RonRolheiser,OMI

CÁNH CỬA HẸP

A A A

Một linh mục mà tôi quen biết đã chia sẻ câu chuyện này. Gần đây, trong khóa tĩnh tâm của các linh mục, vị hướng dẫn đã bắt đầu bài thuyết trình khai mạc của mình bằng những lời này: “Chúng ta cứ mặc định coi là hầu hết mọi người đều sẽ phải xuống địa ngục.” Sau đó, ông cố gắng chứng minh cho khẳng định này bằng cách trích dẫn lời Chúa Giêsu: “Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong, và nhiều người đi qua đó. Nhưng cửa thì hẹp và đường thì chật dẫn đến sự sống, và ít kẻ tìm được lối vào.” (Mát-thêu 7, 13-14)

Nhìn bề ngoài, điều này thực sự dường như chỉ ra rằng hầu hết mọi người không đi con đường dẫn đến thiên đàng mà đang đi con đường dẫn đến địa ngục.

Có phải phần lớn chúng ta đều sẽ phải xuống địa ngục? Đó có phải là điều được ngụ ý ở đây không? Không! Đó không phải là điều đang được giảng dạy. Lời dạy này của Chúa Giêsu cần phải được phân tích và mổ xẻ đôi chút.

Đầu tiên, khi Chúa Giêsu nói: “Nhưng cửa thì hẹp và đường thì chật dẫn đến sự sống, và ít kẻ tìm được lối vào”, Ngài không nói nhiều về việc lên thiên đàng hay xuống địa ngục, mà là đang nói về cuộc sống của chúng ta, ngay tại đây và ngay lúc này.

Thật vậy, tất cả chúng ta đều có thể đồng cảm với lời Ngài nói rằng cánh cửa dẫn đến sự sống thì hẹp và ít ai tìm được. Bằng cách nào? Chỉ cần tự hỏi chính mình: Trong suốt cuộc đời, có bao nhiêu lần chúng ta có được một khoảnh khắc – chưa nói đến một giai đoạn dài – mà ta hoàn toàn không bị trầm cảm, không hối tiếc, không bồn chồn vô cớ, không ghen tị, không thất vọng, và không có cảm giác mình đang bỏ lỡ điều gì đó trong đời? Thay vào đó là một cảm nhận sâu sắc trong tâm hồn rằng ta đã chạm đến ý nghĩa sâu xa nhất của cuộc sống, đã tìm thấy bí mật ẩn giấu bấy lâu, và không còn điều gì để phải bon chen, khao khát nữa?

Đôi khi chúng ta có những khoảnh khắc như vậy khi đã bước qua cánh cửa hẹp dẫn đến sự sống, dẫu cho phần lớn thời gian chúng ta vẫn đang chật vật để tới được nơi đó.

Chúng ta có thể trải nghiệm điều này khi nhìn vào cuộc sống của người khác. Không phải với thái độ phán xét, nhưng theo cách mà đã bao nhiêu lần chúng ta nhìn vào cuộc sống của một ai đó ở chiều sâu tâm hồn và thốt lên: Anh ấy đã tìm thấy nó rồi! Cô ấy đã đạt đến nơi đó! Đó mới là một cuộc sống trọn vẹn! Chúng ta rất hiếm khi nói điều này về một ai đó.

Hơn nữa, chính xác thì cánh cửa đó là gì và tại sao nó lại hẹp?

Nói một cách đơn giản, cánh cửa dẫn đến sự sống, dẫn đến niềm hạnh phúc sâu sắc và trọn vẹn nhất của tất cả chúng ta, chính là lời mời gọi mà Chúa Giêsu đưa ra trong Bài Giảng Trên Núi. (Mát-thêu 5-7). Đối với Chúa Giêsu, đây là những điều làm nên sự viên mãn của cuộc sống, cụ thể là: có tinh thần nghèo khó; chạm được vào những tổn thương của thế giới và của chính mình; hiền lành; khao khát sự công chính; xót thương người; có tâm hồn trong sạch; biết xây dựng hòa bình; chịu đau khổ vì lẽ phải; và đặc biệt là yêu thương những kẻ ghét mình.

