RonRolheiser,OMI

Hài nhi của Năm

A A A

Giáng Sinh 2017

Năm nào tờ Time cũng có giải thưởng “Nhân vật của Năm”. Giải thưởng này không nhất thiết là sự vinh danh, nó được trao cho một người mà Time xem là nhân vật thu hút tin tức trong năm, dù là chuyện tốt hay xấu. Chẳng hạn như năm nay, thay vì chọn một cá nhân, Time lại chọn một nhóm người, Silence Breaker, những phụ nữ đã lên tiếng về những lần bị xâm phạm tình dục.

Một phần thách thức trong mùa Giáng Sinh là nhận ra Chúa Kitô sinh ra ở đâu trong thế giới ngày nay, là hai ngàn năm sau khi Chúa Giêsu hạ sinh chúng ta có thể tìm đâu để thăm lại hang đá Bethlehem, nhìn hài nhi vừa hạ sinh, và rung động trước uy quyền của sự ngây thơ và bất lực từ trời cao.

Mùa Giáng Sinh năm nay, tôi mong chúng ta tôn vinh những trẻ em tị nạn là “Hài Nhi của Năm.” Các em đưa chúng ta đến gần hang đá Bethlehem trong thế giới ngày nay, vì như Chúa Giêsu cách đây hai ngàn năm, các em cũng chẳng tìm được chỗ trong nhà trọ đàng hoàng.

Chúa Giêsu ra đời và chịu chết trong một nghịch lý. Ngài đến như lời đáp của Thiên Chúa cho khao khát thâm sâu nhất của chúng ta, thế mà lại sinh ra và chết đi như một kẻ ngoài cuộc. Hãy để ý mà xem, Chúa Giêsu sinh ra ở ngoại vi thành phố và cũng chết ở ngoại vi thành phố. Đây không phải chuyện tình cờ. Ngài không phải là một đứa trẻ “được chờ đợi” và cũng không “được chấp nhận.” Đức Mẹ với trái tim sốt mến thuần khiết mong chờ Ngài, nhưng thế giới thì không, ít nhất là ở khía cạnh hình hài một đứa bé vô lực. Ngài không đến trần gian như một siêu sao, một người quyền thế khiến mọi gối phải bái quỳ, Ngài không đến như một Đấng Thiên sai trong tưởng tượng của chúng ta, một Đấng mà mọi cửa nhà đều rộng mở chờ đón, không phải chỉ lúc Ngài sinh mà trong suốt cả cuộc đời của Ngài.

Nhưng Chúa Kitô không phải là Đấng Thiên sai theo kiểu chúng ta kỳ vọng. Ngài đến như một hài nhi sơ sinh, vô lực, vô danh, không có địa vị, không được mời gọi, không được chào đón. Và Thomas Merton đã mô tả việc hạ sinh của Chúa Kitô như thế này: Trong thế giới này, cái nhà trọ điên cuồng, nơi chẳng có phòng nào để sẵn cho Ngài, Chúa Kitô đã đến dù không được chào đón. Nhưng đó là bởi Ngài không thể ở trong một ngôi nhà, Ngài ở ngoài ngôi nhà dù đáng ra Ngài phải được ở trong nhà, nơi Ngài chọn lấy là ở cùng với những người không nhà.

Không có phòng cho ngài trong quán trọ! Các học giả kinh thánh cho chúng ta biết rằng những bài giảng và hình dung về những chủ quán trọ lạnh lùng nhẫn tâm đã xua đuổi Đức Mẹ và thánh Giuse, thật ra đã bỏ sót điểm nhấn của câu chuyện Giáng Sinh. Điểm nhấn mà Tin mừng muốn chỉ ra không phải là những chủ quán trọ ác độc nhẫn tâm và đôi vợ chồng nghèo từ Nazareth bị đối xử bất công. “Không có chỗ trong nhà trọ” đúng ra muốn nói đến một điểm lớn hơn nữa, mà Thomas Merton đã nêu bật rằng, không bao giờ có chỗ trong thế giới này cho Chúa Kitô đích thực, Đấng không tương hợp với những kỳ vọng và tưởng tượng của chúng ta. Chúa Kitô đích thực thường khiến tưởng tượng của ta choáng váng và xô đổ mọi kỳ vọng của chúng ta, Ngài đến mà không được chào đón, Ngài luôn ở đây, nhưng luôn ở ngoài rìa, bị những thứ chúng ta hình dung loại trừ và đuổi ra khỏi cửa. Chúa Kitô đích thực luôn mãi tìm một mái nhà trong thế giới, mà nơi đó lại không có chỗ cho Ngài.

