Phần đông chúng ta được giáo dục để tin rằng mình có quyền sở hữu bất cứ gì làm ra một cách lương thiện, bằng lao động của chính mình hay bằng việc thừa kế hợp pháp. Cho dù tài sản đó có lớn đến đâu, nó vẫn là của chúng ta nếu chúng ta không kiếm được bằng con đường gian dối. Vẫn là vậy và với một mức độ rộng lớn, niềm tin này được đưa vào bộ luật của các nước dân chủ và chung chung chúng ta tin tưởng về mặt luân lý nó được Kitô giáo phê chuẩn

Trên một khía cạnh, nó hoàn toàn đúng, nhưng cần phải xem xét lại nhiều. Từ Kinh Thánh, qua những lời Chúa Giêsu, qua giáo huấn xã hội của Giáo Hội, qua các thông điệp Giáo Hoàng từ đức Lê-ô XIII đến đức Gioan Phao-lô II, thì vấn đề quyền tư hữu và và tài sản tư đã được giảm nhẹ qua một số nguyên tắc luân lý. Tôi xin liệt kê một số nguyên tắc này (những gì được nhấn mạnh của Thường Huấn trong Giáo Hội Công Giáo La Mã và trong hàng giáo sĩ tương đương của hầu hết Giáo Hội Tin Lành). Về phía Giáo Hội Công Giáo, tôi sẽ trình bày một số điểm chính trong các văn kiện giáo hội:

Thiên Chúa lo toan cho quả đất và tất cả mọi sự nhằm mưu lợi ích cho toàn thể con người. Cho nên, trong sự công bình, mọi tạo vật tốt đẹp phải được lưu chuyển cân xứng cho tất cả mọi người. Tất cả mọi quyền đều dựa trên nguyên tắc này. (Gaudium et Spes 69, Vui mừng và Hi vọng 69, Popularum Progressio Phát triển các Dân tộc 22) Chúng ta có quyền tư hữu và không bao giờ có ai khước từ quyền đó của chúng ta (Rerum Novarum Tân sự 3-5, 14, Quadregesima Anno Năm thứ bốn mươi 44-56, Mater et Magistra Mẹ và Thầy109) nhưng quyền đó phải phụ thuộc vào tài sản chung, vào sự kiện rằng của cải được dự liệu cho hết thảy mọi người. (Laborem Exercens Thực hành lao động14) Của cải và sở hữu phải được hiểu theo cách rằng chúng ta được giao phó để quản lý chứ không phải để sở hữu hoàn toàn. (Rerum Novarum Tân sự 18-19)

Không một ai (hay quốc gia nào) có thể có thặng dư nếu người khác không có được nhu yếu căn bản. (Rerum Novarum Tân sự 19, Quadregesimo Anno Năm thứ bốn mươi 50-51, Mater et Magistra Mẹ và Thầy 119-121 & 157-165, Popularum Progressio Phát triển các Dân tộc 230). Cho nên, không ai độc chiếm thặng dư để sử dụng cho riêng mình khi có người còn thiếu các nhu yếu của cuộc sống. (Popularum Progressio Phát triển các Dân tộc 23) Người dân bắt buộc phải nâng đỡ người nghèo quanh mình và nếu một có người lâm vào cảnh cùng quẫn cực độ, anh ta có quyền lấy từ những người giàu điều gì nhu yếu cho anh. (Gaudium et Spes Vui mừng và Hi vọng 69)

Nền kinh tế hiện hành trên thế giới cần được điều phối lại. (Popularum Progressio Phát triển các dân tộc 6,26,32, Gaudium et Spes Vui mừng và Hy vọng 66, Octogesimus Adveniens Tám mươi năm 43, Sollectitudo Rei Socialis Mối quan tâm xã hội 43) Cho nên quy luật cung cầu, kinh tế tự do, cạnh tranh, luân chuyển lợi nhuận và tư hữu phương tiện sản xuất không thể để tự do hoàn toàn được. Chúng không phải là quyền vô hạn, chúng chỉ trở nên tốt khi được giới hạn rõ ràng. (Popularum Progressio Phát triển các dân tộc 26, Quadragesimo Anno Năm thứ bốn mươi 88, 110)

Xét đến sự tư hữu sản xuất và phương tiện sản xuất, có hai thái cực cần phải tránh: Chủ nghĩa tư bản không cương tỏa và chủ nghĩa xã hội hoàn toàn. (Quadregesimo Anno Năm thứ bốn mươi 46, 55, 111-126)

Chính phủ nên tôn trọng nguyên tắc phân quyền và chỉ can thiệp khi cần thiết. (Rerum Novarum 28-29, Quadragesimo Anno 79-80, Mater et Magistra 117-152) Tuy nhiên khi vì điều tốt cho toàn thể thì chính phủ không chỉ bắt tay vào mà còn bị bắt buộc phải làm.  (Popularum Progressio 24, 33, Mater et Magistra 53, Gaudium et Spes 71) Hơn nữa, chắc hẳn một số loại của cải nên được ở trong tay chính phủ vì chúng mang đến cơ hội cho một sự thống trị quá lớn và không nên để cho một cá nhân nắm giữ chúng. (Quadragesimo Anno Năm thứ bốn mươi 114, Mater et Magistra Mẹ và thầy 116)

Chính phủ cũng không bao giờ nên hy sinh cá nhân cho tập thể, vì cá nhân là khởi đi của xã hội dân sự và chính xã hội này phải hướng trực tiếp đến con người đó. (Mater et Magistra Mẹ và thầy 109, Quadragesimo Anno Năm thứ bốn mươi 26)

Chủ nhân phải trả lương ở mức có thể mang lại cho người lao động một cuộc sống “hợp lý và tương đối đầy đủ” (Rerum Novarum Tân sự 34) và lương không đơn giản là những gì hợp đồng mà người lao động đã ký. Ngược lại, người lao động không được đòi hỏi sản phẩm và lợi nhuận này được giữ lại, không tái đầu tư theo luật của nó (Quadragesimo Anno Năm thứ bốn mươi 55, 114) và họ phải thương lượng mức lương theo lợi ích chung. (Quadragesimo Anno Năm thứ bốn mươi 119, Mater et Magistra Mẹ và thầy 112) Cũng vậy trong trường hợp chủ nhân, không phải chỉ có vấn đề hợp đồng là vấn đề cần được quan tâm.

Cả người lao động lẫn chủ nhân đều có trách nhiệm ngang nhau về lợi ích chung. (Laborem Exercens Thực hành lao động 20)

Và việc lên án sự bất công là một phần của sứ vụ phúc âm hóa và cũng là một khía cạnh nhất tính trong vai trò ngôn sứ của Giáo Hội. (Sollectitudo Rei Socialis Mối quan tâm xã hội 42)

Lịch sử Giáo Hội đã có các nguyên tắc trong việc giáo huấn này. Sự thất bại của chũ nghĩa Mác ở Đông Âu đã khắc họa đậm nét và chính xác rằng sự cố gắng xây dựng một nền công bằng cho hết thảy mọi người mà không dựa trên sự phân tích thỏa đáng về lợi ích và tài sản tư (không kể Thiên Chúa và tình yêu) sẽ không đem lại thịnh vượng và công bằng, và cũng như cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay cũng tô đậm sự thực rằng vòng luân chuyển vốn không kìm hãm và không điều chỉnh cũng sẽ mang lại kết cục như thế. Giữa hai điều đó có một phương cách trung dung, và những giáo huấn xã hội của Giáo Hội chính là bản đồ cho con đường ấy.