RonRolheiser,OMI

Và Bức Màn Đền Thờ Đã Xé Ra Làm Đôi Từ Trên Xuống Dưới

A A A

Có rất nhiều dòng chữ đầy ám ảnh trong các bài tường thuật về cuộc thương khó. Có tâm hồn nào mà không lay động khi bài thương khó được đọc vang lên trong nhà thờ, và chúng ta đến đoạn Đức Giêsu trút hơi thở cuối cùng, rồi tất cả cùng quỳ xuống trong một phút thinh lặng đầy xúc động? Chẳng bài giảng nào có thể hiệu quả hơn dòng chữ duy nhất ấy (và Người đã trao thần khí) cùng sự thinh lặng sâu thẳm theo sau đó.

Một dòng chữ khác cũng luôn ám ảnh tôi là câu tiếp theo ngay sau đó. Chúng ta được kể rằng, vào khoảnh khắc Đức Giêsu qua đời, bức màn trong đền thờ đã xé ra làm đôi, từ trên xuống dưới.

Trí tưởng tượng của tôi, đặc biệt là khi còn nhỏ, luôn hình dung cảnh tượng đó theo một cách khá đáng sợ: Trời bỗng tối sầm lại giữa ban ngày, rồi vào lúc Đức Giêsu tắt thở, như thể có một tia sét kinh hoàng giáng xuống, bức màn đền thờ bị xé toạc trước mắt bao người đang đứng sững sờ — những kẻ giờ đây đã nhận ra, nhưng quá muộn, rằng người mà họ vừa nhạo báng và đóng đinh chính là Đấng Kitô.

Nhưng thực sự, ý nghĩa của cụm từ “bức màn đền thờ xé làm đôi” vào khoảnh khắc Đức Giêsu qua đời là gì?

Các học giả Kinh Thánh cho biết bức màn đó chính là tấm màn ngăn cách, không cho dân chúng nhìn thấy những gì diễn ra phía sau, cụ thể là các nghi lễ thánh thiêng do các tư tế thực hiện. Tấm màn ấy che chắn người thờ phượng bình thường khỏi sự huyền nhiệm.

Vì vậy, khi các sách Tin Mừng nói rằng vào lúc Đức Giêsu chết, bức màn đền thờ bị xé từ trên xuống dưới, ý nghĩa không phải là — như tôi từng tưởng tượng — Thiên Chúa xé nát thứ quý giá nhất của những kẻ đã đóng đinh Ngài để cho họ thấy họ đã sai lầm thế nào. Ngược lại mới đúng.

Bức màn đền thờ vốn được hiểu là để ngăn cách con người khỏi mầu nhiệm, khỏi việc nhìn thấu vào bên trong mầu nhiệm của Thiên Chúa. Trong cuộc đóng đinh, bức màn đó bị xé tan để giờ đây mọi người đều có thể nhìn vào bên trong Nơi Cực Thánh thực sự — chính là tâm can của Thiên Chúa.

Giờ đây, chúng ta thấy dung mạo thực sự của Thiên Chúa: Ngài là Đấng yêu thương chúng ta vô điều kiện đến mức dù chúng ta có đóng đinh Ngài, Ngài cũng chẳng ngừng yêu ta dù chỉ một giây. Thiên Chúa đổ chính máu mình ra để chạm đến ta, thay vì muốn ta phải đổ máu mình để chạm đến Ngài. Điều này nghĩa là gì?

Có một câu hỏi từ hàng thế kỷ nay: Tại sao Đức Giêsu phải chết theo cách khủng khiếp như vậy? Tại sao phải có máu? Cuộc chơi vũ trụ hay thần linh nào đang diễn ra ở đây? Phải chăng máu của Chúa Kitô, máu của con chiên, bằng cách nào đó đang “trả nợ” cho Thiên Chúa vì tội lỗi của Adam, Eva và của chính chúng ta? Tại sao máu phải đổ xuống?

Đây là một câu hỏi phức tạp và mọi câu trả lời đều chỉ là một phần sự thật. Chúng ta đang đối diện với một mầu nhiệm lớn lao. Tuy nhiên, ngay cả những mầu nhiệm lớn cũng có thể được hiểu một phần. Một trong những lý do khiến Đức Giêsu chết theo cách này, một trong những lý do của việc đổ máu, là rất rõ ràng với những hàm ý sâu sắc. Đó là gì?

