RonRolheiser,OMI

Nỗi sợ bị bỏ lỡ

A A A

Thật khó cho một đứa trẻ phải đi ngủ lúc buổi tối mới bắt đầu, lúc cả nhà còn ăn tiệc. Không ai muốn đi ngủ lúc mọi người đang còn thức. Chẳng ai muốn bỏ lỡ gì đó trong đời.

Ai rồi cũng nhớ khi còn nhỏ, dù đã quá mệt, hai mắt đã díu lại, chúng ta vẫn cố cự lại bất cứ ai bắt mình đi ngủ. Dù mệt mỏi hay không, chúng ta cũng không muốn bỏ lỡ bất kỳ điều gì. Chúng ta không muốn đi ngủ khi đời sống vẫn đang tiếp diễn.

Và chẳng bao giờ chúng ta bỏ được chuyện này. Sự kháng cự đó là bẩm tại và nó vẫn còn trong chúng ta cho đến giờ lâm tử.

Một trong những nỗi băn khoăn day dứt nhất của chúng ta là ý thức rằng mình luôn mãi bỏ lỡ gì đó trong đời. Đây cũng là một trong những yếu tố lớn nhất của nỗi sợ chết. Với hầu hết mọi người, sự nặng nề và tăm tối của cái chết không hẳn đến từ nỗi sợ những điều sẽ gặp ở đời sau, sự phán xét và hình phạt, cho bằng đến từ nỗi sợ bị tiêu vong. Hơn nữa, nỗi sợ này không hẳn là sợ thân phận của mình sẽ tiêu tan không còn gì, cho bằng sợ mình sẽ bị tước đi mọi phần cuộc đời mình đã có. Nỗi buồn khi phải từ bỏ gì đó, khi biết rằng cuộc đời sẽ tiếp diễn mà không có mình, sợ phải đi ngủ khi tiệc vui chưa tàn. Và nỗi sợ này nằm sâu, rất sâu trong lòng chúng ta, đến nỗi chúng ta khó mà hình dung nổi làm sao thế giới có thể tiếp tục công việc mà không có chúng ta.

Tuy nhiên, đây không phải là dấu hiệu về một vấn để bất ổn trong chúng ta, nó không phải là một thứ cần được sửa chữa, cũng không phải là một vấn đề luân lý hay tôn giáo cần phải lưu tâm. Nó là bản chất con người, đơn giản là thế, và Thiên Chúa là Đấng tạo nên nó. Nói tóm lại, chúng ta được dựng lên để dự phần trong cả tấm vải chứ không phải để làm một sợi chỉ đơn độc.

Năm 23 tuổi, tôi chứng kiến cha tôi mất trong phòng bệnh viện. Ông chưa lớn tuổi, chỉ mới 62 và lẽ ra cha tôi phải được sống thêm nhiều năm nữa. Nhưng ông sắp chết, ông biết thế, và dù đức tin đã giúp ông xoa dịu nhưng ông vẫn rất buồn. Điều ông phải đấu tranh không phải nỗi sợ đời sau hay còn chuyện đền tội nào ông cần làm trong đời này. Không phải thế. Ông không có chuyện gì còn dang dở với Chúa hay với những vấn đề luân lý và tôn giáo. Ông cũng không có những nỗi sợ không lành mạnh về đời sau. Việc duy nhất ông còn đang dang dở với đời này, chính là (một cách trừu tượng) bị bắt đi ngủ khi tiệc chưa tàn. Hơn nữa, với ông, bữa tiệc đó đang lúc vui nhất. Các con lớn đã bắt đầu an cư lập nghiệp, sinh cho ông nhiều đứa cháu, các con nhỏ cũng đang hăng hái bước vào cuộc sống trưởng thành. Ông sẽ không còn đó để xem mọi chuyện sẽ thế nào, và ông sẽ không còn đó để thấy hầu hết các cháu của mình. Quan trọng hơn nữa, ông còn người vợ, người tri kỷ mà ông phải bỏ lại. Thật sự, bị bắt đi ngủ vào lúc như thế không vui gì.

