự tức giận, giữa nuông chiều bản thân và sự hành xác. Đôi khi tôi có thể bảo vệ cộng đồng, nhưng đôi khi tôi thậm chí chẳng thể bảo vệ nổi chính mình.

Tuy nhiên, phần lớn thời gian tôi vẫn giữ được sự vững vàng của cha, vượt lên trên những chao đảo đó. Tôi đã có một người bố tốt. Ông đã vừa yêu thương, vừa chiến đấu, dù đôi khi ông quá khắt khe với bản thân và đôi khi ông hoàn toàn tận hưởng cuộc sống của mình.

Đã hơn năm mươi năm trôi qua kể từ ngày nhiệt độ âm 40 độ khi ông mất, và đôi khi tâm hồn tôi vẫn cảm thấy cái lạnh của ngày hôm đó; khi ấy, tôi lại biến thành một cậu bé, một người chưa trưởng thành, cô độc, chờ đợi cha dẫn dắt mình vào thế giới của người lớn, vẫn chưa chắc chắn về cách dung hòa giữa tận hưởng và kỷ luật.

Nhưng, khi tôi tìm kiếm cha mình, tìm kiếm linh hồn của ông, không phải giữa nắm xương tàn của tổ tiên, mà là trong sự thông công của các thánh, tôi thấy ông vẫn đang bước đi trên sợi dây thừng tinh tế mà ông đã đi trong đời. Và linh hồn ông đang dõi theo, chìa tay ra để giúp tôi trong cuộc chiến đấu giữa yêu thương và đối đầu, giữa tận hưởng và khước từ; và khi ấy, tôi cảm thấy mình vững vàng hơn một chút trong tư cách của một người trưởng thành.

Ngôn từ của chúng ta về vấn đề tự tử

Tôi nhìn chung luôn cố gắng nhạy bén trong việc sử dụng những ngôn từ chuẩn mực về mặt chính trị (politically correct language), mặc dù đôi khi điều đó có thể gây bực bội vì những phản ứng thái quá từ một số người quá dễ bị tổn thương. Nói một cách đơn giản, ai đó đều có thể chạnh lòng trước hầu như bất kỳ từ ngữ nào. Tuy nhiên, dẫu đôi lúc chúng ta có bực mình với những người quá nhạy cảm, chúng ta vẫn phải thừa nhận rằng trong quá khứ, chúng ta đã quá bất cẩn và nhẫn tâm khi gọi tên các sự vật, hiện tượng. Vốn từ vựng của chúng ta thường xuyên gây tổn thương cho chính những người đang đau khổ nhất. Chúng ta đã có quá nhiều thuật ngữ mang tính miệt thị và hạ thấp những người khác biệt với mình, hoặc những người phải chịu đựng các khuyết tật khác nhau.

Với tâm thế đó, tôi muốn đưa ra một gợi ý về cách chúng ta nói về việc tự tử. Cụm từ phổ biến mà người ta hay dùng là ai đó đã “phạm” tội tự tử. Động từ “phạm” (commit – thường dùng cho tội ác, sai lầm) này cần phải bị xóa bỏ khỏi từ vựng của chúng ta khi bàn về tự tử.

Rất ít người qua đời vì tự tử lại đi “phạm” tội tự tử. Nói một cách chính xác hơn, họ “bị khuất phục” trước nó, giống như cách một người gục ngã trước bệnh ung thư, một cơn đột quỵ hay một trận đau tim. Mười lăm năm trước, tôi được chẩn đoán mắc bệnh ung thư. Tôi không hề “phạm” phải bệnh ung thư; nó đã áp đảo hệ thống miễn dịch của tôi ngoài ý muốn của tôi. Đối với đột quỵ hay đau tim cũng vậy. Bạn không “phạm” phải một cơn đột quỵ hay đau tim. Chúng áp đảo sức đề kháng tự nhiên của bạn.

Về mặt thể chất, chúng ta có một hệ miễn dịch giống như lực lượng cảnh sát tuần tra, liên tục canh giữ sức khỏe của ta, tìm kiếm vi khuẩn, virus cùng các tế bào ác tính để tiêu diệt chúng trước khi chúng kịp bén rễ, nhân lên, tàn phá sức khỏe và gây ra cái chết. Nhưng như chúng ta đã biết, đôi khi vì đủ loại lý do, một khối u ác tính có thể áp đảo hệ miễn dịch, khiến sức khỏe của chúng ta suy sụp và chúng ta qua đời vì hàng rào bảo vệ tự nhiên chống lại bệnh tật đã bị khuất phục bởi vi khuẩn, virus, sự suy kiệt của một cơ quan nội tạng quan trọng, hoặc một vài tế bào ung thư. Chúng ta chết không phải do lựa chọn, mà do bị số phận cưỡng bách. Chúng ta không “phạm” phải một căn bệnh.