Nó liên quan mật thiết đến ý nghĩa của “máu”. Từ thuở sơ khai cho đến trước cuộc đóng đinh của Đức Giêsu, nhiều nền văn hóa đã hiến tế máu cho các thần linh của họ. Tại sao lại là máu? Vì máu được đồng nhất với nguyên lý sự sống. Máu mang theo sự sống, là chính sự sống, và mất máu nghĩa là chết. Vì vậy, vì đủ loại lý do tôn giáo và nhân chủng học, trong nhiều nền văn hóa cổ đại luôn tồn tại ý niệm rằng chúng ta nợ Thiên Chúa bằng máu, rằng Thiên Chúa cần được nguôi giận, rằng dâng máu là cách chúng ta xin ơn tha thứ và bày tỏ lòng biết ơn — rằng máu là ngôn ngữ duy nhất mà Thiên Chúa thực sự thấu hiểu.

Thế nên, những người mộ đạo chân thành cảm thấy họ nên dâng máu cho Chúa. Và họ đã làm vậy — trong một thời gian dài, bao gồm cả máu người. Con người bị sát hại trên các bàn thờ khắp nơi. Thật may mắn là hầu hết các nền văn hóa cuối cùng đã bãi bỏ việc tế người và dùng động vật thay thế.

Vào thời Đức Giêsu, đền thờ Jerusalem thực sự đã trở thành một lò sát sinh với các tư tế giết hại động vật gần như không ngừng nghỉ. Một số học giả cho rằng khi Đức Giêsu lật đổ bàn của những người đổi tiền, có khoảng 90% hoạt động thương mại ở Jerusalem liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc tế lễ động vật. Chẳng trách hành động của Đức Giêsu lại bị coi là một mối đe dọa lớn đến thế!
Vậy tại sao lại có máu trong cái chết của Đức Giêsu?

Như Richard Rohr đã diễn đạt rất xác đáng: Suốt nhiều thế kỷ, chúng ta đã đổ máu để cố gắng chạm tới Thiên Chúa, nhưng trong cuộc đóng đinh, mọi thứ đã đảo ngược: Thiên Chúa đổ chính máu mình để cố gắng chạm đến chúng ta. Sự đảo ngược này xé tan bức màn sợ hãi cũ kỹ, xé tan niềm tin sai lầm rằng Thiên Chúa muốn máu, xé tan ảo tưởng rằng Thiên Chúa không phải là tình yêu vô điều kiện, và rằng chúng ta cần phải sống trong sự sợ hãi Ngài.

Thiên Chúa không cần máu để được xoa dịu. Ngài chưa bao giờ ngừng yêu thương chúng ta dù chỉ một giây. Khi bức màn đền thờ bị xé toang, sự thật kinh ngạc này đã được hé lộ.

Đừng Keo Kiệt Với Lòng Thương Xót Của Thiên Chúa

A A A

Chẳng bao lâu sau khi chịu chức linh mục, trong lúc đi làm mục vụ thay tại một giáo xứ, tôi có dịp ở cùng một vị linh mục già đức độ. Ngài đã ngoài tám mươi, mắt gần như mù lòa, nhưng lại là người được rất nhiều người tìm đến xin lời khuyên và kính trọng. Một tối nọ, khi chỉ có hai người, tôi đã hỏi ngài một câu: “Nếu được sống lại đời linh mục một lần nữa, cha có thay đổi điều gì không?”

Từ một con người đầy chính trực như ngài, tôi vốn đinh ninh rằng ngài sẽ chẳng có gì phải hối tiếc. Vì vậy, câu trả lời của ngài làm tôi vô cùng ngạc nhiên. Ngài bảo có, ngài có một nỗi hối tiếc rất lớn: “Nếu được làm lại đời linh mục, lần tới tôi sẽ bao dung với mọi người hơn. Tôi sẽ không quá bủn xỉn với lòng thương xót của Chúa, với các bí tích và sự tha thứ. Anh thấy đó, điều được nhồi nhét vào đầu tôi hồi ở chủng viện là câu: Sự thật sẽ giải phóng anh em. Thế nên, tôi tin rằng trách nhiệm của mình là luôn đưa ra những thách đố khó khăn, và điều đó cũng có cái tốt. Nhưng tôi e rằng mình đã quá khắt khe với mọi người. Họ đã đủ đau khổ rồi, không cần tôi và Giáo hội phải chất thêm gánh nặng lên vai họ nữa. Lẽ ra tôi nên dám mạo hiểm vào lòng thương xót của Chúa hơn nữa!”

Điều này làm tôi sững sờ, vì chỉ chưa đầy một năm trước đó, khi tôi thi vấn đáp cuối kỳ ở chủng viện, một trong những linh mục giám khảo đã cảnh báo tôi thế này: “Hãy cẩn thận, đừng bao giờ để cảm xúc xen vào. Đừng có mềm yếu, như vậy là sai. Hãy nhớ rằng, dù có khắc nghiệt đến đâu, chính sự thật mới giải phóng con người!” Đó dường như là một lời khuyên chí lý cho một linh mục trẻ.