Hơn nữa, cha tôi vẫn còn các anh chị em ruột, hàng xóm, bạn bè, giáo xứ, cộng đồng, các đội bóng và vô số các mối dây khác trong đời. Và ông ý thức trong đau đớn rằng, những chuyện này đều sẽ kết thúc, ít nhất là ở đời này.

Tại sao ông không nên buồn chứ? Thật sự là, tại sao có ai trong chúng ta không nên buồn khi đối diện với cái chết như thế, khi chúng ta bị bắt đi ngủ lúc cuộc đời còn đang mở tiệc?

Chúng ta được cấu thành với tính cộng đồng. Như chính Thiên Chúa đã nói khi Ngài tạo dựng gia đình nhân loại: con người ở một mình thì không tốt. Chúng ta phải là một phần của gia đình và cộng đồng, một phần của tấm vải cuộc đời, một tấm vải được dệt nên bởi vô số sợi chỉ riêng lẻ. Do đó, cũng không có gì lạ khi chúng ta buồn lúc sợi chỉ mỏng manh, riêng lẻ của mình bị kéo ra khỏi tấm vải. Chẳng lạ gì khi trẻ con không muốn đi ngủ lúc mọi người vẫn đang chơi vui.

Hơn nữa, điều này không chỉ đúng khi chúng ta thấy buồn vào lúc lâm tử. Cũng động năng đó bùng lên mỗi khi chúng ta trải qua những cái chết nho nhỏ trong lòng khi chúng ta bước vào tuổi già, mất đi sức khỏe, mất đi công việc dù là do nghỉ hưu hay bị sa thải, mất đi những người chúng ta yêu thương, mất đi hôn nhân, chuyển đổi chỗ ở, hay bất kỳ cách thức nào khác làm cho chúng ta bị đẩy ra rìa cái chúng ta gọi là dòng chảy chính của cuộc đời.

Vậy nên, sẽ tốt nếu chúng ta biết rằng cảm giác đó không có gì sai. Giờ lâm tử khó khăn mà. Buông bỏ khó khăn mà. Bị đẩy ra rìa khó khăn mà. Biến mất khỏi cuộc đời càng khó khăn hơn nữa. Chính vì thế mà trẻ con chẳng muốn bị bắt đi ngủ.

Rồi Thiên Chúa lại tạo nên ánh sáng

A A A

Chúng ta hình dung nguồn gốc vũ trụ theo cách khoa học là do vụ nổ Big Bang hay theo cách trình thuật Kinh Thánh, cũng không quan trọng. Cách nào cũng nói về một thời trước khi có ánh sáng. Vũ trụ tối tăm trước khi Thiên Chúa tạo ra ánh sáng. Tuy nhiên, cuối cùng vũ trụ lại tăm tối trở lại. Khi nào?

Các sách Phúc âm nói rằng khi Chúa Giêsu hấp hối trên thập giá, giữa giờ thứ sáu và giờ thứ chín, trời đất tăm tối và Chúa Giêsu kêu lên, “Lạy Cha, lạy Cha, sao Cha bỏ con?” Vậy đã có chuyện gì?

Các sách Phúc âm muốn nói về cảnh trời tối lúc đầu giờ chiều, nhật thực, hay đang nói đến một sự tăm tối khác, tăm tối kiểu tâm linh? Lúc Chúa Giêsu hấp hối đã xảy ra nhật thực sao? Có lẽ có. Chúng ta không biết chắc, nhưng nó chỉ là điều thứ yếu. Cái mà các sách Phúc âm muốn nói đến chính là một dạng tăm tối lớn lên trong chúng ta mỗi khi điều quý báu với chúng ta bị thế gian sỉ nhục, bị xem là vô lực, bị chế nhạo, bị đánh bại và bị đóng đinh. Có bóng tối bủa vây chúng ta mỗi khi các thế lực của tình yêu dường như bị áp chế bởi các thế lực của thù hận. Ánh sáng bị dập tắt lúc đó là ánh sáng của hy vọng, nhưng có một sự tăm tối sâu xa hơn và đây là dạng tăm tối mà các sách Phúc âm nói, nó đã tạo nên một đám mây che phủ thế giới khi Chúa Giêsu hấp hối trên thập giá.