Đó chính là cánh cửa hẹp dẫn đến sự sống, và chúng ta phải chật vật để bước qua nó vì hầu như mọi thứ trong thế giới của chúng ta đều chống lại điều này. Thế giới bảo chúng ta rằng tốt nhất là nên giàu có, rằng sự hiền lành và thấu cảm là biểu hiện của sự yếu đuối, và chúng ta có thể đường hoàng ghét bỏ những kẻ ghét mình. Bản năng tự nhiên của chúng ta cũng đồng tình với điều đó. Cả thế giới và bản năng tự nhiên đều mời gọi chúng ta hướng đến một cánh cửa rộng lớn, nơi chúng ta có thể rủa sả những kẻ rủa sả mình một cách hợp lý và có thể xử tử những kẻ giết người.

Bài Giảng Trên Núi đề xuất một cánh cửa hẹp, và nó trở nên đặc biệt hẹp ở đoạn cuối của Bài Giảng, khi Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy có lòng trắc ẩn như Cha trên trời là Đấng trắc ẩn, và Ngài giải thích rõ điều đó có nghĩa là gì.

Lòng trắc ẩn của Thiên Chúa, không giống như bản năng tự nhiên của chúng ta, hướng đến kẻ xấu cũng như người tốt một cách công bằng, giống như ánh mặt trời chiếu sáng không phân biệt cỏ dại hay rau màu. Thiên Chúa yêu thương những người tội lỗi và những người đức hạnh như nhau.

Vào chúng ta cũng phải làm như vậy. Chúa Giêsu nói, đức hạnh của chúng ta phải đi sâu hơn bản năng tự nhiên – nơi mà một cách rất tự nhiên, chúng ta yêu kẻ yêu mình, ghét kẻ ghét mình, rủa sả kẻ rủa sả mình, và từ chối tha thứ cho kẻ đã sát hại người thân yêu của mình.

Cánh cửa hẹp dẫn đến sự sống trọn vẹn chính là cánh cửa của lòng trắc ẩn bao la; nghĩa là, chúng ta bước qua cánh cửa dẫn đến sự viên mãn của cuộc đời khi chúng ta yêu thương những kẻ ghét mình, chúc phúc cho những kẻ rủa sả mình, và tha thứ cho những kẻ sát hại mình.

Đáng buồn thay, phần lớn những gì bên trong chúng ta và bên trong thế giới này đều phản kháng lại cánh cửa hẹp đó.

Tuy nhiên, khi Chúa Giêsu nói: “Nhưng cửa thì hẹp và đường thì chật dẫn đến sự sống, và ít kẻ tìm được lối vào”, Ngài không có ý nói rằng hầu hết chúng ta sẽ phải xuống địa ngục và chỉ một số ít được lên thiên đàng. Thay vào đó, Ngài đang nói về cuộc sống của chúng ta ngay lúc này, và một cách sắc sảo, Ngài chỉ ra điều gì cuối cùng sẽ mang lại hạnh phúc và sự sống trọn vẹn ở thế gian này – cụ thể là sống theo Bài Giảng Trên Núi, đặc biệt là phần mời gọi chúng ta yêu kẻ ghét mình, chúc phúc cho kẻ rủa sả mình, và tha thứ cho kẻ sát hại mình.

Đó là cánh cửa mà chúng ta vẫn đang phải trầy trật để bước qua.

NGÀY CỦA CHA

A A A

Điều gì làm nên một người cha?

Năm mươi sáu năm trước, cha tôi qua đời vào một đêm cuối tháng Chạp muộn màng. Tôi nhớ rõ cái chết của ông bao nhiêu, thì cũng nhớ cái lạnh cắt da cắt thịt của đêm đó bấy nhiêu. Chỉ trong vòng một ngày, nhiệt độ đã giảm sâu xuống dưới âm 40 độ F (khoảng âm 40 độ C).