Thế nhưng, sau năm mươi năm thi hành tác vụ, tôi lại nghiêng về lời khuyên của vị linh mục già kia hơn: Chúng ta cần dám mạo hiểm hơn với lòng thương xót của Thiên Chúa. Vị trí của công lý và sự thật không bao giờ được phép phớt lờ, nhưng chúng ta phải dám để cho lòng thương xót vô biên, không bờ bến, không điều kiện và không đòi hỏi công trạng của Chúa được tuôn trào tự do hơn. Lòng thương xót của Chúa luôn sẵn có như một vòi nước gần nhất, và vì thế, giống như ngôn sứ Isaiah, chúng ta phải loan báo một lòng thương xót không hề dán nhãn giá: Đến đây, hãy đến mà không cần tiền bạc, không cần đức hạnh, hãy đến uống thỏa thuê lòng thương xót của Chúa! (Isaiah 55:1)

Điều gì đang kìm hãm chúng ta? Tại sao chúng ta lại ngần ngại khi loan báo lòng thương xót vô tận, hào phóng và không phân biệt của Ngài?

Một phần động cơ của chúng ta là tốt, thậm chí là cao quý. Sự quan tâm đến sự thật, công lý, tính chính thống, đạo đức chuẩn mực, hình thức công khai hay việc chuẩn bị bí tích kỹ lưỡng không phải là không quan trọng. Tình yêu cần được định hướng bởi sự thật, cũng như sự thật phải được điều hòa bởi tình yêu.

Nhưng đôi khi động cơ của chúng ta lại kém cao quý hơn, và sự ngần ngại đó nảy sinh từ sự rụt rè, sợ hãi, chủ nghĩa lề luật, sự tự mãn kiểu những người biệt phái, và một hiểu biết nghèo nàn về Thiên Chúa. Thế là, chúng ta quyết không để bất kỳ một “ân sủng rẻ tiền” nào được ban phát dưới sự canh chừng của mình!

Khi làm như vậy, tôi e rằng chúng ta đang đi lạc đường, chưa làm tròn vai trò của người mục tử nhân lành, và không cùng nhịp đập với Thiên Chúa mà Đức Giêsu đã nhập thể để bày tỏ. Lòng thương xót của Thiên Chúa, như Đức Giêsu mặc khải, ôm ấp tất cả không phân biệt ai, giống như ánh mặt trời chiếu soi đồng đều trên người tốt cũng như kẻ xấu, người xứng đáng cũng như kẻ không xứng đáng, người trong đạo cũng như kẻ ngoài đời.

Một trong những thấu thị thực sự gây chấn động mà Đức Giêsu mang lại cho chúng ta là: lòng thương xót của Thiên Chúa không thể không đến với tất cả mọi người. Nó luôn miễn phí, không do công trạng, không điều kiện, mang tính phổ quát, vượt lên trên mọi tôn giáo, phong tục, luật lệ, đảng phái chính trị, các chương trình bắt buộc, ý thức hệ, và thậm chí vượt lên trên cả chính tội lỗi.

Về phần mình, đặc biệt là những người làm cha mẹ, những người làm mục vụ, thầy cô giáo, giáo lý viên và những người đi trước, chúng ta phải dám loan báo đặc tính hào phóng của lòng thương xót Chúa. Chúng ta không được ban phát lòng thương xót của Chúa như thể nó là của riêng mình để ban ơn; không được phân phát sự tha thứ của Chúa như thể đó là một món hàng có hạn; không được đặt điều kiện cho tình yêu của Chúa như thể Chúa cần được bảo vệ; hay ngăn chặn con đường đến với Chúa như thể chúng ta là người giữ cổng thiên đàng. Chúng ta không phải là người giữ cổng. Nếu chúng ta trói buộc lòng thương xót của Chúa vào sự rụt rè và sợ hãi của chính mình, chúng ta đang giới hạn nó trong tầm vóc nhỏ bé của tâm trí mình. Đó là một sai lầm.