Điều được ám chỉ ở đây là: trong cuộc khổ nạn đóng đinh của Chúa Giêsu, sự tạo dựng trở lại tình trạng hỗn mang nguyên thủy, như thời trước khi có ánh sáng. Nhưng nó còn ám chỉ rằng Thiên Chúa đã tạo ra ánh sáng một lần thứ hai, lần này bằng cách phục sinh Chúa Giêsu từ cõi chết, và vì vậy, ánh sáng mới này là ánh sáng chói lòa nhất. Hơn nữa, không như ánh sáng ban đầu vốn chỉ là vật chất, ánh sáng này là ánh sáng vừa cho con mắt vừa cho tâm hồn.

Đối với con mắt, ánh sáng phục sinh còn là hiện tượng vật chất hoàn toàn mới. Trong cuộc phục sinh của Chúa Giêsu, các nguyên tử của hành tinh bị rung động khỏi sự vận hành vật chất bình thường. Một xác chết từ trong mồ trỗi dậy và sẽ không bao giờ chết nữa. Chuyện đó chưa từng xảy ra trước đó. Hơn nữa, sự phục sinh của Chúa Giêsu cũng là ánh sáng mới triệt để cho tâm hồn, ánh sáng của hy vọng. Ánh sáng thứ hai này là gì?

Vào đầu thập niên 1970, Robbie Robertson sáng tác bài hát nổi tiếng bài The Night They Drove Old Dixie Down và ca sĩ Joan Baez hát bài này. Lời bài hát là tự thuật của một người tên Virgil Caine, một bài ai thán buồn bã về sự cùng quẫn của một gia đình da trắng ở miền Nam trong thời Nội chiến Mỹ. Mọi chuyện xấu ập đến với họ, con trai út bị tử trận. Tình cảnh của họ tối tăm, không có chút hy vọng nào. Trong bài hát, có đoạn người kể chuyện than van về cái chết của em mình:

Nó chỉ mới 18, tự hào và dũng cảm
Nhưng một tên lính đã tiễn nó xuống mộ
Tôi thề bằng máu dưới chân mình
Đâu thể cho Ca-in trỗi dậy khi đã bị đánh bại

Sự sống có thể trỗi dậy khi đã bị đánh bại không? Xác chết có thể ra khỏi mộ phần không? Cái xác tơi tả có thể nguyên vẹn lại không? Sự ngây thơ mất đi có thể phục hồi lại không? Một trái tim tan nát có thể lành lại không? Một hy vọng vỡ nát có thể nâng đỡ linh hồn lần nữa không? Bóng tối có dập tắt mọi ánh sáng không? Các môn đệ của Chúa Giêsu có hy vọng gì khi chứng kiến thầy mình bị sỉ nhục và chết trên thập giá? Khi chính sự thiện bị đóng đinh, thì còn căn cứ gì để hy vọng nữa?

Căn cứ gói gọn trong hai chữ, phục sinh. Khi bóng tối bao trùm trái đất lần thứ hai, Thiên Chúa đã tạo nên ánh sáng lần thứ hai, và ánh sáng đó, không như ánh sáng vật chất được tạo ra thuở khai thiên lập địa, ánh sáng này không thể bị dập tắt. Đó là sự khác biệt giữa sự sống lại của Lazarô và sự phục sinh của Chúa Giêsu, sự khác biệt giữa ánh sáng vật chất và ánh sáng của sự phục sinh. Lazarô đã được phục hồi thân xác như cũ, rồi thân xác đó phải chết lần nữa. Chúa Giêsu được ban một thân xác mới triệt để sẽ không bao giờ chết nữa.