Vậy ngày nay ai giống hình ảnh Chúa Kitô nhất? Tôi cho rằng đó chính là: Hàng triệu trẻ em tị nạn. Có thể thấy rõ Chúa Kitô Hài đồng trong vô số trẻ em tị nạn, cùng với gia đình mình, bị đuổi khỏi nhà vì chiến tranh, bạo lực, nạn đói, thanh trừng sắc tộc, kỳ thị và bách hại tôn giáo. Các em, cùng với gia đình mình, là hình ảnh giống nhất với tình cảnh của Đức Mẹ và thánh Giuse, những người chật vật tìm chỗ trú chân, những người bị đẩy ra ngoài rìa, bất lực, không được chào đón, không một mái nhà, không ai mời vào, và bị xem là những người xa lạ. Nhưng họ chính là hình ảnh của Thánh Gia ngày nay, và các trẻ em tị nạn là Chúa Kitô Hài đồng của chúng ta trong thế giới này.

Hang đá Bethlehem ngày nay ở đâu? Ta tìm Chúa Kitô Hài đồng ở đâu để tôn kính? Ở nhiều nơi lắm, có thể là trong mọi phòng sinh trên khắp thế giới, nhưng rõ ràng hơn là những trại tị nạn, trên những chiếc thuyền lênh đênh vượt Địa Trung hải, trong những đoàn người đi tị nạn trong đói khát và hiểm nguy, nơi hàng dài những đứng chờ thủ tục với mong mỏi được cho phép nhập cảnh tị nạn, nơi những người đến được đường biên giới rồi lại bị đuổi về, nơi những bà mẹ trong các nhà tù ôm con mình và hy vọng, và nhất là nơi gương mặt của vô số trẻ em tị nạn.

Gương mặt của Thiên Chúa trong mùa Giáng Sinh hiển hiện nơi sự vô lực của trẻ em, hơn là nơi những người quyền thế trong thế giới. Và ngày nay cũng vậy, nếu muốn làm như những mục đồng và ba nhà hiền triết, tìm đường đến hang đá Bethlehem, chúng ta cần phải tìm kiếm nơi có những trẻ em đang tuyệt vọng nhất.

Thiên Chúa đâu phải để sợ hãi

A A A

Tại sao chúng ta không giảng về lửa hỏa ngục nữa? Đây là một câu thường dấy lên nơi nhiều người mộ đạo chân thành lo lắng rằng quá nhiều nhà thờ và linh mục đã quá dễ dãi với tội lỗi, quá phóng đại khi nói về lòng thương xót của Thiên Chúa. Có một niềm tin rằng nếu chúng ta rao giảng sự thật trần trụi về tội trọng, về cơn thịnh nộ của Thiên Chúa, và mối nguy rơi vào hỏa ngục, thì người ta sẽ đến nhà thờ nhiều hơn và giữ các giới răn hơn, nhất là giới răn thứ sáu. Sự thật sẽ giải thoát anh em, những người này lập luận như vậy, và sự thật đó là có những tội trọng và hậu quả đời đời cho tội lỗi. Cửa thiên đàng thì hẹp mà cửa hỏa ngục thì mở toang.

Vậy tại sao chúng ta lại không còn giảng nhiều về mối nguy hỏa ngục?