Điều tương tự cũng hoàn toàn đúng đối với sức khỏe tinh thần. Về mặt tâm lý, chúng ta cũng có một hệ miễn dịch tinh thần giống như cảnh sát tuần tra, canh giữ sức khỏe tâm lý và cảm xúc của mình. Nhưng, cũng giống như sức khỏe thể chất, đôi khi một yếu tố hoặc sự kết hợp của nhiều yếu tố (di truyền, tổn thương tâm lý, trầm cảm lâm sàng, hoàn cảnh sống bi kịch) có thể áp đảo hệ miễn dịch tâm lý và cảm xúc đó, khiến chúng ta phải đầu hàng trước một căn bệnh (ập đến ngoài ý muốn và không hề được chào đón) mang tên: tự tử.

Tôi mạo muội cho rằng điều này đúng với hầu hết những người qua đời vì tự tử. Tất nhiên vẫn có những ngoại lệ, dù đó chỉ là ngoại lệ chứ không phải lẽ thường. Một người thực sự có thể “phạm” tội tự tử khi họ không phải đang đầu hàng trong yếu đuối trước một căn bệnh, mà là đang dùng chút sức tàn để đưa ra một lựa chọn chủ động. Do đó, chúng ta có thể đưa ra một sự phân biệt giữa cái gọi là “tự sát” (giết chết chính mình) với “đầu hàng trước sự tự tử”.

Một người có thể tự kết liễu đời mình vì sự mạnh mẽ, kiêu ngạo và ngạo mạn: Tôi quá kiêu hãnh và đặc biệt để có thể chia sẻ cuộc sống này với những kẻ còn lại các người! Cuộc đời đã không tôn trọng sự đặc biệt của tôi. Tôi thà chết còn hơn tiếp tục sống trong thế giới này! Đó là sự khác biệt giữa cái chết tự tử kiểu Hitler với cái chết của một linh hồn quá đỗi nhạy cảm, người đã quá bầm dập và tổn thương đến mức không thể tiếp tục chiến đấu cho sự sống được nữa. Kẻ trước chọn tự tử vì sự ngạo nghễ; người sau chết vì sự yếu nhược. (Mặc dù, để công bằng, chúng ta thậm chí còn không thể phán xét Hitler. Ai biết được những mầm bệnh ác tính nào đã áp đảo hệ miễn dịch tinh thần của ông ta?)

Nói như vậy để thấy, xin cho phép tôi được nhắc lại một số sự thật cốt lõi đối với vấn đề tự tử – những điều cần phải được nói đi, nói lại và nói lại một lần nữa, cho đến khi chúng ta không cần phải nói về chúng nữa.

Trong hầu hết các trường hợp tự tử:

Chúng ta đang đối diện với một con người rất nhạy cảm hoặc bị tổn thương sâu sắc, một người đã quá đau đớn đến mức không thể chạm vào, hoặc quá kiệt quệ để có thể phản hồi lại bất kỳ sự giang tay giúp đỡ nào của chúng ta.

Người chết vì tự tử ra đi trái với ý muốn của chính họ.

Cách họ chết cũng giống như việc một người phải lao mình ra khỏi cửa sổ của một tòa nhà cao tầng vì quần áo trên người họ đang bốc cháy.

Cách họ chết tương đương với một căn bệnh ung thư cảm xúc, một cơn đột quỵ hoặc một trận đau tim tinh thần.

Trong nhiều trường hợp, chứng trầm cảm dẫn đến tự tử có nguồn gốc từ các yếu tố sinh hóa.

Tự tử không phải là một hành động tuyệt vọng. Người ta không chủ động lựa chọn từ bỏ hy vọng, mà chính tổn thương và bệnh tật đã bóp nghẹt hy vọng của họ.

Tự tử không phải là một hành động ích kỷ, dù vẻ ngoài của nó có vẻ như vậy.

Chúng ta không cần phải lo lắng về sự cứu rỗi linh hồn vĩnh cửu của những người chết vì tự tử. Sự thấu cảm và bao dung của Thiên Chúa sâu sắc hơn chúng ta tưởng tượng vô cùng tận.

Khi những người chúng ta biết và yêu thương qua đời vì tự tử, một trong những nhiệm vụ của chúng ta là cứu rỗi ký ức về họ, để món quà mà cuộc đời họ mang lại cho thế giới không bị bôi nhọ và xóa nhòa chỉ vì giờ đây chúng ta nhìn nhận toàn bộ cuộc sống của họ qua lăng kính của cách mà họ đã ra đi.

Qua đời vì một trận đau tim, vì ung thư hay đột quỵ có thể là điều đau buồn và bi thảm, nhưng không có gì là tủi hổ. Chết vì tự tử cũng vậy. Đó là điều đau buồn và bi thảm, nhưng không hề đáng xấu hổ. Thậm chí, đó có thể là cái chết âm thầm, khiêm nhường và ít hào nhoáng nhất trong số mọi cái chết, và vì thế, nó xứng đáng nhận được một sự thấu cảm và thấu hiểu đặc biệt.