Khi ấy tôi còn trẻ; quá trẻ (tôi đã nghĩ vậy vào thời điểm đó) để phải mất cha. Sau này, tôi mới nhận ra mình đã nhầm. Chẳng có ai là quá trẻ để mất cha cả, dù rằng việc mất đi người cha trước khi những điều nhất định được trao đi và nhận lại có thể để lại những vết sẹo trong lòng.

Gia đình chúng tôi, những người ở lại, đã đủ may mắn. Chúng tôi đã có nhiều thời gian chuẩn bị cho sự ra đi của ông. Ông qua đời sau một năm trời chiến đấu với căn bệnh ung thư, và ông ra đi với đức tin, sự bao dung cùng khiếu hài hước vẫn còn vẹn nguyên; ông cũng đã kịp để lại lời chúc phúc cho chúng tôi. Hơn thế nữa, ông ra đi mà không một chút oán hận, luôn biết ơn và chúc phúc cho cuộc đời. Có những cách chết tồi tệ hơn thế, và có những cách mất cha đau đớn hơn thế rất nhiều. Trong các giờ kinh gia đình, chúng tôi vẫn luôn cầu xin ơn chết lành. Vài tháng sau khi ông mất, khi thời tiết đã ấm áp hơn, tôi nhận ra rằng ông đã ra đi thực sự bình an và hạnh phúc.

Nhưng những lời hồi tưởng này vào Ngày của Cha, sau hơn năm mươi năm kể từ cái ngày lạnh giá năm ấy, không nhằm mục đích làm một bài điếu văn (điều mà ông hẳn sẽ thấy không thoải mái), cũng không phải một bài giảng về việc thế nào là một cái chết bình an. Nó được viết ra như một sự chiêm nghiệm về điều gì làm nên một người cha, một người bố, và cách chúng ta được kết nối, được định hình, và đôi khi là bị biến dạng bởi một hình bóng như vậy.

Cha là ai? Một người cha có nhiệm vụ gì, vượt lên trên việc đơn thuần là một người bạn đời sinh học đưa chúng ta đến với thế giới này? Sự chăm sóc hay bỏ bê, tình yêu thương hay sự thờ ơ của người cha ảnh hưởng đến chúng ta như thế nào?

Các trường phái tâm lý học và nhân học khác nhau chỉ ra rằng cha và mẹ có những vai trò rất khác nhau trong việc hình thành nhân cách của bạn. Người mẹ là mối liên kết cộng sinh của bạn với sự sống, và chính từ mẹ, chứ không phải từ cha, bạn nhận được cảm giác được yêu thương, được chở che, được ôm ấp và trân trọng. Trong số tất cả các loài động vật có vú, chính người mẹ liếm sạch đứa con mới chào đời, giải thoát nó khỏi bất cứ thứ gì bó buộc khi sinh ra. Người mẹ, sau khi sinh, mở ra cơ thể bạn để đón nhận sự sống. Chính mẹ là người mang nặng đẻ đau, rồi ôm ấp và nuôi dưỡng đứa trẻ. Không có một đứa trẻ hay người trưởng thành nào ở một mức độ nhận thức nào đó lại quên được điều này, và cảm giác chúng ta có được yêu thương hay không gắn liền rất nhiều với người mẹ.

Nhưng chính người cha mới là người cho đứa trẻ cả “sự cho phép” để tận hưởng cuộc sống lẫn “thử thách” để rèn luyện kỷ luật. Người cha phải là người làm gương cho đứa trẻ – đặc biệt là qua cách chính ông sống – về sự kết hợp đúng đắn giữa hưởng thụ và khước từ. Chính từ cha, nhiều hơn từ mẹ, đứa trẻ học được sự kết hợp giữa buông thả và kiểm soát, giữa việc phục tùng các rào cản và sự tự do để bước đi trên con đường của riêng mình.