Và đâu là lý lẽ trong lập luận rằng giảng nhiều về tội trọng và hỏa ngục đem lại hiệu quả? Đe dọa thì có hiệu quả. Tôi lớn lên với kiểu rao giảng này và phải thừa nhận nó có tác động trên hành xử của tôi. Nhưng tác động đó có cả tốt lẫn xấu. Về mặt tích cực, nó khiến tôi sợ đủ để không bao giờ đi quá xa về mặt đạo đức và lòng đạo. Mặt tiêu cực là, nó cũng khiến tôi bị khập khiễng về lòng đạo và cả cảm xúc, bị méo mó rất nhiều. Nói đơn giản là, thật khó để làm bạn thân thiết với một Thiên Chúa cứ đe dọa bạn, và cũng không tốt về mặt đạo cũng như cảm xúc khi chúng ta quá rụt rè và e ngại những sinh lực lớn lao trong đời.

Sợ hình phạt đời đời có thể là một động lực hiệu quả. Nhưng tại sao lại không nên giảng về nỗi sợ? Bởi nó sai lầm, đơn giản là thế. Tẩy não và đe dọa là những thứ có hiệu quả, nhưng nỗi sợ không phải là động lực phù hợp để yêu thương. Bạn không yêu vì sợ hay bị đe dọa. Bạn yêu bởi bạn thấy mình được tình yêu dẫn lối.

Quan trọng hơn nữa, giảng về mối đe dọa đời đời là bôi nhọ Thiên Chúa mà chúng ta tin. Thiên Chúa hiện thân nơi Chúa Giêsu không phải là một Thiên Chúa đẩy những người chân thành và thiện tâm vào hỏa ngục dựa trên danh sách chi li những sai lầm đạo đức và nhân văn. Vậy mà thỉnh thoảng, trong các nhà thờ Công giáo tôi vẫn nghe thấy những lời như: Nếu bỏ lễ ngày Chúa nhật, thì đó là tội trọng và nếu chết khi chưa xưng tội thì anh chị em sẽ vào hỏa ngục.

Có Chúa nào lại đặt ra một niềm tin như thế này? Có Chúa nào lại không cho những người chân thành một cơ hội thứ hai, cơ hội thứ ba, hay thậm chí là cơ hội bảy mươi lần bảy, nếu họ vẫn còn thành tâm? Có Chúa nào lại nói với một người trong hỏa ngục rằng: “Xin lỗi, nhưng luật là thế rồi! Có hối hận cũng đã muộn. Cơ hội chỉ đến một lần!”

Một thần học lành mạnh về Thiên Chúa đòi hỏi chúng ta phải thôi dạy rằng hỏa ngục là một bất ngờ đau khổ đang chờ chực những người có tâm thiện. Thiên Chúa mà chúng ta tin là thông hiểu vô hạn, cảm thương vô hạn và tha thứ vô hạn. Tình yêu của Thiên Chúa vượt xa tình yêu của chúng ta, và có thể thấy ra sự thiện trong tâm hồn con người dù cho nó yếu đuối và méo mó.

Chúng ta không có gì phải sợ hãi về Thiên Chúa cả. Hay là phải sợ hãi thật? Chẳng phải Kinh thánh nói rằng “kính sợ Thiên Chúa là khởi đầu của khôn ngoan” sao? Thế thì sao lại nói là không nên sợ Thiên Chúa?

Bởi vì sợ có nhiều loại, có loại lành mạnh, loại khác thì không. Khi Kinh thánh nói rằng “kính sợ Thiên Chúa là khởi đầu của khôn ngoan” thì nỗi sợ đó không phải là sợ vì bị đe dọa hay sợ bị trừng phạt. Nỗi sợ đó không phải kiểu sợ khi chúng ta gặp một bạo chúa hay một kẻ thích hành hạ bắt nạt. Mà đây là nỗi sợ lành mạnh xuất phát từ yêu thương. Đây là nỗi sợ tôn kính, là khi chúng ta yêu ai đó chân thành đến nỗi sợ mình sẽ trở nên ích kỷ, thô lỗ và thiếu tôn trọng mối quan hệ đó. Chúng ta sợ mình phá hoại sự thân thiết thiêng liêng đó. Có thể nói, chúng ta thấy mình đứng nơi thánh địa và thấy cần phải tháo giày ra trước khi bước vào.