Khi nói về tự tử, vốn từ vựng của chúng ta cần phải phản ánh được sự thấu cảm đặc biệt đó, và để làm được điều đó, chúng ta cần phải loại bỏ cụm từ: “ai đó phạm tội tự tử”.

Hành trình gian nan để chạm đến sự chân thật

Chúng ta thực sự là ai? Chúng ta là ai khi linh hồn bị lột trần: rũ bỏ cái tôi, rũ bỏ hình tượng tự huyễn hoặc về bản thân, rũ bỏ những lời tâng bốc, những xu hướng thời thượng và các hệ tư tưởng mà ta vô tình hấp thụ rồi để chúng định hình tư duy của mình; rũ bỏ cả những tổn thương quá khứ lẫn những vỏ bọc vô thức mà ta vẫn thường trưng ra hàng ngày?

Khi nào thì chúng ta thực sự chân thật?

Theo cách hiểu phổ biến, từ “sincere” (chân thật) trong tiếng Anh bắt nguồn từ hai từ Latinh: Sine (nghĩa là “không có”) và Cera (nghĩa là “sáp”). Trở nên chân thật (sincere) chính là “không có lớp sáp bọc ngoài” – nghĩa là sống đúng với con người thật của mình bên dưới tất cả những tầng lớp của cái tôi, hình tượng cá nhân, hệ tư tưởng, tổn thương và những vỏ bọc vô thức đang bủa vây. Việc sống chân thật chẳng dễ dàng gì, bởi tâm trí và trái tim con người là một mê lộ vô cùng phức tạp. Thật khó để đào sâu qua tất cả những lớp bọc đó nhằm chạm vào bản ngã đích thực của chính mình.

Vậy thì, khi nào chúng ta chân thật? Tôi xin chia sẻ hai câu chuyện để trả lời cho câu hỏi này.

Câu chuyện thứ nhất đến từ Ruth Burrows, một trong những tác giả thần học huyền bí sâu sắc của thời hiện đại. Bà kể lại câu chuyện về một ngày nọ, khi tất cả các lớp sáp bọc ngoài bị lột sạch và bà thấy linh hồn mình hoàn toàn trần trụi.

Bà lớn lên ở Anh, cả bà và gia đình đều không đặc biệt sùng đạo. Cha mẹ gửi bà vào một ngôi trường tư thục nữ sinh do các nữ tu điều hành, không phải vì lý do tôn giáo mà vì chất lượng giáo dục ở đó vượt trội so với các trường công lập địa phương.

Bà trải qua những năm tháng trung học tại đó mà chưa bao giờ thực sự nhập tâm vào đức tin của mình. Sau đó, để chuẩn bị cho lễ tốt nghiệp, các nữ tu đã đưa các học sinh đến một trung tâm tĩnh tâm để tham gia một khóa bồi dưỡng tinh thần. Ruth và một người bạn cùng lớp không hề nghiêm túc chút nào; họ cứ khúc khích cười, cười thầm và chuyền tay nhau những mảnh giấy ghi chú trong suốt các buổi trò chuyện của vị linh mục hướng dẫn. Thế là, đến một lúc, các nữ tu đã tách Ruth và bạn của bà ra khỏi nhóm. Trong lúc các bạn cùng lớp đang nghe giảng, Ruth và cô bạn phải ngồi im lặng trong nhà nguyện suốt nhiều giờ đồng hồ, dưới ánh mắt giám sát của một nữ tu. Ban đầu, Ruth thú nhận rằng bà và bạn mình vẫn cố tình chống đối sự nghiêm túc; họ vẫn khúc khích và nháy mắt với nhau.

Nhưng những giờ đồng hồ đó dài đằng đẵng! Và trong một khoảng lặng kéo dài đặc biệt, bà đã trải qua một khoảnh khắc của hồng ân, của sự thông suốt, của sự chân thật và của một linh hồn trần trụi. Ngay khoảnh khắc ấy, bà nhìn thấy con người thật của mình – một cô gái trẻ nông nổi, suy nghĩ chưa chín chắn, bị cuốn vào cái tôi và những lời phù phiếm, nhưng ẩn sâu dưới tất cả những điều đó lại là một con người tốt đẹp, giàu lòng nhân ái và được Thiên Chúa yêu thương nồng ấm. Chỉ một khoảnh khắc thông suốt duy nhất đó đã thay đổi hoàn toàn cuộc đời bà.

Khoảnh khắc hồng ân này đến với Ruth Burrows một cách tự nhiên như thể không hề báo trước, dù chắc chắn rằng những tầng sâu thẳm trong tâm trí và trái tim bà đã âm thầm mời gọi cuộc ghé thăm thiêng liêng ấy.