Và nhiệm vụ này là then chốt trong việc đưa chúng ta bước vào thế giới trưởng thành, giúp dẫn dắt chúng ta vượt qua giai đoạn làm một cậu bé hay cô bé, để trở thành một người lớn, một người đàn ông hay một người phụ nữ. Một người cha phải làm điều này, trước hết, bằng cách cho chúng ta thấy trong chính cuộc đời ông cách mà năng lượng yêu thương và năng lượng đối đầu để bảo vệ hình thành một sự hòa hợp; để những năng lượng hỗn loạn bên trong chúng ta được kiềm chế, tập trung, hòa quyện và mở ra một cách sáng tạo để phụng sự Thiên Chúa và tha nhân. Người cha phải chỉ ra cách sự tận hưởng và tính sáng tạo hòa quyện với sự quên mình cần thiết, và cách năng lượng yêu thương cùng năng lượng chiến đấu để bảo vệ cộng đồng (đặc biệt là những thành viên yếu thế nhất) có thể đồng hành cùng nhau chứ không phải là kẻ thù của nhau. Một người cha phải dạy chúng ta cách để vừa là một người tình (biết yêu thương), vừa là một chiến binh (biết chiến đấu).

Cha của tôi, cũng bất toàn như mọi người cha là con người khác, không phải lúc nào cũng tìm thấy, hay tỏa ra được sự cân bằng hoàn hảo giữa tận hưởng và kỷ luật, giữa người tình và chiến binh, giữa vui thú và sự quên mình. Là một trong những người con trai của ông, tôi do đó cũng không phải lúc nào cũng biết cách đi trên sợi dây thừng căng thẳng đó, và đôi khi cuộc sống của tôi có sự hỗn độn giữa lười biếng và làm việc quá sức, giữa tình yêu và sự tức giận, giữa nuông chiều bản thân và sự hành xác. Đôi khi tôi có thể bảo vệ cộng đồng, nhưng đôi khi tôi thậm chí chẳng thể bảo vệ nổi chính mình.

Tuy nhiên, phần lớn thời gian tôi vẫn giữ được sự vững vàng của cha, vượt lên trên những chao đảo đó. Tôi đã có một người bố tốt. Ông đã vừa yêu thương, vừa chiến đấu, dù đôi khi ông quá khắt khe với bản thân và đôi khi ông hoàn toàn tận hưởng cuộc sống của mình.

Đã hơn năm mươi năm trôi qua kể từ ngày nhiệt độ âm 40 độ khi ông mất, và đôi khi tâm hồn tôi vẫn cảm thấy cái lạnh của ngày hôm đó; khi ấy, tôi lại biến thành một cậu bé, một người chưa trưởng thành, cô độc, chờ đợi cha dẫn dắt mình vào thế giới của người lớn, vẫn chưa chắc chắn về cách dung hòa giữa tận hưởng và kỷ luật.

Nhưng, khi tôi tìm kiếm cha mình, tìm kiếm linh hồn của ông, không phải giữa nắm xương tàn của tổ tiên, mà là trong sự thông công của các thánh, tôi thấy ông vẫn đang bước đi trên sợi dây thừng tinh tế mà ông đã đi trong đời. Và linh hồn ông đang dõi theo, chìa tay ra để giúp tôi trong cuộc chiến đấu giữa yêu thương và đối đầu, giữa tận hưởng và khước từ; và khi ấy, tôi cảm thấy mình vững vàng hơn một chút trong tư cách của một người trưởng thành.

Ngôn từ của chúng ta về vấn đề tự tử

A A A

Tôi nhìn chung luôn cố gắng nhạy bén trong việc sử dụng những ngôn từ chuẩn mực về mặt chính trị (politically correct language), mặc dù đôi khi điều đó có thể gây bực bội vì những phản ứng thái quá từ một số người quá dễ bị tổn thương. Nói một cách đơn giản, ai đó đều có thể chạnh lòng trước hầu như bất kỳ từ ngữ nào. Tuy nhiên, dẫu đôi lúc chúng ta có bực mình với những người quá nhạy cảm, chúng ta vẫn phải thừa nhận rằng trong quá khứ, chúng ta đã quá bất cẩn và nhẫn tâm khi gọi tên các sự vật, hiện tượng. Vốn từ vựng của chúng ta thường xuyên gây tổn thương cho chính những người đang đau khổ nhất. Chúng ta đã có quá nhiều thuật ngữ mang tính miệt thị và hạ thấp những người khác biệt với mình, hoặc những người phải chịu đựng các khuyết tật khác nhau.