Học giả kinh thánh lừng danh Raymond E. Brown nói rằng: bóng tối bủa vây thế giới khi Chúa Giêsu hấp hối trên thập giá, sẽ không còn nếu chúng ta tin vào sự phục sinh. Nếu chúng ta chưa tin rằng Thiên Chúa có lời đáp ban sự sống cho mọi kẻ chết, nếu chúng ta chưa tin Thiên Chúa sẽ vần tảng đá che mọi ngôi mộ bất chấp sự thiện bị chôn sâu đến đâu dưới thù hận và bạo lực, nếu như thế thì bóng tối của Thứ Sáu Tuần Thánh sẽ tiếp tục che phủ thế giới chúng ta.

Mohandas K. Gandhi từng nhận định rằng chúng ta có thể thấy chân lý của Thiên Chúa luôn tạo nên ánh sáng mới, chỉ cần nhìn vào lịch sử là thấy. “Khi tôi tuyệt vọng, tôi nhớ lại mọi chuyện đã trải qua suốt dòng lịch sử, chân lý và tình yêu luôn chiến thắng. Có những kẻ sát nhân và bạo chúa, và chúng bất khả chiến bại suốt một thời gian. Nhưng đến tận cùng, chúng luôn sụp đổ. Chúng ta cứ nghĩ như thế đi, luôn là thế”.

Cố gắng lắng nghe tiếng nói của Thứ Sáu Tuần Thánh

A A A

Bia tưởng niệm các nạn nhân vụ thảm sát kinh hoàng ở El Mozote, El Salvador

Họ sẽ nhìn Đấng mà họ đã đâm! Một câu nói lên tiếng nói được để lại trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh.

Năm 1981, một cô gái trẻ vô danh đã bị các quân nhân ở một địa điểm khuất nẻo hiếp và giết hại dã man ở El Salvador, với tên gọi La Cruz (tình cờ ý nghĩa thay, lại có nghĩa là “Thập giá”). Câu chuyện của cô được nhà báo Mark Danner thuật lại. Danner thuật lại chia sẻ của một vài người lính kể về chuyện sau cuộc thảm sát, một số binh sĩ chia sẻ, nạn nhân của họ đã ám ảnh họ như thế nào, họ không thể nào gạt cô ấy ra khỏi đầu, kể cả khi cô đã chết từ rất lâu.

Họ đã cướp bóc một ngôi làng và cưỡng hiếp nhiều phụ nữ. Một trong số đó, là một cô gái trẻ, một kitô giáo truyền giáo, đã bị họ cưỡng hiếp nhiều lần nội trong một buổi chiều, còn bị họ tra tấn. Tuy nhiên, dù trải qua chuyện này, cô vẫn bám chặt lòng tin vào Đức Kitô, cô đã hát những bài thánh ca. Những người lính đã xâm hại và cuối cùng giết cô, họ bị ám ảnh vì chuyện này. Tôi xin trích lại lời của Danner:

“Cô ấy cứ tiếp tục hát, kể cả sau những việc họ đã làm với cô, đã bắn cô vào ngực. Cô nằm đó ở La Cruz, máu me tuôn ra từ ngực, mà vẫn hát, dù giọng có yếu đi, nhưng vẫn hát. Và những người lính sững sờ, đứng đó chứng kiến và chỉ trỏ. Rồi họ mệt mỏi vì chuyện này và bắn cô lần nữa, cô vẫn hát, sự ngạc nhiên của họ biến thành sợ hãi – cho đến khi họ lôi mã tấu ra và cắt cổ cô, cuối cùng tiếng hát im bặt”. (Vụ thảm sát ở El Mozote [The Massacre at El Mozote], NY, Vintage Books, 1994, trang 78-79.)

Họ sẽ nhìn cô, người họ đã đâm! Hãy chú ý đại danh từ giống cái ở đây, vì trong trường hợp này, người bị nhìn sau khi bị đâm là một phụ nữ. Chết một cái chết bị sỉ nhục, bất công và bạo lực như thế mà lòng vẫn giữ đức tin và trên môi, điều này làm cho cô giống Đức Kitô khi chịu đóng đinh, và không chỉ vì cô (giống mọi kitô hữu khác) vốn là một phần trong Nhiệm thể Chúa Kitô. Đúng hơn là trong thời điểm này, với cách chết này, với đức tin thể hiện nơi cô, thì như Chúa Giêsu, cô để lại một tiếng nói không thể bị dập tắt, một tiếng nói ám ảnh những người đã gây bạo lực với cô và ám ảnh tất cả những người đã nghe câu chuyện này.