Thật thú vị khi để ý trong các sách Tin Mừng rằng các tông đồ — dĩ nhiên là với ý tốt — thường cố gắng ngăn cản một số người đến gần Đức Giêsu vì cho rằng họ không xứng đáng, hoặc họ là sự xúc phạm đến sự thánh thiện của Ngài, hay bằng cách nào đó sẽ làm vấy bẩn sự thanh sạch của Ngài. Thế là họ cố đuổi trẻ em, những người hành nghề mại dâm, những người thu thuế, những tội nhân khét tiếng và đủ mọi thành phần chưa được khai tâm đi. Nhưng lần nào Đức Giêsu cũng bác bỏ những nỗ lực đó bằng những lời đại ý rằng: “Cứ để họ đến với Ta. Ta muốn họ đến.”

Mọi chuyện vẫn không thay đổi. Theo năm tháng, chúng ta — những người đầy thiện chí — vì những lý do y hệt như các tông đồ, vẫn tiếp tục cố gắng giữ một số cá nhân và nhóm người tránh xa lòng thương xót của Chúa vốn luôn sẵn có trong Lời Chúa, Bí tích và Cộng đoàn. Ngày xưa Đức Giêsu đã dàn xếp được mọi chuyện; tôi tin rằng ngày nay Ngài cũng làm được. Thiên Chúa không cần chúng ta làm người gác cổng.

Điều Thiên Chúa muốn là tất cả mọi người, bất kể tuổi tác, tôn giáo, văn hóa, sự yếu đuối cá nhân hay việc thiếu thực hành đạo đức, hãy đến với nguồn nước vô tận của lòng thương xót thần linh.

Nhà tự nhiên học nổi tiếng John Muir từng thách thức các Kitô hữu bằng những lời này: Tại sao các Kitô hữu lại ngần ngại để các loài vật bước chân vào cái thiên đàng bủn xỉn của họ đến thế?

Tôi e rằng, chúng ta cũng đang bủn xỉn với lòng thương xót hào phóng của Thiên Chúa như vậy.

Mọi Sinh Mạng Đều Đáng Quý

A A A

Theodore Roethke đã mở đầu bài thơ In a Dark Time (Trong thời khắc đen tối) của mình bằng những dòng chữ này: “Trong thời khắc đen tối, đôi mắt bắt đầu nhìn thấu.”

Chúng ta đang sống trong một thời điểm đen tối, một thời đại bị bủa vây bởi hận thù, bởi những chia rẽ cay đắng và những cuộc chiến đang hằng ngày gieo rắc cái chết cùng những tổn thương không thể đong đếm cho hàng triệu con người. Nhưng liệu đôi mắt chúng ta đã bắt đầu “nhìn thấu” chưa?

Đôi khi, trong bóng tối, một chút hài hước suồng sã lại có thể giúp ta nhìn rõ sự việc hơn. Đây là một ví dụ: Gần đây, tôi có hướng dẫn một khóa tĩnh tâm tại một trung tâm gần bờ biển. Khi đi dạo trên bãi biển vào giờ nghỉ, tôi bắt gặp ba chàng trai trẻ ngồi trên thùng sau của một chiếc xe bán tải. Tiếng nhạc từ loa xe chát chúa vang xa hàng trăm mét, và ba thanh niên đó, mũ lưỡi trai đội ngược, đang hớn hở nâng lon bia vẫy chào mọi người xung quanh. Phía trên chiếc xe, một lá cờ lớn tung bay với dòng chữ: Drunk lives matter! (Những người say xỉn cũng đáng được trân trọng!). Sự suồng sã đầy vui vẻ của họ đã vực dậy tinh thần tôi, và nó cũng làm những người tham gia khóa tĩnh tâm bật cười khi tôi chia sẻ câu chuyện này.

Đúng vậy, đôi khi chúng ta thấy rằng ngay cả mạng sống của những kẻ say xỉn cũng đáng quý. Mọi mạng sống đều đáng quý.

Việc “mọi mạng sống đều đáng quý” cần phải được nhấn mạnh ngay lúc này, bởi ngày nay, chúng ta đang bị vây quanh bởi những ấn tượng mạnh mẽ từ các quan chức chính phủ và những người khác rằng: có những mạng sống chẳng hề quan trọng, hoặc ít nhất là không quan trọng bằng mạng sống của chính chúng ta và những người thân yêu của ta. Đây là mấu chốt của vấn đề:

Trong những tuần qua, Mỹ và Israel đã tham chiến với Iran, một cuộc chiến đã gây bất ổn cho cuộc sống của hàng triệu người. Trong thời gian này, đã có 15.000 vụ đánh bom ở Iran và Lebanon, và Iran đã đáp trả bằng vô số cuộc tấn công nhắm vào các lợi ích của Mỹ và Israel.