Câu chuyện thứ hai của tôi mang tính đời thường hơn, nhưng chính vì thế mà nó vô cùng mạnh mẽ. Cách đây vài năm, tôi có một người bạn thân, mới 54 tuổi, đang hấp hối vì căn bệnh ung thư. Khi anh vào trại tế bần, tôi mang đến cho anh cuốn sách Truyện một tâm hồn của Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu (Thérèse miền Lisieux). Vài ngày sau, khi chúng tôi trò chuyện qua điện thoại, anh chia sẻ thế này: “Cảm ơn ông vì cuốn sách của Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, đó là thứ duy nhất tôi còn đọc được lúc này. Khi người ta cận kề cái chết, nó gạt bỏ mọi điều nhảm nhí, giả tạo. Ông sẽ biết cái gì là thực và cái gì là hư vô.” Quá trình đối diện với cái chết chính là khoảnh khắc huyền bí của anh; nó đưa anh về với sự chân thật.

Vậy, làm thế nào để chúng ta đến được nơi đó? Làm thế nào để chúng ta xuyên qua tất cả những rào cản đang che lấp sự chân thật, che lấp sự trần trụi của linh hồn?

Chúng ta cần phải tỉnh thức mang điều đó vào lời cầu nguyện hàng ngày. Thật vậy, trong nửa sau của cuộc đời, cuộc đấu tranh cơ bản nhất trong lời cầu nguyện của chúng ta chính là cố gắng đưa bản thân về trạng thái trần trụi của linh hồn, để đứng trước Thiên Chúa và chính mình mà “không có lớp sáp bọc ngoài”. Chúng ta cần mang cuộc đấu tranh này đến với Thượng Đế. Đây chính là cốt lõi của lời cầu nguyện chiêm niệm, của sự chiêm niệm.

Thomas Merton từng nói: “Trước mặt Thượng Đế, chỉ một chút chân thật thôi cũng có thể đi một chặng đường rất, rất dài.” Chúng ta có thể tìm thấy niềm an ủi khi biết rằng Thượng Đế thấu hiểu cuộc đấu tranh này gian nan biết bao, và phần lớn thời gian, chúng ta ít nhất cũng giữ được một chút chân thật. Và chúng ta có thể chạm vào sự chân thật của mình thông qua một ý nguyện – một ý nguyện vượt lên trên sự giằng xé của những cảm xúc nhất thời.

Dưới đây là một ví dụ từ Thomas Merton về cách bày tỏ ý nguyện đó trong lời cầu nguyện:
“Lạy Chúa là Thiên Chúa của con, con tin rằng ước muốn làm đẹp lòng Ngài, trên thực tế, đã làm đẹp lòng Ngài rồi. Và con hy vọng rằng con sẽ không bao giờ làm bất cứ điều gì tách rời khỏi ước muốn đó. Con biết rằng nếu con làm như vậy, Ngài sẽ dẫn con đi trên con đường ngay thẳng, dẫu cho con có thể chẳng biết gì về con đường ấy.”

Tuy nhiên, khi chúng ta chạm đến sự chân thật và sự trần trụi của linh hồn, kết quả mang lại có thể sẽ khiến chúng ta ngạc nhiên. Như Merton đã viết: “Đừng ai hy vọng tìm thấy trong sự chiêm niệm một lối thoát khỏi xung đột, khỏi nỗi thống khổ, hay khỏi sự hoài nghi.” Ngược lại, niềm xác tín sâu sắc của trải nghiệm chiêm niệm sẽ đánh thức một nỗi đau thương cay đắng và mở ra nhiều câu hỏi trong sâu thẳm trái tim, tựa như những vết thương không thể ngừng rỉ máu.

Nhưng hãy luôn nhớ rằng: “Trước mặt Thượng Đế, chỉ một chút chân thật thôi cũng có thể đi một chặng đường rất, rất dài.”

Mời gọi nhau hướng về những bản ngã tốt đẹp

Tôi lớn lên ở một vùng nông thôn, nơi hầu hết mọi người đều là người nhập cư thế hệ thứ nhất hoặc thế hệ thứ hai. Phần lớn chúng tôi đều sống ngay sát vạch nghèo, vừa chật vật về kinh tế, vừa trầy trật để nói tiếng Anh cho đúng chuẩn. Chúng tôi cũng gặp khó khăn trong việc tiếp cận giáo dục đại học, một phần vì nhiều bạn bè cùng lứa với tôi phải nghỉ học sau lớp tám để phụ giúp gia đình, phần khác vì khái niệm “học đại học” khi ấy chưa hề nằm trong tư duy của hầu hết các gia đình.

Nhưng trong cộng đồng của chúng tôi, có một gia đình ngoại lệ. Họ có cuộc sống kinh tế dư dả, nhiều người trong số họ đã học lên đại học và hiện là những chuyên gia trong các lĩnh vực khác nhau. Họ là một gia đình có đặc quyền.