Với tâm thế đó, tôi muốn đưa ra một gợi ý về cách chúng ta nói về việc tự tử. Cụm từ phổ biến mà người ta hay dùng là ai đó đã “phạm” tội tự tử. Động từ “phạm” (commit – thường dùng cho tội ác, sai lầm) này cần phải bị xóa bỏ khỏi từ vựng của chúng ta khi bàn về tự tử.

Rất ít người qua đời vì tự tử lại đi “phạm” tội tự tử. Nói một cách chính xác hơn, họ “bị khuất phục” trước nó, giống như cách một người gục ngã trước bệnh ung thư, một cơn đột quỵ hay một trận đau tim. Mười lăm năm trước, tôi được chẩn đoán mắc bệnh ung thư. Tôi không hề “phạm” phải bệnh ung thư; nó đã áp đảo hệ thống miễn dịch của tôi ngoài ý muốn của tôi. Đối với đột quỵ hay đau tim cũng vậy. Bạn không “phạm” phải một cơn đột quỵ hay đau tim. Chúng áp đảo sức đề kháng tự nhiên của bạn.

Về mặt thể chất, chúng ta có một hệ miễn dịch giống như lực lượng cảnh sát tuần tra, liên tục canh giữ sức khỏe của ta, tìm kiếm vi khuẩn, virus cùng các tế bào ác tính để tiêu diệt chúng trước khi chúng kịp bén rễ, nhân lên, tàn phá sức khỏe và gây ra cái chết. Nhưng như chúng ta đã biết, đôi khi vì đủ loại lý do, một khối u ác tính có thể áp đảo hệ miễn dịch, khiến sức khỏe của chúng ta suy sụp và chúng ta qua đời vì hàng rào bảo vệ tự nhiên chống lại bệnh tật đã bị khuất phục bởi vi khuẩn, virus, sự suy kiệt của một cơ quan nội tạng quan trọng, hoặc một vài tế bào ung thư. Chúng ta chết không phải do lựa chọn, mà do bị số phận cưỡng bách. Chúng ta không “phạm” phải một căn bệnh.

Điều tương tự cũng hoàn toàn đúng đối với sức khỏe tinh thần. Về mặt tâm lý, chúng ta cũng có một hệ miễn dịch tinh thần giống như cảnh sát tuần tra, canh giữ sức khỏe tâm lý và cảm xúc của mình. Nhưng, cũng giống như sức khỏe thể chất, đôi khi một yếu tố hoặc sự kết hợp của nhiều yếu tố (di truyền, tổn thương tâm lý, trầm cảm lâm sàng, hoàn cảnh sống bi kịch) có thể áp đảo hệ miễn dịch tâm lý và cảm xúc đó, khiến chúng ta phải đầu hàng trước một căn bệnh (ập đến ngoài ý muốn và không hề được chào đón) mang tên: tự tử.

Tôi mạo muội cho rằng điều này đúng với hầu hết những người qua đời vì tự tử. Tất nhiên vẫn có những ngoại lệ, dù đó chỉ là ngoại lệ chứ không phải lẽ thường. Một người thực sự có thể “phạm” tội tự tử khi họ không phải đang đầu hàng trong yếu đuối trước một căn bệnh, mà là đang dùng chút sức tàn để đưa ra một lựa chọn chủ động. Do đó, chúng ta có thể đưa ra một sự phân biệt giữa cái gọi là “tự sát” (giết chết chính mình) với “đầu hàng trước sự tự tử”.