Phía Mỹ và Israel, một số người lính và thường dân đã ngã xuống và hàng trăm người đã bị thương. Chúng ta đã để tang họ một cách thành kính, xót xa cho những mạng sống quý giá đã mất đi. Lòng trắc ẩn đã giúp chúng ta thấy rằng những sinh mạng đó là vô giá, và khi mỗi người trong số họ ra đi, một hơi thở không thể thay thế đã rời khỏi hành tinh này. Chúng ta công nhận rằng mạng sống của họ đáng quý. Và đó là một điều đáng ghi nhận.

Tuy nhiên, cũng trong thời gian đó, hơn 2000 mạng sống khác ở Iran và Libăng – tức “phía bên kia” cũng đã mất đi, và hàng trăm ngàn người khác bị xé toạc cuộc đời một cách vĩnh viễn, nhưng (ít nhất là trước công chúng) chúng ta lại không dành cho họ cùng một lòng trắc ẩn như đã dành cho người của mình. Đối với chúng ta, dường như mạng sống của họ không quý giá bằng mạng sống của ta.

Có lẽ điều này có thể được tha thứ (hoặc ít nhất là thấu hiểu) bởi thực tế là chúng ta không trực tiếp nhìn thấy những cuộc đời đó. Họ ở xa chúng ta, chỉ là những khái niệm trừu tượng, những khuôn mặt không hình hài, những cái tên xa lạ, những người Iran, những người Libăng.

Thế nhưng, điều không thể bào chữa được chính là cái cách hời hợt và nhẫn tâm mà cuộc chiến này và những cái chết đó đang được bàn luận bởi một số nhà lãnh đạo. Ngôn từ của họ trước những cái chết và ly tán của hàng triệu người lại là ngôn từ của sự ăn mừng; giống như cái cách người ta nghe thấy trong một trận bóng đá khi đội nhà đang hạ nhục đối thủ. Chúng ta đang đánh bại chúng! Chúng ta đang làm nhục chúng! Chúng ta đang ném bom chúng đến mức chúng bị xóa sổ! Hoan hô!

Lòng trắc ẩn của chúng ta ở đâu trước nỗi đau của họ, trước những người đã chết, trước hàng triệu cuộc đời đang bị xé nát bởi tang thương và tuyệt vọng? Cứ như thể cái chết của “phía bên kia” những người Iran, Libăng là không có thật, chỉ như những lần tiêu diệt ảo trong một trò chơi điện tử. Ngay cả cái tên của cuộc chiến này cũng sặc mùi game: Epic Fury! (Cơn Thịnh Nộ Sử Thi). Nhưng đây không phải là trò chơi. Những con người bằng xương bằng thịt đang chết đi. Hàng trăm người đã nằm xuống và hàng triệu người đang sống với trái tim tan vỡ hay trong tuyệt vọng.

Phần tốt đẹp nhất bên trong mời gọi chúng ta chạm vào nơi sâu thẳm nhất của trái tim — nơi chúng ta biết quan tâm đến nhiều người hơn là chỉ người của mình. Chúng ta cần chạm tới phần trắc ẩn sâu xa đó để có thể thốt lên (và nói thật to): Mạng sống người Iran đáng quý! Mạng sống người Libăng đáng quý! Mọi mạng sống đều đáng quý! Mọi mạng sống đều quý giá như chính mạng sống của tôi.

Tất cả mạng sống con người đều quý giá như nhau trong mắt Thiên Chúa. Như Thánh Phao-lô đã nói trong Thư gửi tín hữu Ga-lát (3,28): “Không còn chuyện phân biệt Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà; vì tất cả anh em chỉ là một trong Đức Kitô Giêsu.” Thực chất, điều đó có nghĩa là trong Đức Kitô, không có người Mỹ hay người Iran, không có người Israel hay người Libăng, không có mạng sống nào là không quan trọng hay kém quan trọng hơn những mạng sống khác.

Chiến tranh là chiến tranh, và thậm chí có thể có những cuộc chiến tranh chính nghĩa, và đương nhiên là người ta sẽ chết trong chiến tranh. Điều đó có thể chấp nhận được.

Nhưng, chúng ta có một tấm lòng cao thượng hơn là rơi vào sự đồng cảm có chọn lọc. Chúng ta có một tấm lòng cao thượng hơn là ăn mừng cái chết và sự hủy diệt của những sinh mạng—như thể chúng ta đang ăn mừng chiến thắng của đội thể thao yêu thích khi họ đè bẹp một đối thủ đáng ghét. Chúng ta có một tấm lòng cao thượng hơn là coi cái chết và sự hủy diệt của vô vàn sinh mạng như những điều không hoàn toàn có thật—giống như những nhân vật đã chết trong các trò chơi điện tử vậy.

Chúng ta xứng đáng hơn thế nhiều!