Điều gì ám ảnh những người lính này? Sự ám ảnh ở đây không phải là cách một oan hồn muốn báo thù bằng cách dọa ma và làm chúng ta gặp ác mộng. Cũng không phải là kiểu ám ảnh do hối hận cay đắng, khi nhận ra một sai lầm quá lớn không thể khắc phục, một sai lầm mà nếu thấy trước hậu quả, chúng ta đã không làm. Đúng hơn, đây là tiếng nói đã ám ảnh chúng ta mỗi khi chúng ta bịt miệng, xâm hại, hoặc giết người vô tội. Đây là tiếng nói mà chúng ta biết không thể bị bịt miệng, và bất chấp những cảm giác tức thời khơi lên trong bản thân, chúng ta nhận ra mình không bao giờ có thể thoát khỏi tiếng nói đó. Mà nghịch lý thay, chính tiếng nói đó mời gọi chúng ta đừng sợ, đừng ghét bản thân, mà hãy ghét những thứ mà nó đại diện.

Gil Bailie, người đã đưa câu chuyện này làm một phần cốt yếu trong quyển sách của ông về thập giá và phi bạo lực, không chỉ nêu ra sự tương đồng đáng kinh ngạc giữa cách chết của cô gái đó và Chúa Giêsu mà còn nêu ra sự thật rằng, trong cả hai trường hợp, một phần của sự phục sinh chính là tiếng nói của cả hai vẫn sống mãi.

Trong trường hợp của Chúa Giêsu, không một ai chứng kiến cái chết nhục nhã của Ngài trên đồi cao cô độc, lại có thể ngờ rằng đây sẽ là cái chết được ghi nhớ nhất lịch sử. Với cô gái ấy cũng thế. Vụ cưỡng hiếp và giết hại cô xảy ra ở một nơi vô cùng hẻo lánh và những người muốn ghi nhớ câu chuyện của cô cũng đã bị giết. Nhưng tiếng nói của cô vẫn sống, và chắc chắn sẽ còn tiếp tục vang dội hơn nữa trong lịch sử, rất lâu sau khi những kẻ làm hại cô đã bị lãng quên. Cái chết theo kiểu này hằn dấu lên lương tâm và để lại tiếng vọng trường cửu mà không một ai có thể làm câm lặng.

Khi chúng ta phân tích tất cả những gì có trong tiếng vọng ấy, khi chúng ta suy gẫm Chúa Giêsu trên thập giá hay về cái chết của cô gái trẻ này, chúng ta không thể không cảm thấy một vết thương sâu tận trong lòng. Nhìn vào người mà chúng ta đã đâm, dù là Chúa Giêsu hay là bất kỳ nạn nhân vô tội nào, chính là nhận thức (theo cách xuyên thấu mọi sự làm ngơ tội lỗi và ghê gớm) rằng tiếng nói của tư lợi, bất công, bạo lực, hung ác và cưỡng hiếp, cuối cùng sẽ bị câm lặng bởi tiếng nói của vô tội, nhân từ và trìu mến. Phải, đức tin là chân chính.

Một nhà phê bình quyển sách của Danner trên New York Times nói rằng, sau khi đọc câu chuyện này, ông cứ “mong mỏi một cách vô vọng được nghe tiếng hát ấy”. Trong Thứ Sáu Tuần Thánh, chúng ta đọc trình thuật Tin Mừng về cái chết của Chúa Giêsu. Lắng nghe câu chuyện đó, như những người lính đã giết hại tàn nhẫn một cô gái vô tội đầy đức tin, chúng ta được hướng nhìn lên người mà chúng ta đã đâm. Chúng ta cần cố gắng chú tâm lắng nghe tiếng hát ấy hơn nữa.