Thế nhưng, họ cư xử với đặc quyền đó rất chuẩn mực. Không hề có sự hợm hĩnh, khoe khoang hay tỏ vẻ bề trên. Ngược lại là đằng khác. Họ dùng những thế mạnh của mình để cố gắng giúp đỡ cộng đồng. Một trong những người con trai của họ đã trở thành giáo viên và giảng dạy tại một trường học địa phương, và trong nhiều năm liền, cứ mỗi mùa đông, gia đình họ lại dựng một sân băng chơi môn curling (bi đá trên băng) cho cả cộng đồng. Họ vừa được ngưỡng mộ, vừa được kính trọng.

Một ngày nọ, một trong những người con trai của gia đình này đang ngồi cùng một nhóm thanh niên. Họ đang cùng uống bia, tán gẫu và trêu đùa nhau một cách vui vẻ, thì anh con trai của gia đình danh giá kia bỗng đưa ra một lời nhận xét phân biệt chủng tộc một cách trắng trợn. Một bầu không khí im lặng đến ngượng ngùng bao trùm. Thế rồi, một người đàn ông trong nhóm, bằng một giọng rất nhẹ nhàng, đã nói với anh ta rằng:

“Cậu biết không, tôi rất ngạc nhiên khi thấy cậu nói một điều như thế. Gia đình cậu rất tử tế và có học thức. Tất cả chúng tôi đều ngưỡng mộ các bạn. Lời nói này nghe không giống cậu chút nào.”

Phản ứng của anh chàng kia diễn ra ngay lập tức và đầy hối lỗi: “Anh nói đúng. Tôi xin lỗi. Tôi cũng không hiểu sao mình lại nói những điều như vậy nữa. Thật là ngốc nghếch.”

Tôi có thể hình dung ra một phản ứng hoàn toàn khác nếu anh ta bị chỉ trích bằng những lời lẽ gay gắt kiểu như: “Đồ phân biệt chủng tộc! Sao anh có thể nói ra một điều như thế được hả!”

Khi chúng ta chất vấn nhau bằng những lời lẽ nặng nề, kết quả thường chỉ làm cho đối phương thêm phòng thủ và khư khư giữ chặt quan điểm của mình. Khi bị mắng nhiếc, khiển trách và làm cho xấu hổ, con người ta dễ có xu hướng cố chấp hơn là bị thuyết phục. Điều đó cũng chỉ làm tăng thêm sự căng thẳng và khoảng cách giữa đôi bên, thay vì mời gọi chúng ta hướng về những điều tốt đẹp và cao cả nhất trong bản thân mình.

Chúng ta cần phải mời gọi và thúc đẩy nhau hướng tới những điều tốt đẹp hơn, cao thượng hơn ở sâu thẳm bên trong mỗi người.

Vậy điều tốt đẹp và cao thượng hơn đó là gì?

Một số nhà văn Kitô giáo thời kỳ đầu (các Giáo phụ) từng gợi ý rằng mỗi chúng ta đều sở hữu một tính cách và một trái tim kép. Họ cho rằng, bên trong mỗi người luôn có một trái tim lớn lao, rộng lượng, cao thượng và vị tha. Nhưng đồng thời, ẩn sâu trong ta cũng có một trái tim tổn thương, nhỏ nhen và ích kỷ; và ở bất kỳ thời điểm nào, chúng ta cũng có thể đang hành xử dựa trên một trong hai trái tim đó. Chúng ta có thể rất rộng lượng, nhưng cũng có thể rất hẹp hòi, và điều này có thể thay đổi chỉ từ giờ này sang giờ khác, tùy thuộc vào những gì chúng ta gặp phải trong cuộc sống.

  • Một ví dụ thế này: Hãy tưởng tượng bạn thức dậy vào một buổi sáng với cảm giác vị tha và cao thượng tràn ngập trong lòng. Vào khoảnh khắc đó, bạn có tâm trí và trái tim của Chúa Giêsu. Trong trạng thái tinh thần thánh thiện ấy, bạn đi làm và ở đó, có một ai đó cư xử lạnh lùng, mỉa mai với bạn. Chỉ trong vòng một phút, mọi thứ có thể đảo lộn hoàn toàn; bạn không còn giữ được tâm trí và trái tim của Chúa Giêsu, hay những gì tốt đẹp nhất trong mình nữa. Trái tim nhỏ nhen, đầy tổn thương trong bạn đã lấn át trái tim bao dung; sự ấm áp và thấu hiểu biến mất, thay vào đó bạn cảm thấy lạnh lùng và cay đắng.
  • Bây giờ hãy tưởng tượng điều ngược lại: Bạn thức dậy vào một buổi sáng với cảm giác hoang mang, thấy mình bị hiểu lầm và đang gặm nhấm những tổn thương cũ. Vào khoảnh khắc đó, bạn không có tâm trí và trái tim của Chúa Giêsu, bạn cũng chẳng thể kết nối với những điều tốt đẹp, cao cả hơn trong suy nghĩ của chính mình. Bạn mang cái tâm thế u ám đó đi làm, và rồi thật bất ngờ, một người đồng nghiệp chào đón bạn một cách nồng nhiệt, chia sẻ rằng cô ấy trân trọng công việc và tình bạn của bạn đến nhường nào. Chỉ trong một phút, phần tâm trí cao thượng trong bạn đã chiến thắng sự nhỏ nhen, và tất cả những gì tốt đẹp, rộng lượng nhất trong bạn trỗi dậy. Bạn muốn trở thành một người tốt hơn. Bạn lật ngược trạng thái từ cay đắng sang nhã nhặn chỉ trong vòng một phút.