Một người có thể tự kết liễu đời mình vì sự mạnh mẽ, kiêu ngạo và ngạo mạn: Tôi quá kiêu hãnh và đặc biệt để có thể chia sẻ cuộc sống này với những kẻ còn lại các người! Cuộc đời đã không tôn trọng sự đặc biệt của tôi. Tôi thà chết còn hơn tiếp tục sống trong thế giới này! Đó là sự khác biệt giữa cái chết tự tử kiểu Hitler với cái chết của một linh hồn quá đỗi nhạy cảm, người đã quá bầm dập và tổn thương đến mức không thể tiếp tục chiến đấu cho sự sống được nữa. Kẻ trước chọn tự tử vì sự ngạo nghễ; người sau chết vì sự yếu nhược. (Mặc dù, để công bằng, chúng ta thậm chí còn không thể phán xét Hitler. Ai biết được những mầm bệnh ác tính nào đã áp đảo hệ miễn dịch tinh thần của ông ta?)

Nói như vậy để thấy, xin cho phép tôi được nhắc lại một số sự thật cốt lõi đối với vấn đề tự tử – những điều cần phải được nói đi, nói lại và nói lại một lần nữa, cho đến khi chúng ta không cần phải nói về chúng nữa.

Trong hầu hết các trường hợp tự tử:

Chúng ta đang đối diện với một con người rất nhạy cảm hoặc bị tổn thương sâu sắc, một người đã quá đau đớn đến mức không thể chạm vào, hoặc quá kiệt quệ để có thể phản hồi lại bất kỳ sự giang tay giúp đỡ nào của chúng ta.

Người chết vì tự tử ra đi trái với ý muốn của chính họ.

Cách họ chết cũng giống như việc một người phải lao mình ra khỏi cửa sổ của một tòa nhà cao tầng vì quần áo trên người họ đang bốc cháy.

Cách họ chết tương đương với một căn bệnh ung thư cảm xúc, một cơn đột quỵ hoặc một trận đau tim tinh thần.

Trong nhiều trường hợp, chứng trầm cảm dẫn đến tự tử có nguồn gốc từ các yếu tố sinh hóa.

Tự tử không phải là một hành động tuyệt vọng. Người ta không chủ động lựa chọn từ bỏ hy vọng, mà chính tổn thương và bệnh tật đã bóp nghẹt hy vọng của họ.

Tự tử không phải là một hành động ích kỷ, dù vẻ ngoài của nó có vẻ như vậy.

Chúng ta không cần phải lo lắng về sự cứu rỗi linh hồn vĩnh cửu của những người chết vì tự tử. Sự thấu cảm và bao dung của Thiên Chúa sâu sắc hơn chúng ta tưởng tượng vô cùng tận.

Khi những người chúng ta biết và yêu thương qua đời vì tự tử, một trong những nhiệm vụ của chúng ta là cứu rỗi ký ức về họ, để món quà mà cuộc đời họ mang lại cho thế giới không bị bôi nhọ và xóa nhòa chỉ vì giờ đây chúng ta nhìn nhận toàn bộ cuộc sống của họ qua lăng kính của cách mà họ đã ra đi.

Qua đời vì một trận đau tim, vì ung thư hay đột quỵ có thể là điều đau buồn và bi thảm, nhưng không có gì là tủi hổ. Chết vì tự tử cũng vậy. Đó là điều đau buồn và bi thảm, nhưng không hề đáng xấu hổ. Thậm chí, đó có thể là cái chết âm thầm, khiêm nhường và ít hào nhoáng nhất trong số mọi cái chết, và vì thế, nó xứng đáng nhận được một sự thấu cảm và thấu hiểu đặc biệt.

Khi nói về tự tử, vốn từ vựng của chúng ta cần phải phản ánh được sự thấu cảm đặc biệt đó, và để làm được điều đó, chúng ta cần phải loại bỏ cụm từ: “ai đó phạm tội tự tử”.