Kinh thánh cũng cho chúng ta biết rằng khi Thiên Chúa xuất hiện trong đời chúng ta, thường thì lời đầu tiên của Ngài là: “Đừng sợ!” Bởi Thiên Chúa không phải là bạo chúa xét đoán nhưng là người yêu thương, và đầy niềm vui. Như Leon Bloy đã nhắc nhở chúng ta, niềm vui là dấu chỉ không thể sai lầm về sự hiện diện của Thiên Chúa.

Một chàng thanh niên theo trào lưu chính thống cực đoan từng hỏi nhà tâm lý học lừng danh, Fritz Perls rằng: “Ông đã được cứu rỗi (saved, cũng đồng nghĩa với tiết kiệm)?” Ông trả lời: “Tiết kiệm? Không đâu! Tôi còn đang tìm cách để tiêu xài mà!”

Chúng ta tôn trọng Thiên Chúa không phải bằng cách sống sợ sệt lo rằng mình sẽ xúc phạm ngài, nhưng là bằng cách dùng lấy sinh lực mà Ngài ban cho chúng ta để làm cuộc đời nở hoa. Thiên Chúa không phải luật lệ để ta phải giữ, nhưng là sinh lực vui mừng để chúng ta “tiêu xài” rộng rãi.

Bi kịch thật sự của Tội lỗi

A A A

Bi kịch thực sự của tội lỗi là: thường người chịu hậu quả của tội lỗi đó cuối cùng lại trở nên người gây ra tội lỗi, bắt người khác chịu những gì đã từng giáng xuống trên mình. Trong chúng ta có một khuynh hướng tai ác, là khi bị tác hại chúng ta thường nắm lấy tội lỗi đó, hoàn tất nó với những thứ xấu xa của nó, rồi lại đấu tranh để không hành động như thế nữa. Chiến thắng tột cùng của tội lỗi là khi người bị hại trở nên người gây tội.

Chúng ta thấy điều này trong tác động của các nghi thức mang tính hành hạ kiểu bắt nạt. Từ các đội bóng trung học, cho đến các nhóm đại học, và một số trường quân bị, các nghi thức hành hạ này được dùng như một dạng nhập môn vậy. Điều thú vị là những người đã trải qua chuyện đó thường háo hức đến lượt mình được làm chuyện đó với người khác. Trải qua một chuyện hành hạ đã gợi lên tính hành hạ trong họ.

Một số trường phái tâm lý học đã xác nhận rằng mọi kẻ tấn công đều đã bị tấn công trước. Đúng là gần như thế. Kẻ bắt nạt đã từng bị bắt nạt, và kẻ ngoài cuộc chua cay là người từng bị loại trừ bất công. Vậy điều gì tạo nên một kẻ ngoài cuộc? Điều gì tạo nên người thích bắt nạt? Và điều gì tạo nên một kẻ giết người hàng loạt? Phải có gì đó xảy ra trong lòng một người lạnh lùng mặc vào bộ đồ lính, cầm súng, và xả vào các học sinh vô tội chứ?

Chắc chắn một trong những yếu tố gây nên chuyện này là bệnh tâm thần, nhưng còn các yếu tố khác nữa, những yếu tố mà chúng ta không đủ can đảm để đối diện. Phán xét bộc phát của chúng ta với thủ phạm xả súng hay đánh bom khủng bố, chỉ là thể hiện chính tội lỗi đó: “Mong cho hắn chết khô trong hỏa ngục.” Phản ứng này sai ở chỗ nó không hiểu được rằng người đó đã phải chịu đau khổ trong hỏa ngục của riêng mình và hành động kinh khủng của họ là một nỗ lực thoát ra hỏa ngục hay có thể là kéo thêm nhiều người vào chung chỗ với mình. Điều mà hầu hết những người gây ra bạo lực mong muốn, là hủy hoại thiên đàng của những người khác bởi họ đã bị tước mất thiên đàng của mình một cách bất công rồi. Tất nhiên không phải lúc nào điều này cũng đúng, bởi còn có chứng tâm thần và mầu nhiệm ý chí tự do của con người nữa, nhưng cũng đủ để chúng ta phải nghĩ lại và hiểu rõ hơn về lý do tại sao có những người mang tâm hồn cay đắng trong khi lại có những người mang trái tim yêu thương. Điều gì tạo nên tâm hồn con người? Điều gì khiến nó cay đắng hay nhân từ?