Chúng ta đang sống trong một thế giới phân cực ngày nay, nơi có quá nhiều vấn đề chia rẽ chúng ta một cách cay đắng. Chúng không hướng chúng ta đến sự cao thượng và tốt đẹp, mà lại khơi dậy những tổn thương, sự hoang mang và tâm lý phòng thủ. Chúng ta cần một tông giọng mới trong các cuộc đối thoại của mình — một tông giọng của sự mời gọi và tôn trọng; một tông giọng biết công nhận sự cao thượng và rộng lượng ở đối phương, để từ đó thúc đẩy họ sống đúng với bản ngã tốt đẹp nhất của chính họ.

Thay vì nhục mạ và tấn công nhau bằng những khẩu hiệu, chúng ta cần nói với nhau rằng: “Cậu biết không, tôi rất ngạc nhiên khi thấy cậu nói một điều như thế. Cậu vốn rất tử tế mà! Tất cả chúng tôi đều ngưỡng mộ cậu. Lời nói này nghe không giống cậu chút nào.” Lời mời gọi kiểu đó có thể giúp làm tan chảy phần nào sự lạnh giá vốn dĩ vẫn luôn bủa vây trái tim con người vì đủ mọi lý do trong cuộc sống.

Xét Lại Động Cơ Của Chúng Ta

Nhân vật chính trong vở kịch Murder in the Cathedral của T.S. Eliot là Thomas a Beckett – một giám mục, người theo mọi vẻ bề ngoài đều là một vị thánh. Ông cực kỳ trung thực, rộng lượng đến mức hy sinh, và là người bảo vệ đức tin đã chịu chết vì đạo. Tuy nhiên, vào một thời điểm nào đó trước khi tử đạo, ông nhận ra rằng có thể mình chưa phân biệt rõ giữa cám dỗ và ân sủng.
Nhiều người trong chúng ta quen thuộc với lời diễn tả nổi tiếng của ông:
Cám dỗ cuối cùng là sự phản bội lớn nhất:

Làm điều đúng vì lý do sai…
Vì những ai phục vụ cho đại nghĩa
Có thể biến đại nghĩa thành công cụ cho chính mình.

Vậy đâu là cám dỗ có thể dễ bị nhầm lẫn với ân sủng?

Nói đơn giản, chúng ta có thể đang làm rất nhiều việc tốt – nhưng với động cơ sai. Hơn nữa, điều này có thể rất tinh vi, đặc biệt nơi những người phục vụ cho “đại nghĩa,” bởi như T.S. Eliot nhấn mạnh, chúng ta rất dễ biến đại nghĩa ấy thành phương tiện phục vụ chính mình.

Làm thế nào chúng ta lại có thể khiến đại nghĩa phục vụ mình? Làm sao lại có thể làm điều tốt nhưng vì lý do sai?

Ví dụ: Tôi có thể đang làm rất nhiều điều tốt – giúp đỡ người khác, phục vụ mục đích của Thiên Chúa nơi trần gian. Tôi có thể quảng đại đến mức chấp nhận hy sinh như một vị tử đạo. Nhưng nếu lý do chính tôi làm tất cả những điều đó là vì chúng khiến tôi được ngưỡng mộ, cảm thấy đạo đức và chính trực, được khen ngợi, để lại một cái tên tốt đẹp sau này – thì sao?

Những câu hỏi ấy đi sâu vào ranh giới giữa cám dỗ và ân sủng. Tôi có thể làm điều đúng đắn, và dù không phải vì lý do xấu, tôi vẫn chủ yếu đang làm cho bản thân mình. Tôi có thể đang khiến đại nghĩa phục vụ tôi nhiều hơn là tôi phục vụ đại nghĩa.

Cha Dòng Tên quá cố Michael J. Buckley – một trong những người hướng dẫn tâm linh quan trọng trong đời tôi – từng thúc giục chúng ta phải can đảm xét mình một cách đau đớn: Tôi làm điều này để phục vụ Thiên Chúa và tha nhân – hay đang làm để mình cảm thấy và trông có vẻ tốt đẹp?

Trong quyển sách Bạn Tìm Gì Thế? – Những Câu Hỏi của Đức Giêsu Như Một Thách Đố và Lời Hứa, Buckley viết:

“Bằng hàng ngàn cách khác nhau, những người phục vụ cho đại nghĩa có thể khiến đại nghĩa ấy quay lại phục vụ họ. Điều này có thể vô cùng tinh tế. Đôi khi chỉ một sự lệch nhẹ ở bước khởi đầu của một hành động hay một đời sống cũng có thể dẫn đến một chuyển hướng sâu sắc nhưng không được nhận ra: lòng nhiệt thành che giấu một tham vọng ngấm ngầm nhưng tàn nhẫn. Tham vọng ấy được giấu kỹ vì ban đầu nó có vẻ giống với lòng nhiệt thành – dù thật ra hai điều này hoàn toàn đối lập. Khao khát đạt được một điều gì đó có thể trộn lẫn giữa giá trị nội tại của một dự án với hào quang phản chiếu từ thành quả đạt được.”

Là một linh mục đã phục vụ hơn 50 năm, tôi thấy đây là một lăng kính đầy thách thức để nhìn lại chính mình và hành trình mục vụ ấy. Tôi đã phục vụ cho đại nghĩa bao nhiêu – và tôi đã, trong vô thức, biến nó phục vụ cho chính mình bao nhiêu? Ai là người “được lợi” hơn: Thiên Chúa và Hội Thánh – hay tôi và danh tiếng của mình?

Tất nhiên, động cơ là điều rất khó nhận diện, và trong cuộc đời này, động cơ hiếm khi nào hoàn toàn thuần khiết. Ta là một hỗn hợp phức tạp của nhiều động lực – có cái phục vụ người khác, có cái phục vụ chính mình – và như Buckley nhấn mạnh, ban đầu chúng trông rất giống nhau. Hơn nữa, có những lời dạy của Đức Giêsu dường như cho thấy rằng đôi khi việc làm đúng điều còn quan trọng hơn động cơ rõ ràng đằng sau nó.

Chẳng hạn, Đức Giêsu nói: “Không phải những ai thưa với Thầy: ‘Lạy Chúa! Lạy Chúa!’ là được vào Nước Trời, nhưng chỉ những ai thi hành ý muốn của Cha Thầy” (Mt 7,21). Và trong bài học về việc phán xét cuối cùng, Đức Giêsu dạy rằng chúng ta sẽ bị xét xử dựa trên cách ta đối xử với người nghèo – “Điều gì các con làm cho một trong những người bé mọn nhất này, là làm cho chính Ta” (Mt 25). Điều đáng chú ý là cả nhóm được thưởng lẫn bị phạt đều không ý thức rõ việc mình làm. Họ được xét xử hoàn toàn dựa trên hành động.

Vậy, liệu ta có thể đang làm điều đúng với lý do sai? Và nếu đúng là ta làm như vậy – vì muốn được ngưỡng mộ, được kính trọng, được tiếng tốt hay cảm thấy tự hào – thì điều đó có nghiêm trọng không? Nó có làm giảm hoặc phá hủy giá trị của điều tốt ta đang làm? Khao khát được công nhận, có danh tiếng tốt và cảm thấy dễ chịu về bản thân – có thật sự đối nghịch với lòng vị tha? Hay cả hai có thể đồng hành? Thiên Chúa đánh giá ta nhiều hơn dựa vào động cơ – hay dựa vào hành động?

Tôi đang phục vụ cho đại nghĩa – hay đang khiến đại nghĩa phục vụ mình?
Đó là một câu hỏi sống còn để tự xét mình.

Tại sao? Vì chúng ta rất dễ mù quáng trước sự giả hình của chính mình – cũng như rất dễ khắt khe quá mức với bản thân.

Đức Giêsu – Kiểm Lại Cảm Xúc Của Chúng Ta

Có một cảnh cảm động trong loạt phim The Chosen mà bất kể phản ứng của ta thế nào, cũng mời gọi ta suy gẫm sâu xa.

Cảnh phim như sau: Trước khi chữa lành mẹ vợ của Phêrô khỏi cơn sốt, Đức Giêsu có một cuộc trò chuyện riêng với vợ của Phêrô. Người bắt đầu bằng cách nói rằng Người biết họ là một đôi vợ chồng rất gần gũi và yêu thương nhau, rồi bày tỏ sự cảm thông với cô vì việc Người kêu gọi Phêrô đã thực chất rút anh ra khỏi mái ấm gia đình. Sau đó, với giọng nhẹ nhàng, Người hỏi cô cảm thấy thế nào về điều này. Câu trả lời của cô bảo đảm với Người rằng – dù có đau đớn – cô (như chồng mình) sẵn sàng hy sinh.

Cảnh này, ngoài những khía cạnh khác, cho thấy một thực tế rằng khi một người (như Phêrô) từ bỏ mọi sự để theo Chúa Giêsu, thì người đó không phải là người duy nhất trả giá. Những người thân yêu quanh họ cũng phải hy sinh. Các bà vợ của các tông đồ đã đánh đổi điều gì khi Đức Giêsu kêu gọi chồng họ?