Tội lỗi và phúc lành định hình tâm hồn con người, một cái làm cho méo mó và một cái thì chữa lành. Tội lỗi, của chúng ta hay của người khác, là làm tổn thương tha nhân và che chắn cho chúng ta khỏi những chứng bệnh bên trong mình, bởi phạm tội là chúng ta gây bệnh cho người khác. Còn phúc lành thì ngược lại. Nó làm dịu chứng bệnh đang tác hại bất công lên họ, giúp biến cay đắng thành nhân từ, và chữa tận gốc những vết thương của họ.

Và chúng ta cần ngưng xếp loại, người ta là “kẻ thành công”, “kẻ thất bại” như thể chỉ có mình họ chịu trách nhiệm cho thành công hay thất bại của mình vậy. Không phải như thế. Tôi cho rằng những người từ tâm như Mẹ Têrêxa, không mấy người bị xâm hại đau khổ khi còn nhỏ. Những người như thánh Phanxicô, không mấy người bị giễu cợt, bị bắt nạt trên Facebook, bị xấu hổ vì ngoại hình của mình. Theo nhạc sĩ Leonard Cohen, ác độc và từ tâm, đều đến từ những gì chúng ta đã nhận lãnh. Rồi chúng ghi dấu trong tâm thần và cả trong cơ thể chúng ta. Cách chúng ta thể hiện mình, điệu bộ cơ thể, cách chúng ta biểu lộ tâm linh, tự tin hay hổ thẹn, quảng đại hay nhỏ nhen, yêu thương hay chạy trốn tình yêu, những phúc lành hay nguyền rủa, hệ tại rất nhiều ở việc bản thân chúng ta đã được chúc lành hay bị nguyền rủa khi chúng ta không đáng được chúc lành hay bị nguyền rủa.

Nhưng tôi thú thật, mầu nhiệm ý chí tự do của con người vẫn là một đám mây che mờ chuyện này. Có những người từng bị ngược đãi lúc nhỏ, nhưng vẫn trở thành một Mẹ Têrêxa, có những người bị bắt nạt nhưng vẫn trở thành một thánh Phanxicô chữa lành cho hàng triệu tâm hồn, biến những hành động tội lỗi giáng lên họ thành một phúc lành mạnh mẽ. Đáng buồn thay, đấy chỉ là những ngoại lệ, và cũng chính vì thế mà đó chính là thành tựu vĩ đại của họ.

Và cái hậu họa của tội lỗi này khiến chúng ta phải đối diện với nhiều thách thức: Thứ nhất, chúng ta không được để cảm xúc chi phối khi đưa ra những phán xét “cho nó chết trong hỏa ngục cho rồi.” Thứ hai, chúng ta phải bớt kiêu ngạo và xem thường những người mà chúng ta gọi là “kẻ thất bại.” Nữa là, chúng ta phải học được rằng thách thức nhân bản và tâm linh tối cùng chính là không để những gì chúng ta phải chịu đựng biến chúng ta thành con người cay đắng và muốn gây đau khổ đó trên người khác. Cuối cùng, nhưng không kém quan trọng, khi hiểu rằng cuộc đời của chúng ta có quá nhiều thứ chúng ta không xứng đáng nhận được, thì chúng ta cần tri ân Thiên Chúa và biết ơn mọi người, vì những tình cảm và nâng đỡ mà chúng ta đã nhận được dù không xứng đáng.