Hơn nữa, tình tiết này (dù là hư cấu trong phim) cũng giúp chúng ta hiểu rõ hơn rằng Đức Giêsu không vô cảm trước những “cuộc đóng đinh tình cảm” mà đôi khi chúng ta phải chịu để đáp lại tiếng gọi của Người. Cảnh này là một bảo đảm rằng Đức Giêsu thấu hiểu – và ban cho chúng ta một “giấy phép thiêng liêng” – để không phải cảm thấy tội lỗi vì những đau đớn tình cảm ta trải qua.

Chắc chắn sẽ có nhiều người nghi ngờ giá trị của cảnh phim này vì nó không có cơ sở lịch sử rõ ràng. Chúng ta không biết liệu Đức Giêsu có thực sự từng có cuộc trò chuyện như thế với vợ Phêrô hay với vợ của bất kỳ tông đồ nào không.
Nhưng câu hỏi ở đây không phải là cảnh đó có đúng sự thật lịch sử hay không. Điều quan trọng là: Đức Giêsu chắc chắn không phải là người vô tâm hay thờ ơ trước nỗi đau của những người bị các tông đồ rời bỏ để theo Người.

Thông thường, chúng ta tránh đặt câu hỏi này vì quá thường xuyên hiểu một cách quá đen trắng các lời dạy của Chúa Giêsu về việc phải từ bỏ cha mẹ, vợ con để theo Người. Chẳng hạn, có lúc Đức Giêsu nói: “Ai đến với tôi mà không từ bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi.” (Lc 14,25-27). Một đoạn khác còn nghe có vẻ lạnh lùng hơn: “Người bảo một người khác: ‘Hãy theo tôi.’ Người ấy thưa: ‘Thưa Thầy, xin cho phép con về chôn cha trước đã.’ Nhưng Đức Giêsu đáp: ‘Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ; còn anh, hãy đi loan báo Nước Thiên Chúa.’ Người khác lại nói: ‘Thưa Thầy, con xin theo Thầy, nhưng xin cho phép con từ biệt gia đình trước đã.’ Đức Giêsu trả lời: ‘Ai đã tra tay vào cày mà còn ngoái lại đằng sau, thì không xứng đáng với Nước Thiên Chúa.’” (Lc 9,60-62)

Rất dễ hiểu sai những lời này nếu ta tiếp cận chúng theo nghĩa đen. Hình ảnh mà Đức Giêsu dùng thật mạnh mẽ, dứt khoát, và tưởng chừng như vô cảm. Nhưng đây chỉ là hình ảnh – không phải những chỉ dẫn tâm linh được hiểu một cách cứng nhắc. Những lựa chọn cảm xúc đau đớn mà ta phải đưa ra để trung thành với Tin Mừng quả thật có thể được gọi là đóng đinh tình cảm. Khi chọn Đức Giêsu, ta cũng chọn thập giá – và nơi đó có cái chết thật sự, có nỗi đau thật sự, mà không thể làm nhẹ đi bằng lời lẽ.

Tuy nhiên – và điều này rất quan trọng – những chọn lựa để từ bỏ chính mình và sống hy sinh không được thực hiện ở mức độ tâm lý hay cảm xúc. Chúng được quyết định ở mức sâu hơn – ở bình diện luân lý – nơi có một tiếng nói sâu thẳm hơn cả cảm xúc hay suy nghĩ chi phối. Chính vì thế, khi Đức Giêsu nói “ai không từ bỏ gia đình mình thì không thể theo Thầy,” Người đang hướng về cốt lõi luân lý trong ta – nơi ta chọn giữa đúng và sai, giữa ý nghĩa và sự trống rỗng. Người không lên án cảm xúc. Người cũng không kêu gọi chúng ta sống trong một sự dửng dưng cảm xúc phi nhân.

Khi kêu gọi chúng ta từ bỏ mọi sự để làm môn đệ, Đức Giêsu không hề làm ngơ trước nỗi đau tâm lý và tình cảm mà điều đó gây ra. Khi mời gọi ta vác thập giá và bước theo Người, Đức Giêsu biết rằng đó là một cuộc đóng đinh cảm xúc. Nhưng trong khi trao cho ta lời mời gọi ấy, Người cũng đồng thời cho phép chúng ta được cảm nhận nỗi đau ấy mà không thấy tội lỗi vì điều đó. Người không kêu gọi một thứ “khổ hạnh cảm xúc” lạnh lẽo và phi nhân – một thái độ mà trong đó, vì yêu Chúa, ta không được phép cảm thấy đau buồn vì mất đi những mối quan hệ thân thiết hay tự do quý giá.

Giống như Đức Giêsu trong phim The Chosen, nhẹ nhàng hỏi vợ Phêrô xem cảm xúc của cô thế nào khi Người yêu cầu gia đình họ hy sinh, Đức Giêsu cũng hỏi từng người chúng ta: Con sẵn sàng từ bỏ, nhưng trái tim con đang cảm thấy gì?
Người mời gọi ta bước vào con đường từ bỏ chính mình – và cùng lúc đó, Người cúi xuống, nhân từ hỏi:

“Cảm xúc của con lúc này ra sao?”